|
Anh Sương Mù, ông “phổi ḅ” hay “ông làm hết bổn phận” (tiếp theo kỳ trước :Cựu Trung tá
Phan Văn Sương
Trung tá Phan Văn Sướng và Trưởng Nam Phan Văn Song Cha tôi, cấp bậc cuối cùng khi mất nước là Trung tá. Trung tá Phan Văn Sương ngày 15 tháng 6 năm 1975, đi tŕnh diện học tập đă xác nhận với cán bộ Cộng sản ông là Sĩ quan Hiện Dịch cấp tá. Nhưng khi họ đuổi ông về v́ bảo ông Mù là phế binh th́ ông trả lời: “Tôi là Sĩ quan Hiện dịch và c̣n tại ngũ”. Khi cán bộ bực ḿnh nói với ông “Ông tại ngũ là cái quái ǵ, ở đây chỉ nhận các thủ trưởng”, th́ ông trả lời: “Tôi là Thủ trưởng, tôi Thủ trưởng Trường Mù” Thế là ông đi học tập theo diện Sĩ quan cấp Tá thủ trưởng, chứ không học tập tại chỗ như một giáo chức. Những việc trên do em tôi Phan Văn Diệu khi dắt ông đi, về kể lại. Diệu, Thiếu úy Cảnh sát Công lộ, cũng đi học tập, và Phan Văn Toàn em kế tôi, tù binh cũng học tập. Ba tôi bị giam ở Long Thành. Sau này, các bạn gặp ông, kể chuyện lại với tôi là khi ở Long Thành, thường gặp ông cơng hoặc dắt ông Đại tá Thành cụt một gị đi vệ sinh. H́nh ảnh Anh Mù cơng Anh Què được Anh em Quân Cán Chánh học tập ở Long Thành về kể cho tôi nghe. H́nh ảnh thật khó quên. Tôi làm sao quên được ông cụ “phổi ḅ”, ba của chúng tôi. “Phổi ḅ” đó là định nghĩa của mẹ tôi nói về cha tôi. “Ba tụi bây lúc nào cũng phổi ḅ, để rồi tao khổ!”. Bà già thốt ra câu nầy lần cuối cùng, sau khi cả nhà họp lại “tổ chức” cho ông và Diệu khăn gói lên đường “tŕnh diện học tập”. Toàn th́ đă tù binh rồi. Sau một hồi thảo luận, ông già quyết định đi học tập, như những anh em khác. Ông từ chối học tập tại chỗ.
Nhưng câu nói đó được bà nói
một cách triều mến, với giọng miền Nam. Giọng dễ thương, (bả chỉ dùng giọng
Huế để moral tụi con – v́ vậy tôi ngán các cô Huế lắm!), bà nói một cách
hănh diện, v́ bà hănh diện được “khổ” v́ “ổng”:
Tôi xin thuật lại. Ngày giáp Tết năm Ất Mùi (1955), tại Rạch Cái Cái, Đồng Tháp Mười (cạnh Hồng Ngự). Trung Đoàn 40 đă vây được quân của quân đội Ḥa Hảo do Tướng Ba Cụt cầm đầu. Tiểu Đoàn 1 do Đại úy Phan Văn Sương chỉ huy đi mở đường, gặp một băi ḿn trước một cái cầu. Trời đă về chiều, phải dọn băi để đóng quân. Băi ḿn trước mặt là một nguy hiểm và là một mối lo. Trung đoàn 40 là một Trung đoàn rất kém tài, v́ rất ô hợp và thiếu kinh nghiệm tác chiến: Trung đoàn Khinh quân 40 và 41 được tạo thành bởi hai Tiểu đoàn Ngự Lâm Quân của Quốc trưởng Bảo Đại đầu hàng vị Tổng Thống mới Ngô Đ́nh Diệm sát nhập chung với hai Tiểu đoàn Sơn cước (các đơn vị thượng vẫn c̣n dùng các khẩu lệnh bằng tiếng Pháp) vừa về nhập với quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 40 là Thiếu tá Giá, một Thiếu tá Ngự Lâm Quân. Đại úy Sương, gốc Sơn cước chỉ huy Tiểu đoàn 1/40. Gốc Sơn cước! Phải những dân tộc Rha đê hay Gia Rai, thiện chiến ở rừng, đi rừng rất giỏi, nh́n một vết trên lá biết là do súc vật hay người để lại, hoàn toàn bối rối khi phải lội ruộng ở Đồng Tháp Mười. C̣n các binh sĩ Ngư Lâm Quân to con, lớn xác, đẹp người, lập giàn chào rất đẹp, đi ordre serré rất nhuyễn, hoàn toàn vô dụng khi phải đụng trận, nằm phục kích hay dọn băi ḿn. Nhóm lính công binh gỡ ḿn và những binh sĩ có tư tài tác chiến nay đă, hoặc bị thương, hoặc bị sốt rét (các binh sĩ Thượng không bị rét rừng do vắt cắn, nay lại bị ngă nước v́ muỗi ở đồng bằng). Tổng Thống Diệm, v́ nghi kỵ nhóm Bảo hoàng hay nhóm Thân Pháp, nên đưa các sĩ quan binh sĩ và đơn vị Hoàng triều cương thổ và Sơn cước về Đồng Tháp Mười tham dự Chiến dịch Nguyễn Huệ để đem hổ ra khỏi rừng, cắt vuốt con cọp. V́ sợ phản loạn, ông đem lính rừng về hành quân ở đồng bằng! Chỉ v́ nghi kỵ, ông Tổng thống thí quân, bất kể kết quả. Ông Cụ nóng ḷng, bèn gọi tất cả sĩ quan, v́ các sĩ quan biết thế nào là xoi ḿn, dùng lưỡi lê hoặc dao găm xoi ḿn và dọn đường. Bỗng một Thiếu úy, đưa cho ông một tạc đạn nội hóa: “Đại úy xem thử”. Ông không quay người lại, chỉ đưa tay trái ra phía sau để nhận quả lựu đạn trên tay người đồng đội. Ông cụ la lên khi vừa cầm quả tạc đạn trong tay “Chết cha rồi!” và ông nhấn sâu bàn tay ấy xuống bùn. Lựu đạn nỗ, giết anh Thiếu úy trẻ, Đại úy Sương, rách nát bàn tay trái (v́ ông thuận tay trái), găy hàm, mù mắt, bể bụng... nhờ thân thể ông che chở nên hai đồng đội phía mặt của ông không bị ǵ cả. Nói tóm lại, ông lănh cả, chỉ v́ anh thiếu úy đứng cùng phía trái với ông nên cũng lănh đủ. Hai thầy tṛ, bật ngửa, anh thiếu úy v́ bị thương ở hạ bộ, chết ngay, ông cụ nhờ quỳ gối nên bị thương phần trên. Đại úy Bác sĩ Thanh - năm 1975 là Thiếu thướng quân y, Giám đốc Bệnh viện Công ḥa - săn sóc nhanh và nói cùng với bạn bè: “Ḿnh ráng lo cho Anh Ba sạch sẽ để đem xác ảnh đàng hoàng về cho chị Ba” 1975 là Thiếu tướng quân y, Giám đốc Bệnh viện Công ḥa - săn sóc nhanh và nói cùng với bạn bè: “Ḿnh ráng lo cho Anh Ba sạch sẽ để đem xác ảnh đàng hoàng về cho chị Ba” Chị Ba là mẹ tôi, ông cụ v́ cảm thấy tiểu đoàn ḿnh kém nên đă kéo các bạn bè và đồng chí mà ông nghĩ đủ tài đủ nghệ để về tiếp sức cho tiểu đoàn của ông. Chú Vương Từ Mỹ, nay ở San José, lúc ấy là một Đại đội trưởng của ông Cụ. Đại úy Bác sĩ Thanh một đồng chí, v́ thế cũng có mặt. Đó cũng là cái may mắn. Lúc bấy giờ Thiếu tá Huỳnh Văn Tồn, cũng là một đồng chí, là Tỉnh trưởng tỉnh Châu đốc. Nên bằng mọi giá, anh em đồng chí quyết đưa ông về Châu Đốc. Vào thời điểm ấy, năm 1955, làm ǵ có trực thăng tải thương, ruộng nước mênh mong chung quanh Đồng Tháp Mười, nên ba anh lính được lịnh đem ông về hậu cứ. Họ tải ông bằng xuồng. Nhờ xuồng nên ông không bị xốc. Tới Bệnh Viện Châu đốc ông mê mang, phải đưa về Sài g̣n. Giờ chót, v́ ông sắp chết nên người ta đưa ông lên xe chở xác, một cái Dodge 6. C̣n xe Hồng Thập Tự dành cho thương binh nhẹ về phép. Xui quá! xe Hồng Thập Tự bị một phát SKZ thổi bay xuống ruộng chết cả. Ông cụ nhờ đi với các xác chết nên được đưa về Nhà Xác Bệnh Viện Cộng hoà. Đó là cái may thứ hai. Tối mùng 2 Tết Năm Ất Mùi, ông cụ bị vôi răi lên người để khử trùng đốt nóng quá làm cho ông thức dậy, vừa chưởi thề vừa la ó om ṣm. Anh Hiếu cận vệ, tội nghiệp anh Hiếu v́ quá thương ông cụ nên đi theo canh ông để ông không ở một ḿnh, chết một ḿnh, tủi thân. Anh Hiếu nghe được báo động Nhà thương và ông cụ nhờ vậy thoát chết và nhập Viện. Thế là ông sống lại! Theo cách tính của Việt nam, ông già đă chết hai năm: chết ngày29 thang chạp nên kể một năm. Qua mồng hai năm sau, kể thêm một năm nữa. Ông nhập viện Cộng Ḥa chữa bệnh. Các vết thương lần lần lành hẳn. Chỉ bị mù, và mất ba ngón tay ở bàn tay trái thôi. Và một ngày đẹp trời cuối năm 1955, ông xuất viện. Ông vẫn đinh ninh con mắt bên phải của ông c̣n sống và chữa được. Ông đi gặp tất cả các vị chỉ huy theo hệ thống quân giai, cuối cùng lên đến Đại tướng Lê Văn Tỵ. Ông cũng xin gặp Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Với tất cả, ông xin đi Pháp chữa bệnh. V́ tin rằng con mắt phải chỉ bị hư giác mạc thôi, nên mẹ tôi mới làm đơn t́nh nguyện xin cùng đi và xin hiến một con mắt của bà cho chồng. Và hai ông bà xin đi Pháp. Ông cũng viết thư cho Quân đội Pháp xin vào chữa bệnh ở Quân Y Viện Pháp. Không biết ông nói thế nào mà Pháp chấp thuận. Pháp chỉ yêu cầu ông làm sao đến Paris là Pháp cho nhập viện Quân Y Val de Grâce – Paris ngay. Hôm sau, ông xin gặp Đại tướng Lê văn Tỵ. Đưa bức thư trả lời của Quân Y Viện Val de Grâce – tương đương với Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Ông nói với Đại tướng Tỵ: - Đại tướng. Em đến chào Đại tướng. Em đi Pháp chữa bệnh. - ĐM, mầy ngon dzậy, tiền đâu mầy đi? - Dễ mà Đại tướng. Em bận bộ đồ số 1, tức bộ đại lễ, mang médailles pendantes (mề đay nguyên cả cái ḷng tḥng ở ngực). Dẫn vợ và bốn con đứng giữa đường Catinat, xin ông đi qua bà đi lại là đủ tiền máy bay cho hai vợ chồng tụi em đi. - Đừng giỡn mầy. ĐM, mầy dám làm lắm! Tao bắn mầy bây giờ. Về đi, để tao démerde lo cho mầy đi. Mà tao cũng không giải ngũ mầy. Mầy đi với grade Đại úy và lương bổng đàng hoàng. Chứ ở bển, giăi ngũ lấy ǵ sống. Thế là Đại tướng Tỵ giữ Đại úy Sương ở quân ngũ và cho phép đi chữa bệnh ở Pháp với cấp bậc Đại úy và lương bổng đàng hoàng. Đó là cái may mắn nửa! Chữa bệnh và học ngành mù
Anh Ba Xướng Gia đ́nh tôi gốc gác ở Huế. Ông Phan Văn Sướng (tên thiệt, với dấu sắc) sanh quán ở làng Mậu Tài, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. (Trong bài Ḥ ru con: “Con ơi, con thét * cho mùi, để mẹ đi chợ … Mua cau Nam Phổ, mua Trầu Chợ Dinh,... và câu kết là - Triều Châu bán nón, Mậu Tài bán kim” - * thét là ngủ, - Mậu Tài nghĩa là ǵ tôi t́m không ra, nhưng v́ nghề của người làng là “làm kim” – may quần áo – và ở Sài g̣n ḿnh, khu Chợ lớn, sau Nhà giây Thép Chợ lớn, có khu Chợ Thiết, có các nghệ nhơn làm nghề sắt và nghề thiết kẻm. Người dân ở đây ngày xưa gọi họ là dân mậu tài. Vậy th́ mậu tài có thể là do tiếng “tiều ??” nói về dân làm nghề thiết kẽm sắt không? – ai biết chỉ giáo dùm, xin tạ ơn. Thời Bắc thuộc cũng có chức quan cho người bản xứ Việt là quan hiếu liêm và quan mậu tài). C̣n Mậu tài theo nghĩa của phe ta, là mậu lúi, là hổng có tiền. V́ vậy mà tôi lúc nào cũng “mậu tài”. Ông nội tôi làm quan Nam triều, quan vơ, phó lănh binh, cụ Lănh Phan Văn Tiêu. Ông Phan Văn Sướng sanh năm 1917, thoạt đầu học ở trường Lasan Pellerin, sau đó học ở Trường Phú Xuân đến bằng Thành Chung. Thuở nhỏ chơi thể thao hay, đá banh giỏi nên vào năm 1940 được tuyển vào Sài g̣n đá cho Hội Ngôi sao Gia định, đồng thời với trung phong Phan Văn Mỹ và tả vệ Waico. Ông cũng đá tả vệ. Mà Waico quá nổi tiếng, nên ông không được vào hội tuyển Nam kỳ. Nhờ đá banh, ông làm việc cho Công ty thương xá Charner (nằm cạnh bùng binh trước ṭa Đô chánh Sài g̣n ngày xưa). Ông là một Đảng viên Đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng. Ông được Đảng chỉ đạo mượn cơ hội ông vào Nam để lập cơ sở thành, làm đầu cầu ủng hộ các chiến khu Đại Việt, thoạt đầu chống Nhựt, khi Pháp trở lại năm 1946 chống Pháp, về sau chống Việt Minh (các chiến khu An Điền, An Thành, Tân Trụ,....). Cơ sở, tên gọi là chi bộ Tùng Linh, toàn người gốc Huế, do bí danh hai người lănh đạo tạo thành (Tùng tự Phương là đồng chí Trần Thưởng, giáo sư Pháp văn, mất năm 1963 v́ bị chế độ Ngô Đ́nh Diệm sát hại, là người đă hướng dẫn phái đoàn ping-pong Mai Văn Ḥa đi dự thi đấu bóng bàn Paris, giải Vô địch Paris 1950. Mai Văn Ḥa giựt cúp Paris bóng bàn năm ấy. Linh là bí danh ông cụ ḿnh). Cơ sở đặt trong một dăy ba căn phố nằm ở cuối một con hẻm, sau đ́nh Thành Công (hát bộ) dựa vào con Rạch Thị Nghè, xóm Vạn Chài, số 148/8 đường Paul Bert. Khu ấy nằm cạnh Chợ Tân Định, trên con đường Paul Bert, tức là Trần Quang Khải thời Việt Nam Cộng ḥa ḿnh. Năm 1949, Pháp trả Độc lập lại cho Việt Nam với Hiệp ước Elysée ngày 9/3/1949. Đại Việt Quốc Dân Đảng với các ông Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Văn Kiểu, Phan Huy Quát, v́ đă có mặt tại Hong Kong năm 1948 để mời ông Bảo Đại về Việt Nam lập quốc gia Việt Nam và làm quốc trưởng, nên nay, chánh thức xuất hiện và tham chánh với năm người vào Chánh phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam do Đức Quốc trưởng Bảo Đại vừa là Quốc trưởng vừa là Thủ tướng, đó là các ông Lê Thăng, Phan Huy Quát, Nguyễn Hữu Trí,… và đặc biệt Nguyễn Tôn Hoàn - người Miền Nam có mặt ngay từ thuở thành lập Đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng, năm 1939, cạnh Đảng trưởng Trương Tử Anh - giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thanh Niên.
Cuối năm 50 hay đầu năm 51, tôi không nhớ rơ, Bác Hai Năng (Đỗ Văn Năng, thủ lănh Bảo Quốc Đoàn) bị Việt Cộng sát hại trên góc đường d’Arfeuille (tên Việt Nam sau nầy có lẽ là Nguyễn Đ́nh Chiểu) với đường Mayer - Hiền Vương, trước khi đến Bộ Thanh niên (Bô Thanh Niên nằm trên đường Mayer). Vài tháng sau, tại Cai Lậy trong một cuộc duyệt binh, một cảm tử quân, với quận phục Bảo quốc đoàn, ôm lựu đạn tự sát cho nổ trước phái đoàn, giết Tướng Chanson – Tham mưu trưởng quân đội viễn chinh Pháp và Thủ hiến Thái Lập Thành – về sau biết được là do quân của tướng Nguyễn Thành Phương thuộc lực lượng Cao Đài chủ mưu. Bảo Quốc Đoàn v́ vậy phải bị giải tán, các lănh đạo phải rút vào bí mật. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn phải từ chức, nhưng nhờ Đức Quốc Trưởng can thiệp, gia đ́nh phải tạm sống bằng cách mở một tiệm bán gạo ở trên đường Galiéni - Trần Hưng Đạo, sanh sống qua ngày. Ông Phan Văn Sướng, v́ sanh hoạt trong Nam, nên anh em thường gọi là Anh Ba Xướng. Anh Ba Xướng đang bị mật vụ Pháp lùng bắt v́ là cán bộ chỉ huy Bảo Quốc Đoàn. Sẵn có chiến dịch Quốc gia Việt Nam kêu gọi nhập ngũ, Đảng ra lệnh các đảng viên nhập ngũ, ông cụ nhập ngũ khóa 5, năm 1951, trường Vơ Bị Liên Quân Đàlạt (khóa Hoàng Diệu - thủ khoa là chú Sáu Dương Hiếu Nghĩa) cùng với rất nhiều đồng chí như các chú Tư Nguyễn Văn Hữu, chú Bảy Hồ Văn Phàng, Nguyễn Văn Tồn... Và ông cũng đổi tên, nay là Phan Văn Sương (bỏ dấu sắc) để tránh mật vụ Pháp, khi ra tốt nghiệp sĩ quan ông cũng tránh Miền Nam nên xin phục vụ ở vùng sơn cước. Về sau ông bị thương nặng, mù mắt, anh em lại gọi ông là “Sương mù”. Âu cũng là cái điềm v́ đổi tên không làm chè xôi cúng ông bà. Trung tá Phan Văn Sương mất ngày 15 tháng 12 năm 1983. Các em tôi đă mạnh dạn tiễn cha chúng tôi với nút đỏ Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương của Việt Nam Cộng ḥa trên cổ áo veste. Năm 1972, gia đ́nh ông Phan Văn Sương được Tứ Đợi Trùng Đường. Bốn Đời trong một nhà: Cụ Lănh Tiêu, Trung tá Sương, Song và Lang, tất cả trưởng gịng và trưởng nam. Câu ông dạy chúng tôi, chúng tôi cũng chuyển đến các cháu: “Khi ta hưởng được trách nhiệm, chúng ta phải làm tṛn bổn phận”. Làm tṛn bổn phận, làm hết trách nhiệm. Thắng hay bại không cần, trong mọi t́nh huống. Ông Phan Văn Sương hai lần trong đời được nhận lănh trách nhiệm. Khi làm Tiểu đoàn trưởng, cũng như khi làm Hiệu trưởng Trường mù, ông luôn luôn làm tṛn bổn phận của ḿnh, để trả ơn cho đất nước đă cho ḿnh làm người trách nhiệm. Hồi Nhơn Sơn cuối Xuân Mậu Tư (5/2008) Thương nhớ ba mẹ. Phan Văn Song. |