Cựu Trung tá
Phan Văn Sương
Người Sáng lập Trường Nam Sinh Mù đầu tiên tại Việt Nam
Phan Văn Song

Cựu Trung tá Phan Văn Sương
Lời ṭa soạn:
Nếu người Mỹ hănh diện có những người như bà Helen Keller,
vừa mù vừa câm vừa điếc nhưng vẫn hăng say đi làm việc từ thiện khắp nơi
trên thế giới, hay ông David Paterson là người mù đầu tiên trong lịch sự
nước Mỹ được bầu làm Thống đốc, th́ đất nước Việt Nam chúng ta cũng hănh
diện có những người như ông Phan Văn Sương.
Ông Phan Văn Sương tốt nghiệp Khóa 5 Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt năm 1951.
Vào năm 1955, lúc mới 38 tuổi, đang mang lon Đại úy, trong trận đánh tại
Rạch Cái – Đồng Tháp Mười, ông bị thương tàn phế một cánh tay và mù hai mắt.
Thay v́ trở thành một thương binh, ông Sương không đầu hàng nghịch cảnh, vẫn
cố gắng vươn lên để không những không trở thành một gánh nặng cho xă hội mà
c̣n là một công dân hữu ích cho đất nước.
Sau khi bị thương ông được đưa sang Pháp chữa bệnh, hy vọng cứu được đôi mắt
nhưng không thành công, ông học chữ Braille dành cho người mù rồi xin trở về
Việt Nam vào năm 1959. Sau đó ông vận động chính phủ, các nhà mạnh thường
quân, các bạn bè quen biết… để xây Trường Nam Sinh Mù đầu tiên tại Miền Nam
và từ đó làm việc với tư cách là hiệu trưởng cho đến ngày mất nước. Mặc dầu
bị mù, nhưng cũng giống như số phận của tất cả các quân nhân cán chính VNCH,
ông vẫn bị đi tù cải tạo và qua đời vào năm 1983. Ngày Quân Lực 19 tháng 6
sắp đến, để ghi ơn những người đă đóng góp và hy sinh trong cuộc chiến vừa
qua, chúng tôi phỏng vấn ông Phan Văn Song, trưởng Nam của ông Phan Văn
Sương, để t́m hiểu thêm về cuộc đời của người quân nhân đặc biệt này. Trong
cuộc tâm đàm qua điện thoại với chúng tôi, ông Song có tâm sự rằng: “Mỗi khi
nhớ về ba tôi, điều tôi nhớ nhất là lúc c̣n sống ông ấy luôn luôn nhắc nhở
anh em chúng tôi: ‘Khi ĐƯỢC giao trách nhiệm, ta phải làm hết bổn phận’. Đối
với ông ấy, trách nhiệm không phải là một gánh nặng mà là một ân huệ, cho
nên ta phải làm với tất cả tấm ḷng”. Câu nói đó rất đáng để chúng ta suy
ngẫm.
Bài phỏng vấn này sẽ đăng làm 3 kỳ, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là:
“Trường Nam Sinh Mù đầu tiên tại Miền Nam được thành lập trong hoàn cảnh như
thế nào?” và sau đây là phần trả lời của ông Phan Văn Song.
Trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, nếu bạn là dân Sài g̣n, nếu bạn đi từ Chợ
An Đông trên đường Nguyễn Duy Dương về hướng đường Minh Mạng, sẽ gặp đại lộ
Trần Hoàng Quân. Ngay góc Đại lộ Trần Hoàng Quân và Nguyễn Duy Dương, bạn sẽ
gặp một trường học khang trang với bảng đề “Trường Nam Sinh Mù”. Huy hiệu
Trường Nam Sinh là Một ngọn lửa đă tóa sáng trong một ṿng tṛn đen. Huy
hiệu tṛn bao bọc bởi lá cờ vàng với ba sọc đỏ, và hàng chữ “Trường Nam Sinh
Mù”.
Biểu tượng “Ánh sáng trong tăm tối”. Một trường học với một huy hiệu chứng
tỏ vị chỉ huy có một suy nghĩ rất quân đội. Huy hiệu ấy do Nữ sĩ Hoàng Hương
Trang vẽ, Hoàng Hương Trang khá nổi tiếng vào những năm 1960, vừa là họa sĩ
(tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Gia Định) vừa là một nhà thơ. Hoàng Hương Trang,
tôi gọi là D́ Phương có họ với Mẹ tôi, cùng người gốc Huế.
Bước vào sân trường chúng ta sẽ gặp ngay một cột cờ rất quân đội và dăy lớp
nằm sau một hành lang. Văn pḥng Ông Hiệu trưởng nằm ở góc trái. Đẩy cửa
pḥng Ông Hiệu trưởng chúng ta sẽ gặp một sĩ quan, lúc nào cũng bận quân
phục chỉnh tề, mang mắt kiếng đen, cổ đeo cấp bật (từ Đại úy năm 1960 đến
Trung tá năm 1975) trên ngực bên trái đầy những huy chương và bên ngực phải
bảng tên “Sương”.
Trường Nam Sinh Mù trước đó thuộc một Chủng viện Thiên Chúa giáo La mă,
thuộc gịng Franciscain. Cơ sở được sử dụng một thời gian dài như một Viện
mồ côi do một vị Cố đạo người Pháp cai quản. Khoảng năm 1959, vị tu sĩ ấy
cảm thấy mỏi mệt, phải về Pháp nghỉ hưu trí, muốn giao cơ sở ấy cho người
khác nhưng những tu sĩ Việt Nam không ai chịu đảm nhận.
Bộ Giáo dục Việt Nam cũng không muốn nhận làm cơ sở giáo dục, một là v́
không có một trường học nội trú, hai là không có chức năng giảng dạy trẻ em
mù.
Lúc đó Viện mồ côi này có hai chức năng: thứ nhất, tổ chức lo các trẻ em
hoặc mồ côi, hoặc bụi đời do các cơ quan từ thiện gởi đến. Thứ hai, v́ những
trẻ mồ côi ấy có rất nhiều em bị mù. Các trẻ em mù ấy, một phần mồ côi,
nhưng cũng có vài em thuộc diện bụi đời. Các em được sanh hoạt bằng cách học
đan bàn chải, làm chổi, học nhạc… Các em sống nội trú trong trường, đan bàn
chải, đan giỏ giúp Viện mồ côi có tiền và giúp các em có tí tiền túi tiêu
vặt. Viện mồ côi có khách hàng đặt mối để các em sanh sống.
Năm 1959, Đại úy Phan Văn Sương vừa tốt nghiệp xong trường Trường Mù quân
đội Pháp (École des Aveugles de guerre) ngụ tại số 9 rue Blanche Paris -
Pháp. Khi sau tốt nghiệp, ông được đề nghị ở lại Paris để làm nghề Giáo sư
Mù cho các quân nhân Pháp đang bị thương ở mắt và bị mù (Lúc ấy c̣n Chiến
tranh ở Algérie, nên quân đội Pháp vẫn c̣n có nhiều quân nhơn bị thương tật,
nhứt là ở mắt).
Mặc dù được quân đội Pháp đài thọ chửa trị suốt ba năm qua, nhưng ông quyết
định vẫn giữ ḿnh là sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng ḥa và xin về nước; và
nước Pháp, cũng thông cảm không đ̣i ông ở lại phục vụ để trả nợ. (Với cá
nhơn tôi cũng vậy, tôi nhận học bổng của nước Pháp từ năm 1954, Trung học,
rồi từ năm 1961, học bổng Đại học đến 1964. Năm 1971, tôi làm giấy về Việt
Nam nước Pháp cũng không bao giờ buộc tôi phải trả nợ là phục vụ tại nước
Pháp một thời gian nào – lạ thật!)
Về nước ông định vay mượn tiền để mở một Trung tâm Khiếm Thị cho các trẻ em
mù. Đang lúc bối rối, chạy đi t́m Mạnh Thường Quân, th́ nghe được chuyện của
Viện Mồ côi nằm ở Ngă Sáu với một số em khiếm thị đang cần người điều hành.
Lúc đó viện mồ côi này củ kỹ lắm nếu muốn sử dụng cần phải sửa chữa rất
nhiều.
Khi cha mẹ tôi học và chữa bệnh tại Pháp,ông bà có quen được với linh mục
Bạch Văn Lộc, một vị tu sĩ gịng Chúa Cứu Thế (Cha Bạch Văn Lộc có thời gian
làm Viện Trưởng Viện Đại học Minh Đức). Ở gịng Chúa Cứu Thế có một ông tu
sĩ người Pháp tên là Père Olivier, ông nầy biết chuyện ông cố đạo cai quản
Viện mồ côi với các em khiếm thị. Thế là mọi việc bắt đầu chạy. Ông cụ chạy
lên Bộâ Giáo dục, ông cụ chạy gặp Tổng thống Diệm. Ông cụ vận động thế nào
mà ông vẫn ở KBC 4002, vẫn ở Quân đội với cấp bậc Đại úy. Và ông được biệt
phái vào bộ Quốc gia Giáo dục. Vớùi các bạn bè trong quân đội, chuyện nhờ
cái nầy, vả cái kia, qua lại là chuyện thường t́nh, nhưng đối với ông, chỉ
đi có một chiều, ông không giúp ai được cả, chỉ có ông đi xin thôi. Và ông
chạy chọt xin xỏ, đây xin một bao cát, nọ cho một bao xi măng, chỗ kia viên
gạch, bạn nọ tí hồ, bạn kia tí sơn, quân khu cho mượn anh thợ mộc, tiểu khu
cho mượn anh thợ nề. Có anh bạn chỉ huy công binh cho một vài bao xi măng,
cát, hồ, lại có anh bạn chỉ huy công xưởng Hải quân cho mượn anh thợ nề anh
thợ mộc, anh xếp nhà Tù Chí Ḥa phái các tù đi lao động tới làm cỏ nhà
Trường, anh xếp nhà lao quân đội cho mượn vài lao công quét sạch lại sân
trường… thế là Trường xây được cây trụ cờ, làm lại cái cổng, sơn lại cái
tường, sửa lại cái mái… nay tu mai bổ, rồi đẹp ra, rồi sạch sẽ lại. Chẳng
mấy chốc Viện Mồ côi với những bức tường loang lỡ, với những mái nhà ủ dột,
nay đâm khang trang và có bề sang trọng nữa.

Trường ốc nay khang trang, sơn quét sạch sẽ, giường các em nằm ngủ ở nội trú
là các giường cũ quân đội bỏ ở Trung tâm Quán tre, bàn các em ăn là những
bàn ăn Trường Thủ Đức dư dả bỏ đi, đến bộ kèn, bộ trống, dàn âm nhạc các em
học cũng được xin các nhạc cụ cũ của Ban Quân nhạc... Cũ người mới ta ...
nhưng tân trang, chà bóng, sơn sạch lại. Trường làm xong, căn nhà Bộ Quốc
gia cho ông Hiệu trưởng cũng được ông Cụ xin tài trợ rồi cũng nhờ Quân đội
cho mượn người cất lấy. Tiền cho để cất một căn phố, ông cất được một Villa
khá rộng răi sang trọng, nằm quay mặt ra đường Nguyễn Duy Dương, lấy số 151,
trước Trường Trung học Trí Tri. Khang trang đẹp đẽ đấy, nhưng nếu ai nh́n
vào chi tiết, thí dụ như căn villa của gia đ́nh ở, không có cửa sổ nào giống
cửa sổ nào, v́ những khung cửa sổ xin các đơn vị khác nhau nên kích thước
không giống nhau.
Tôi biết rơ vấn đề nầy v́ những hè năm ấy 1960, 1961, tôi đưa ông cụ đi gặp
những bạn bè hay các vị trách nhiêm Bộ Giáo dục hay Quân đội để hoàn tất cái
chương tŕnh Trường Nam Sinh Mù. Từ nhơn viên đến máy móc đều được ông Cụ đi
vận động tuyển dụng. Đặc biệt ông không có hồ sơ cầm tay; tất cả trong trí
nhớ của ông.
Một ít văn hóa phẩm do ông đem từ Pháp về, phần c̣n lại ông xin Hội Sư tử
chi nhánh ở Sài g̣n (Lions Club International). Hội này hoàn toàn ủng hộ và
giúp đỡ ông cụ.
Lions Club International chuyên giúp đỡ người khiếm thị do ông Melvin Jones
sáng lập năm 1917, trụ sở chánh đặt ở Oak Brook, tiểu bang Illinois Huê Kỳ,
chính họ đă ủng hộ bà Helen Keller làm được rất nhiều việc cho người mù trên
khắp thế giới (cuốn phim Miracle in Alabama - 1962 - do đạo diễn Arthur Penn
với nữ tài tử Ann Bancroft trong vai chánh nói về cuộc đời bà Keller). Lions
Club đă sáng kiến ra câu gậy trắng - biểu tượng của người khiếm thị.
Bà Keller một người mù, điếc và câm đă học tiếng Pháp trong ṿng 6 tháng để
qua Việt Nam gặp ông Cụ. Hai người đă “nói chuyện” với nhau phân nửa bằng
tiếng Pháp phân nửa bằng tiếng Anh bằng cách gơ chữ Braille trên ḷng bàn
tay với nhau. Tôi được chứng kiến cuộc gặp gỡ lịch sử ấy (tháng 10 năm 1961
– một tháng trước khi tôi đi Pháp du học).
Vào tháng 11 năm 1961, Trường được khánh thành bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Ông Cụ được đặt dưới quyền Giám thị của hai bà Thanh Tra tiểu học là bà Tư
và bà Mẹo. Bà Thanh Tra Tư là thân mẫu của anh Nguyễn Bá Nhẫn, người đă kéo
tôi về làm việc với ông Nguyễn Tấn Đời ở Tín nghĩa Ngân hàng vào năm 1972,
và anh hai bạn đồng môn của tôi ở trường Yersin là Nguyễn Bá Cang.
Trường lúc đó đă có đủ các lớp Tiểu học rồi, từ lớp vỡ ḷng đến lớp Nhứt; có
Ban Nhạc, có mọi lớp nhạc từ kèn đến trống, (tôi lúc ấy đi học trống với Anh
Trường). Anh Trường sau 1975 có tổ chức một căn nhà để nuôi các em bụi đời
kém may mắn. Anh Trường vừa mất cách đây mấy tháng. Cơ sở của Anh nay không
biết ra sao?
Trường dĩ nhiên vẫn giữ lớp dạy đan bàn chải, làm chổi (v́ có mối sẵn do
Viện Mồ côi để lại); có thêm nhà in để in sách bằng chữ Braille. Tất cả mọi
sách đều được chuyển sang chữ Braille để các em đọc. Chữ Braille do ông
Louis Braille (1809 – 1852), là giáo sư âm nhạc chuyên dạy đàn Orgue (Đại
Phong cầm) nghĩ ra; Louis Braille bị bệnh trái rạ làm mù mắt lúc 3 tuổi, ông
sáng tác ra một loại chữ viết với 6 chấm nổi, viết chữ, viết nhạc và là chữ
viết cho cả thế giới của người khiếm thị.
Hội Sư Tử Việt Nam đỡ đầu Trường Nam Sinh Mù ngay từ đầu. Về sau khi tôi về
lại Việt Nam sau thời gian du học tại Pháp, tôi vào hội viên Hội Sư Tử Miền
Đông năm 1971, năm ấy Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh là Governor của Khu Hội 311 (Việt
Nam). Và ngày nay tôi vẫn là Hội viên Hội Sư Tử của Vùng Trung Tây khu bộ
103 (103 CW).
Năm 1964, một nhóm giáo chức nữ được tuyển dụng và được huấn luyện để dạy
trẻ em mù. Trường Nữ Sinh Mù được thành lập từ lúc đó. Các giáo chức nữ được
tổ chức USAID gởi qua Mỹ huấn luyện.
Việt Nam Cộng Ḥa chiến đấu sống c̣n để bảo vệ tự do và quan niệm nhơn sanh
quan sống của ḿnh. Trường Nam Sinh Mù và chương tŕnh giáo dục người khiếm
thị là biểu tượng của Nhơn Sanh Quan đó. Việt Nam Cộng Hoà trong lúc dầu sôi
lửa bỏng đó, vẫn có những người quan tâm đến vận mệnh, tương lai của những
thiểu số kém may mắn, vẫn có những chương tŕnh, những suy nghĩ để đào tạo
những người bị tật nguyền trở thành những công dân hữu ích cho xă hội. Một
quan niệm, một cái nh́n đầy t́nh người, một nền chánh trị bằng con tim.
Đây là chương tŕnh của một chế độ: Nếu cha tôi Phan Văn Sương có công sáng
lập Trường Nam Sinh Mù, cũng phải nhắc đến cái nh́n của một Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm cho phép mở Trường Khiếm Thị, phải nhắc nhở đến bao người có trách
nhiệm từ các quân nhơn đảo chánh ông Diệm, ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu,
tất cả đều chấp nhận cho Ông cụ tôi vẫn ở lại trong Quân Đội – v́ trong t́nh
h́nh chiến tranh một quân nhơn như ông cụ ḿnh dễ dàng đi lại hoạt động –
một Bộ Giáo dục với bao lần thay đổi Tổng bộ trưởng, thay đổi nhơn sự hành
chánh, vẫn ủng hộ chương tŕnh người Mù. Tôi quên mất, ai là vị đă nói câu
nầy: “Người ta đo lường được chế độ văn minh của một quốc gia khi người ta
nh́n thấy chế độ đối đăi đối với các người tàn tật”. Chương tŕnh thành công
của Trường Mù thời Việt Nam Cộng ḥa là biểu tượng của sự Văn minh của Việt
Nam Cộng ḥa.
Các bạn thử nghĩ cái mâu thuẫn của Việt Nam Cộng ḥa. Nh́n qua ông cụ tôi:
Ông mù, ông phải là một thương phế binh, giải ngũ ăn lương Đại úy tàn tật.
Không, ông chẳng những không giải ngũ, ông c̣n lên cấp bậc, lên chậm, dĩ
nhiên, Thiếu tá rồi Trung tá, bạn bè nói riêng với tôi: “Trước khi ổng về
hưu tụi tao chạy cho Ổng lên Đại tá” - quan niệm theo Pháp “Colonel Plein” –
cho nó tṛn – chứ Trung tá Lieutenent – Colonel nó c̣n lỏn chỏn. Tôi cũng tự
hứa ngày ông Ngũ tuần (60 tuổi) [quư vị đừng sửa tôi – tôi nói ngũ tuần là
60 tuổi v́ (12 = một tuần X 5 = 60) - chứ ai nói Lục tuần là 60 là sai đấy],
tức là vào tháng 6 năm 1977 anh em chúng tôi sẽ làm một cái lễ để trả nợ Ông
già. Đáng tiếc tôi không làm tṛn được ước nguyện đó, vào thời điểm tháng 6
năm 1977 anh em trai chúng tôi đều nằm trong các trại tù Cộng Sản.
Ông được biệt phái làm việc cho Bộ Quốc gia Giáo dục, ăn tiền phụ cấp Hiệu
trưởng, có chiếc xe Jeep Station Wagon, màu xanh lá cây, kiểu Nha Thông tin,
cũ mèm, nhưng nhờ anh em quân Cụ thương đổi cái máy mới, tân trang máy móc
lại: xác tuy cũ nhưng máy chạy ngon ơ. Ông được Bộ Tham mưu cho một anh lính
phục vụ. Rồi anh em quân vận biệt phái cho một tài xế riêng, rồi xăng mỗi
tháng một thùng phuy (400 lít), rồi quân tiếp vụ…Ông già tỉnh táo làm việc.
Việt Nam Cộng Ḥa có cái ẩu, cái thiếu, cái ǵ nó kỳ kỳ nói ra không được,
nhưng nó có cái t́nh, cái tâm, cái coi dzậy mà không phải vzậy.
Tính ông cụ thuộc loại “phổi ḅ”, có nghĩa là thích làm những việc khó khăn,
nhiều thử thách mà người khác không thích làm. Má tui thường nói với tụi
tui, “ba tụi bây lúc nào cũng phổi ḅ, hổng ai làm ổng làm, rồi chỉ có tao
khổ”. Nhưng khi bả nói vậy, bả nói giọng Nam, rồi bả liếc ổng một cách dễ
thương. Tôi nhớ măi h́nh ảnh ấy và thương hai ông bà cụ vô cùng. Bà già tôi
chỉ xổ giọng Huế ra khi bả moral tụi tui, c̣n b́nh thường hay lúc thân
thương th́ nói bằng giọng Nam. Có lẽ v́ vậy mà tôi ngán đàn bà có giọng Huế,
mặc dù nhiều khi ḿnh cũng bị mê hoặc bởi giọng nói của xứ này.
Ôi Việt Nam Cộng ḥa, một thế giới đầy t́nh người, đầy con tim!
Các em khiếm thị lúc bấy giờ được huấn luyện để hành nghề téléphonistes (giữ
Trung tâm điện thoại), có vài em đă đậu Tú tài. Có một em tên Khánh đă vào
Đại học Luật Khoa, cha tôi lúc ấy rất hănh diện về em Khánh, đi đâu ông cũng
khoe. Mất nước, trường cũng tan. Ông Hiệu trưởng Trung tá Phan Văn Sương với
quan niệm “Khi được giao trách nhiệm, ta phải làm hết bổn phận” như ông
thường dạy tụi con, chờ đúng ngày 15 tháng 6, đi tŕnh diện học tập. Và ông
ở tù trên một năm (Trại Long Thành).
(Hết kỳ 1)
Kỳ tới Ông Sương mù và Anh ba Xướng.
Home