Phỏng Vấn
Việt Luận Phỏng vấn ông Phan Văn
Song
Chủ tịch Đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng

Ông Phan Văn Song
Lời toà soạn: Ông Phan Văn Song du học và tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại
Pháp, lập gia đ́nh với phụ nữ Pháp và giảng dạy tại Viện Khoa học Quốc tế (Pháp),
giống như nhiều trí thức thời đó, ông bỏ hết tất cả những hạnh phúc cá nhân và
quyết định trở về Việt Nam để đóng góp cho đất nước. Nhưng cũng bắt đầu từ đó
cuộc đời của ông trải qua không biết bao nhiêu là những thăng trầm theo vận nước.
Sau 75 ông nếm mùi tù Cộng sản đến 4 năm, rồi trở về Pháp bắt đầu làm lại cuộc
đời.
Điểm đặc biệt ở người đàn ông này là cho dù có ǵ xảy ra th́ vẫn không bỏ hoài
bảo ấp ủ từ lúc c̣n trẻ: đó là mong muốn một nước Viêt Nam tự do và no ấm. Cho
đến bây giờ mặc dầu tuổi đă cao ông vẫn đi đó đi đây vận động tự do và dân chủ
cho Việt Nam.
Một điểm đặc biệt khác về người đàn ông này là rất đào hoa. Ông chỉ lập gia đ́nh
với những người Pháp nhưng tất cả đều thương yêu ông hết mực. Ông gọi những
người vợ của ông là “những phụ nữ Việt Nam thuần tuư” và theo như lời tâm sự ông
th́ người vợ Tây mà ông hiện đang sống rất hạnh phúc là do “Bà vợ trước của tôi
đă cưới cho tôi”. Quả là hiếm có người đàn ông nào được như vậy. Mời độc giả
theo dơi cuộc tâm t́nh giữa người đàn ông tài hoa này với phóng viên của Việt
Luận.
Việt Luận(VL). Thưa ông, xin ông vui ḷng cho
độc giả Việt Luận biết qua vài nét về thân thế của ông. Theo chúng tôi biết, ông
là người gốc gác ở Huế, mà sao ông nói giọng miền nam? Trong trường hợp nào ông
gia nhập Đảng Đại Việt? Ảnh hưởng gia đ́nh?
Phan Văn Song (PVS). Gia đ́nh ḿnh gốc gác ở Huế. Ông cụ bà cụ đều sanh quán tại
Huế tỉnh Thừa Thiên. Hai ông nội ngoại đều làm quan Nam triều, ông nội quan vơ,
phó lănh binh, cụ Lănh Phan Văn Tiêu. Ông ngoại, quan văn, cụ Nghè Nguyễn Trọng
Khải.
Ông cụ ḿnh sanh năm 1917, thuở nhỏ chơi thể thao hay, đá banh giỏi nên vào năm
1940 được tuyển vào Sàig̣n đá cho Hội Ngôi sao Gia định, đồng thời với trung
phong Phan Văn Mỹ và tả vệ Waco. Ông cũng đá tả vệ, nên v́ Waco quá nổi tiếng,
nên ông không được vào hội tuyển Nam kỳ. Nhờ đá banh, ông làm việc cho Công ty
thương xá Charner (nằm cạnh bùng binh trước ṭa Đô chánh Sài g̣n ngày xưa).
Ông là một Đảng viên Đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng. Ông được Đảng chỉ đạo mượn cơ
hội ông vào Nam để lập cơ sở thành, làm đầu cầu ủng hộ các chiến khu Đại Việt,
thoạt đầu chống Nhựt, khi Pháp trở lại năm 1946 chống Pháp, về sau chống Việt
Minh (chiến khu An Điền, An Thành).
V́ vậy ḿnh được sanh ra ngay trong sào huyệt Đảng, năm 1942, trong một gia đ́nh
đảng viên Đại Việt. Cơ sở, tên gọi là chi bộ Tùng Linh, toàn người gốc Huế, do
bí danh hai người lănh đạo tạo thành (Tùng tự Phương là đồng chí Trần Thưởng,
giáo sư Pháp văn, - mất năm 1963 v́ bị chế độ Ngô Đ́nh Diệm sát hại – là người
hướng dẫn phái đoàn ping pong Mai Văn Ḥa đ́ dự th́ đấu bóng bàn Paris – Mai Văn
Ḥa giựt cúp Paris bóng bàn năm ấy - Linh là ông cụ ḿnh), nằm ở cuối một con
hẻm, sau đ́nh Thành Công (hát bội) dựa vào con Rạch Thị Nghè, xóm Vạn Chài. Khu
ấy nằm cạnh Chợ Tân Định, trên con đường Paul Bert, tức là Trần Quang Khải thời
Việt Nam Cộng ḥa ḿnh.
VL. Như vậy chắc ông phải có nhiều kỷ niệm về thời Đại Việt tổ chức trong Nam và
hoạt động lúc bấy giờ? Nhưng lúc ấy, ông không đi học sao?
PVS:. Đúng. Thuở nhỏ ḿnh được các chú, các bác trong Đảng dạy cho ḿnh học:
Pháp văn với Trần Thưởng, Trần Đỗ Cung (nay ngoài 80 tuổi, ngụ tại San José -
Bắc Cali Hoa Kỳ), Việt văn với Nguyễn Ngọc Huy. Lúc bấy giờ đă là những năm
49/50 rồi, Đại Việt đă chánh thức xuất hiện và tham chánh với năm người vào
Chánh phủ đầu tiên do Đức Quốc trưởng Bảo Đại vừa là Quốc trưởng vừa là Thủ
tướng, (Quư ông Lê Thăng, Phan Huy Quát, Nguyễn Hữu Trí, … và đặc biệt Nguyễn
Tôn Hoàn, người đồng chí miền Nam có mặt ngay từ thuở ban đầu thành lập Đảng Đại
Việt, cạnh Đảng trưởng Trương Tử Anh, giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thanh Niên) Đại
Việt Quốc Dân Đảng lúc bấy giờ đặt trọng tâm vào tổ chức Thanh Niên, lập một
Trường Thanh Niên ở Nha Trang, và đặc biệt Thanh niên Bảo quốc đoàn do ông Đỗ
Văn Năng làm thủ lănh. Ông Cụ ḿnh lănh trách nhiệm làm Thanh tra Bộ Thanh niên.
Thời ấy là thời huy hoàng của Đảng bộ miền Nam. Trụ sở ở Rạp Chiếu bóng (Cinéma)
Tân Định, nằm trên đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng sau nầy). Hai anh em tôi
cùng Tùng Lâm (tức nghệ sĩ Tùng Lâm) ở ban Thiếu niên hát Việt Nam Minh Châu
Trời Đông (Đảng Ca), Bạch Đằng Giang, Khỏe v́ Nước, kèn Rạng Đông … những khi
sanh hoạt văn hoá. Chúng tôi là một lũ con nít con của các đồng chí đàn anh, c̣n
các chú kia đều chưa lập gia đ́nh, hay có chăng th́ cũng chưa có con: các chú
Nguyễn Ngọc Huy, Hoài Sơn, Đỗ Kiến Nhiểu, Nguyễn Văn Hữu, Dương Quang Tiếp,
Dương Hiếu Nghĩa… Cả Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn mà chúng tôi gọi là Bác Tư, tuy cùng
tuổi với ông cụ tôi cũng có con, nhưng các em ấy hăy c̣n nhỏ.
Năm 50 hay 51 tôi không nhớ rơ, Bác Hai Năng (Đỗ Văn Năng, thủ lănh Bảo Quốc
Đoàn) bị Việt Công sát hại trên góc đường d’Arfeuille – tên Việt Nam sau nầy có
lẽ là Trương Công Định - với đường Mayer - Hiền Vương, trước khi đến Bộ Thanh
niên. Vài tháng sau, tại Cai Lậy trong một cuộc duyệt binh, một cảm tử quân bận
quận phục Bảo quốc đoàn ôm lựu đạn tự sát cho nổ trước phái đoàn giết Tướng
Chanson – Tham mưu trưởng quân đội viễn chinh Pháp và Thủ hiến Thái Lập Thành -
về sau biết được là do quân của tướng Nguyễn Thành Phương thuộc lực lượng Cao
Đài chủ mưu. Bảo Quốc Đoàn v́ vậy phải bị giải tán, các lănh đạo phải rút vào bí
mật. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn phải từ chức, nhưng nhờ Đức Quốc Trưởng can thiệp,
gia đ́nh phải tạm sống bằng cách mở một tiệm bán gạo ở trên đường Galiéni - Trần
Hưng Đạo sanh sống qua ngày.
VL: Thưa ông, Đại Việt chống Tây mà tại sao lại có nhiều người làm sĩ quan trong
quân đội lúc bấy giờ?
PVS: Ba tôi tên thật là Phan Văn Sướng, nhưng v́ sanh hoạt trong Nam nên anh em
thường gọi là Anh Ba Xướng. Anh Ba Xướng đang bị mật vụ Pháp lùng bắt v́ là cán
bộ chỉ huy Bảo Quốc Đoàn. Sẳn có chiến dịch Quốc gia Việt Nam kêu gọi nhập ngũ,
Đảng ra lệnh các đảng viên nhập ngũ, ông cụ nhập ngũ khóa 5 trường Vơ Bị Liên
Quân Dalat (khóa Hoàng Diệu - thủ khoa là chú Sáu Dương Hiếu Nghĩa) cùng với rất
nhiều đồng chí như các chú Tư Nguyễn Văn Hữu, chú Bảy Hồ Văn Phàng, Nguyễn Văn
Tồn …. Và ông cũng đỗi tên, nay là Phan Văn Sương (bỏ dấu sắt), về sau ông bị
thương nặng, mù mắt, anh em lại gọi ông là Sương mù. Âu cũng là cái điềm v́ đổi
tên không làm chè xôi cúng ông bà.
Ông Sương Mù hay cựu Trung tá Phan Văn Sương (năm 1975) năm 1960, sáng lập
trường Nam Sinh Mù Chợ lớn, đường Nhân Vị, hay Trần Hoàng Quân, góc Nguyễn Duy
Dương, Chợ An Đông. Đó là một cơ sở giáo dục đầu tiên tại Việt Nam cho người
khiếm thị. Trường trước 1975 đă có những em có bằng Tú tài có cả một em đang học
Luật khoa th́ mất nước. Trường nay vẫn c̣n hoạt động, cạnh bên trường cũ.
Trung tá Phan Văn Sương ngày 15 tháng 6 1975, cùng với các bạn quân cán chánh
Việt Nam Cộng Ḥa tŕnh diện học tập. Ông học tập trại Long Thành một năm rồi
được thả ra về.
VL:. Ông và các em trai của ông, có bị đi học tập theo ông Cụ không?
PVS: Ba anh em trai chúng tôi, hai quân nhân và một dân sự, đều bị đi tập trung
như bao nhiêu người khác: kẻ 9 năm, đứa 3 năm. Riêng phần tôi, không ngụy quân,
ngụy quyền, cũng đi tù mất 4 năm.
Nhân đây, tôi xin nói thêm một chút về hoàn cảnh của tôi. Hoàn cảnh khá đặc biệt.
Vợ tôi là người Pháp. Bà là nhơn viên Sứ quán Pháp, hưởng chế độ ngoại giao, nên
bà đă đảm nhiệm vai tṛ vừa con dâu, người vợ, người chị dâu đi thăm nuôi 4
người đi tù cải tạo, bằng xe hơi mang bảng số ngoại giao, tận các trại tù nằm
trên rừng xanh. Dỉ nhiên vợ tôi đi cùng mẹ tôi, trên xe có tài xế và một nhơn
viên công an có giấy phép đi cùng. Xe không được đến gần nhà tù, phải đậu xa và
mẹ phải vát hàng đến cổng các nhà tù. Vợ tôi chỉ được phép đến tận cổng nơi trại
T20 (đường Phan Đăng Lưu) để thăm nuôi tôi thôi, ở các nơi khác phải ngồi chờ ở
xe. Nhưng đó cũng là một cái đặc ơn lớn Công An Cộng sản dành cho một người
ngoại quốc ở Ngoại giao đoàn Pháp. Nhờ vây năm đầu tiên, mẹ tôi không đến nổi
cực khổ lắm. Về sau, v́ các em tôi bị đi xa quá, đứa Long Giao, kẻ Suối Máu nên
vợ tôi không được phép đưa mẹ đi nữa. Công An viện cớ nguy hiểm.
Cha tôi mất năm 1983, mẹ tôi 1990. Hai ông bà không bao giờ được đi khỏi Việt
Nam, mặc dù có cô em út của chúng tôi, tỵ nạn ở Mỹ, bảo lănh.
VL: Cảm ơn ông cho độc giả VL biết rỏ rất chi tiết đời tư của ông, theo cách
“thành thật khai báo”. Giờ đây, xin ông vui ḷng cho biết qua những giai đoạn
học vấn, tiến thân của ông
PVS:. Ḿnh nghĩ chẳng có điều ǵ cần phải dấu hết cả. Phơi bụng ra dể nói chuyện
với nhau không hay hơn sao?.
Đây là những giai đoạn gian nan trong đời học sinh của ḿnh. Ḿnh xin kể dài
ḍng một chút Xin cảm phiền.
Sau khi ông cụ tốt nghiệp Vơ Bị Liên Quân, ông cụ chọn phục vụ vùng Đệ tứ Quân
khu. Ông cụ nhận nhiệm sở là Tiểu Đoàn Sơn Cước số 6 (6ème Bataillon Montagnard)
đóng tại Ban Don, bà cụ cũng như các vợ của các sĩ quan lúc bấy giờ theo chồng.
Hai anh em Song và Toàn đều được gởi vào Trường Thiếu Sanh Quân Dalat (Ecole des
Enfants de Troupe de Dalat). Trường tọa lạc ở Cité des Pics, cạnh sân Cù, sau
này các cơ sở ấy được dùng để thành lập Trường Đại học Chánh trị Kinh Doanh
Dalat. Chúng tôi, các Thiếu sanh quân, sanh hoạt theo qui chế quân sự tại trường,
nhưng v́ trường thuộc quân đội Pháp quản lư, ngôn ngữ thông dụng là tiếng Pháp,
nên các Thiếu sanh quân đều được gởi đi học văn hóa ở Trường Lycée Yersin. Ban
Tiểu học ở Petit Lycée – trên đường đi đến Couvent des Oiseaux và Thác Cam Ly (cho
những ai biết Dalat). C̣n Trung học, Grand Lycée, ở đường đi Nha Địa dư và cạnh
nhà Ga xe lửa.
Năm 1954, Quân đội Pháp rút, trường Enfants de Troupe phải dọn về Pháp, các
Thiếu sanh quân, hoặc đi Pháp (nếu là Pháp kiều) hoặc nếu muốn tiếp tục, phải về
Vũng tàu (gốc Việt Nam) hoặc bỏ trường. Hai anh em chúng tôi v́ quyết tiếp tục
học chương tŕnh Pháp, và v́ cha mẹ nghèo, nên thi học bổng của Bộ Ngoại Giao
Pháp. Tôi được học bổng vào nội trú Trung học, tức Grand Lycée Yersin. Em tôi
đậu vào nội trú Petit Lycée. Chúng tôi bắt đầu cuộc sống mồ côi địa dư ở Dalat.
Năm 1961, tôi đậu Tú tài 2 Philosophie, chương tŕnh Pháp. Nhưng v́ muốn học Y
khoa hay Dược khoa để đi Quân Y hay Quân Dược, có lương bổng, tôi phải ghi học
PCB (dự bị Y khoa, Physique, Chimie, Biologie), nên tôi phải thi luôn bằng Tú
tài 2 ban Toán, chương tŕnh Việt Nam, để được ghi danh.
Năm 1955, ba tôi bị thương nặng ở trận đánh ở Rạch Cái Cái, Đồng Tháp Mười, với
quân Ba Cụt (chiến dịch Nguyễn Huệ), mù mắt. Sau một năm nằm bệnh viện Cộng Ḥa,
ông xin chánh phủ Việt Nam và được chánh phủ Pháp đài thọ, gởi sang Pháp chữa
mắt. Không chữa được, ông học nghề giáo sư huấn luyện người mù, mẹ tôi được đi
theo để dẫn dắt ông. Chúng tôi lại càng mồ côi địa dư. Suốt năm ở Dalat, chỉ có
hè về ở cùng cậu mợ tôi, sĩ quan Không quân khi Nha trang khi Đà nẳng. Nhờ học
bổng (của Pháp) nên suốt những năm tháng ấy hai anh em chúng chúng tôi được yên
tâm học hành.
Năm 1961, đang học Đại Học Dược ở Sài g̣n, tôi hay tin có cuộc thi tuyển (2 chổ)
vào trường Sciences Politiques Paris, Pháp (Khoa học Chánh trị). Tôi thi đậu và
nhận được học bổng của trường Sciences Politiques Paris để đi học ở Pháp. Năm
đầu, 1962, v́ khí hậu, v́ thiếu ăn, tôi bị nám phổi, phải đổi về một thành phố
ấm áp hơn. Tôi về Toulouse, một tỉnh Miền Tây Nam. Vi phải giữ học bổng, tôi
phải cố gắng học. Năm 1964, tôi ra trường Sciences Polilitiques (Khoa học chánh
trị) Toulouse, Pháp. Năm sau, tôi đỗ Cử Nhơn Luật. Tiến sĩ Luật Công Pháp Quốc
tế và Chánh trị học năm 1971. Tôi cũng cố gắng bổ túc thêm văn hóa với một Cử
Nhơn tự do về Văn chương với năm chứng chỉ về Sử kư, Địa dư, Địa lư Chánh trị,
Xă hội học và Tâm lư học. Cử nhơn Văn chương Tự do v́ không theo một chuyên khoa
nào cả. Nhưng cũng nhờ vậy tôi được đi dạy Sử Địa tại các trường Trung học bốn
năm liền sau khi đă xử dụng hết học bổng Khoa học Chánh trị (3 năm đầu). Sau khi
đậu hai Cao học chuyên nghiệp (Khoa học Quốc tế– Etudes internationales và Khoa
học Quản trị các Xí Nghiệp – Administration des Entreprises) tôi được tuyển vào
làm giảng viên Viện Khoa học Quốc tế. Nhờ vậy suốt thời gian sanh viên tôi lúc
nào tôi cũng có hoặc học bổng hoặc việc làm. Suốt quá tŕnh học vấn tôi luôn
luôn được bảo trợ. Cả luận án của tôi củng được hoàn toàn các xí nghiệp bảo trợ,
v́ chuyên về Tổ chức Hàng Không và Luật Hàng Không.
Tôi gặp Chantal năm 1966, cưới nàng năm 1967 và sanh Phan Văn Song, Lang Cyril
1969, cuối năm Mậu Thân. Lang Cyril và vợ là Maddly tặng cho chúng tôi năm cô và
hai cậu cháu nội.
Năm 1971, tôi được tuyển đi làm giáo sư phó ban Chánh trị học ở Đại học
Sherbrook – Quebec – Canada. Đại học Sherbrook mới vừa được thành lập, Ông khoa
trưởng là bạn thân với ông Giáo sư Chủ nhiệm luận án của tôi, cần một phó ban
chuyên Chánh trị học. Tôi được thầy thương giới thiệu, luơng bổng cao, đời sống
sung túc, vợ tôi vừa đỗ xong Cử Nhơn Anh Văn cũng được đề nghị có việc ngay.
Nhưng khi hỏi ư kiến gia đ́nh, hai ông bà buộc tôi phải về phục vụ đất nước và
gia đ́nh.
VL: Ông có cơ hội sanh sống ở ngoại quốc. Hơn nữa, ông có vợ là người Pháp. Đời
sống ở ngoại quốc thích hợp hơn. Tại sao ông lại lấy quyết định về nước? V́ vâng
lời cha mẹ hay v́ ḷng ái quốc?
PVS:. Thật t́nh lúc ấy, tôi lưỡng lự vô cùng. Gia đ́nh buôc tôi phải về. Thôi
th́ tôi khăn áo ra về.
Cũng nói thêm, việc học hành của tôi, một phần do năng khiếu trời cho, tánh t́nh
ṭ ṃ, thích nghiên cứu đọc sách, đọc báo cập nhựt t́nh h́nh chánh trị kinh tế
thế giới, môt phần có trí nhớ lạ lùng học hành quá dễ dàng, học luật chỉ cần đi
nghe thầy giảng, về nhà chép sạch những ǵ đă ghi, cuối năm chỉ cần đọc lại để
ôn thôi là bài đă in vào trong óc. In đến nhớ cả vết mực, vết dơ trên trang giấy.
Lúc nầy quá lục tuần rồi nên trí nhớ có kém đi. Tôi đi học Khoa học Chánh Trị,
một phần, đấy là một dịp để đi Tây, không tốn tiền cha mẹ, mà c̣n lời nữa. Tôi
chỉ sống với một nửa học bổng thôi vả gởi phân nửa kia dành lại để giúp gia đ́nh,
nuôi các em đi học (sau em Toàn tôi 8 năm, ba mẹ tôi sanh thêm hai đứa em nữa).
Thời ông Diệm cho đi du học những ai ghi danh vào những bộ môn không có dạy ở
Việt Nam. Khi cha tôi nghe Khoa học Chánh trị ông liền bảo, môn ấy chú Ba mầy
đang học đấy. Chú Ba đây là chú Ba Nguyễn Ngọc Huy, người lănh tụ tương lai của
Tân Đại Việt, của Phong trào Quốc gia Cấp Tiến (lúc ấy là năm 1961). Tôi qua
Pháp năm đầu, thường đến Quán Sông Hương – la Rivière des parfums – quán của Bác
sĩ Nguyễn Tôn Hoàn - chạy bàn cùng chú Ba. Hai anh Tiến sĩ Chánh trị Học tương
lai, kẻ ở lớp luận án, mở đường cho kẻ ở lớp cử nhơn. Những năm sau chỉ gặp Bác
Tư và chú Ba ở những dịp thỉnh thoảng lên Paris chơi. Sau 1963 hai ông về Sài
g̣n tham chánh như quư vị đă biết. Tôi lấy thêm chuyên khoa Quốc tế Công Pháp v́
Ba tôi muốn “con phải học giống chú Bông” (Giáo sư Thạc sĩ – agrégé
d’enseignement supérieur - Nguyễn Văn Bông).
Đối với Ba tôi, người đảng viên Đại Việt, tôi đă được may mắn đi học th́ phải
ráng nối nghiệp các chú đă đi trước. Ngày nay khi được anh em đồng chí bầu vào
chức vụ Chủ tịch Đại Việt Quốc Dân Đảng, đó chỉ là lănh nhiệm vụ thôi.
VL: Thế là ông lên đường về nước thật?
PVS. Phải. Tôi về nước. Trước nhứt, làm vui ḷng cha mẹ. Cũng như bao nhiêu du
học sanh khác, tôi được tạm hoản dịch 6 tháng để t́m việc làm. Cha tôi hảnh diện
có đứa con Tiến sĩ dắt đ́ giới thiệu tùm lum. Giới thiệu cả đến Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, nhưng v́ tôi không apply xin việc ǵ cả, nên chẳng có ai “đoái
hoài” đến tôi. Hay thiên hạ “chờ một cái ǵ”. Cái ǵ với một anh Trung tá Mù,
không phe cánh, phe đảng?. Đảng Đại Việt, lúc bấy giờ, vừa bị cái tang Giáo sư
Nguyễn Văn Bông vừa bị sát hại, không muốn thí chốt thằng nhỏ, ra lệnh thằng nhỏ
không được xuất đầu lộ diện, dấu kín tung tích để dành ngày mai.
VL: Với bằng cấp trong tay c̣n mới toanh, ông có xin việc làm không? Ông nhắm
vào nghành nào? Có gập trở ngại không v́ lúc bấy giờ chiến tranh Việt Nam đang ở
cao điểm?
PVS:. Tôi apply vào trường Đại học Luật khoa, apply vào Việt Nam Thương tín. Ở
đâu cũng bị ma cũ ăn hiếp dài dài: “Em phải ráng biết anh biết em, không th́
quai chảo sẽ cài lên áo em”. Nghĩa là em phải biết chịu chơi với đàn anh không
th́ đến kỳ quân dịch sẽ khó có giấy hoăn dịch đó. Đă vậy th́ phải theo vậy. Tôi
bèn tŕnh diện Trung tâm 3, không chờ đủ 6 tháng, và xin đi thụ huấn 9 tuần cơ
bản quân sự, mong được “biệt phái giáo chức” về Đại học Luật. Vốn thuộc diện B
“bất phục ṭng”, lư do là khi đă xin hoản dịch về học vấn để đi du học (năm
1961), khi đậu cử nhơn (1965), đáng lư tôi phải về tŕnh diện lại để xin tiếp
tục hoản dịch để học tiến sĩ, tôi không làm nên ngày nay tôi phải ở đơn vị tác
chiến. Người ta muốn cho tôi đi tác chiến, th́ tôi xin tác chiến.Tôi bèn ghi
danh t́nh nguyện phục vụ đơn vị dù, và được chấp thuận, v́ thế tôi có bằng dù (năm
sauts ngày một saut đêm - thụ huấn với Đại tá Vinh năm 1972). Năm 1972, kẹt Mùa
Hè Đỏ lữa nên 9 tuần kể từ Tết 1972 đến tháng 7 tôi mới được trả về Đại học.
VL: Thế là ông có việc làm ở Đại học?
PVS: Không. Không chịu nổi đồng lương quá thấp nên tôi xin đi làm ở ngoài. Tôi
xin làm với Tín Nghĩa Ngân Hàng và được chấp nhận.
Tôi được ông Nguyễn Tấn Đời trọng dụng, cho tôi làm Phó Giám Đốc Trung Ương,
Giám Đốc chi nhánh Đồng Khánh. Tôi phục vụ Ông Nguyễn Tấn Đời và đă gặp một ông
chủ rất khôn ngoan, chịu chơi và đầy tánh người. Tất cả những ư kiến sáng tạo để
phục vụ khách hàng, phát triển Ngân hàng đều được ông chủ khuyến khích và tạo
điều kiện cho làm việc. Tôi đóng góp những ư kiến khá táo bạo lúc bấy giờ ở Việt
Nam về nghề Ngân hàng. V́ không học nghề Ngân hàng nên tôi không bị g̣ bó bởi
những tập tục Ngân hàng, tôi sử dụng những phương pháp tiếp thị vừa học được ở
Cao học Quản trị xí nghiệp Pháp. Ở Pháp những năm 70 bắt đầu áp dụng những
phương pháp của Mỹ về quản lư thị trường… trong khi đó ở Việt Nam mặc dù đă có
mặt quân đội Mỹ, nhưng ngành ngân hàng vẫn c̣n nặng kiểu của Pháp, thời thuộc
địa.
VL: Rồi tại sao, cơ hội nào, ông vào hảng nước ngọt BGI?
PVS:. Tháng Tư 1973, v́ chánh trị ông Đời và Tín nghĩa Ngân hàng bị đóng cửa.
Ông Đời, thân hữu và nhóm lănh đạo đi tù. Tôi nhờ thủ kỹ, sổ sách trong sạch,
xin băi nhiệm và được hảng BGI (công ty La ve Larue, la ve 33, nươc đá, và nước
ngọt Con Cọp) tuyển dụng. Tôi v́ biết Marketing nên được tuyển vào để tổ chức Sở
Marketing. Để được như vậy tôi đi nhanh qua làm chánh sở Nước Đá, chánh sở Phân
phối vùng biên Sài g̣n. Cuối năm 1974, tôi tổ chức hoàn tất sở Marketing. Tôi
đưôc gởi đi Tân Tây Lan (New Zeland) để Hăng Mac Cann & Ericson, dạy chương
tŕnh Marketing và quảng cáo Coca Cola. Về nước, tôi trách nhiệm chương tŕnh
marketing của Coca Cola và Fanta, và về sau đảm nhiệm chương trinh toàn bộ BGI.
Tôi nhắm trong tương lai tôi sẽ là Giám Đốc Marketing và Thương măi. Việc làm
thú vị, lương bổng cao. Tôi là người Việt Nam đầu tiên của Hăng có chức vụ Giám
Đốc. Tôi vẫn giữ t́nh trạng nhơn viên Đại học Luật, tôi không có giờ dạy, nhưng
sẳn sàng hướng dẫn các em làm Luận án, đi gác thi, hoặc chấm bài. Lương tôi (khoảng
40 ngàn đồng Việt Nam, xin gửi lại trường để trường mua sách cho sanh viên).
VL: Khi nào ông làm Viện trưởng Đại Học Minh Trí của Tân Đại Việt? Xin ông cho
biết vài nét căn bản của Đại Học này.
PVS:. Từ khi tôi đi lính về, tôi cảm thấy phải làm một cái ǵ để đóng góp cho
Việt Nam. Tôi bèn bàn với ông đàn Anh trong Đảng là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Có
nên tổ chức một Trường loại Business School hay Ecole de Commerce của Pháp cho
Sài gonø hay không? Liệu có sinh viên theo học không? Có đáp ứng được cho t́nh
h́nh xă hội kinh tế đất nước không? Một loại trường để dạy những nhơn viên thực
hành và điều hành công việc, có tinh thần trách nhiệm, một thứ tinh thần leader
kiểu Âu Mỹ. Ở Việt Nam lúc ấy đă có tất cả những trường dạy hiểu biết và kỹ
thuật cả rồi (Văn khoa, Luật khoa, Dược khoa, Kỹ thuật Phú thọ, Kinh Doanh Dalat…)
nhưng thiếu một loại trường có chương tŕnh ngắn hạng trong 2 năm đào tạo những
nhơn viên loại cán sự ngân hàng, các cơ sở thương mại. Ra trường, sinh viên có
thể nhập cuộc và làm việc được ngay. Việt Nam không cần Tiến sĩ hay Cử nhơn.
Việt Nam đang thiếu Cán sự. Giáo sư Huy nghe qua lấy làm thích và giao ngay cho
tôi lănh vai tṛ thực hiện những ư kiến của tôi đề xuất.Về mặt phát triển Đảng
c̣n ǵ đẹp hơn là tôi sẽ có nhiều học tṛ làm việc ở khu tư doanh, trong lúc
thầy Huy và thầy Bông đă có nhiều học tṛ của khu Hành chánh.
VL: Xin ông thuật lại cho độc giả VL biết qua về hoạt động của Đại Học Minh Trí.
PVS:. Trường do tôi làm Viện trưởng kiêm Khoa trưởng với thành phần giáo sư hùng
hậu bởi ba vị Tiến sĩ Gs Nguyễn Ngọc Huy, Gs Nguyễn Văn Ngôn và Phan Văn Song
khai mạc niên khóa đầu tiên 1974 – 1975 để cuối cùng chết yểu cùng Đất nước.
Giấc mơ ngày mai Việt Nam có tự do, tôi mong làm lại một Business School. Những
ǵ Việt Nam Cộng ḥa thiếu thốn Việt Nam ngày nay càng thiếu thốn hơn.
Vợ tôi năm 1974, cũng thi đậu vào ngạch Công chức Bô Ngoại giao Pháp, thuộc
ngành Lănh sự. Cái may là giấy bổ nhiệm nhiệm sở đầu tiên là Sài g̣n ngày 1
tháng Năm 1975. Đó cũng là cái rủi mà cũng là cái may.
VL: Vậy sau 30 thánh 4, ông tiếp tục làm việc ở Hảng BGI? Ông có gặp những bất
trắc với Việt Cộng không?
PVS:. 30 tháng Tư 1975, vợ tôi không được rời Sài g̣n v́ phải tŕnh nhiệm sở mới
ngày 1 tháng Năm. Tôi không được rời BGI v́ trước đó khoảng ba tháng, khi Ban Mê
Thuột vừa thất thủ, một phái đoàn Pháp do một Thượng Nghị sĩ (Paul d’Ornano) qua
gặp tất cả các tư bản Pháp, thương gia Pháp kiều và nhơn viên Việt Nam các cơ sở
tư doanh bảo lệnh của tổng Thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing phải bằng mọi giá
giữ các cơ sở tư doanh Pháp. Pháp sẽ có vai tṛ xây dựng lại Việt Nam. Sẽ dùng
Sá g̣n, Vùng Đồng bằng sông Cửu long của Việt Nam Cộng Ḥa để làm đ̣n bẩy xây
dựng lại Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam (lănh thổ thuôc miền Trung) và Việt Nam Dân
chủ Cộng ḥa.
Tôi thuộc hàng Giám đốc và đă là Giám đốc thương mại từ hôm Tết 1975.
30 tháng Tư BGI thuộc K9 và bị quản lư bởi chế độ quân quản. Sau một tháng Ban
Tổng giám cảm thấy không ổn, bèn bàn với tôi là phải làm nhẹ gánh hát, để dễ bề
tiến thoái. Ban Tổng Giám đốc đề nghị tôi làm Fondé de Pouvoir (người Nhận toàn
quyền quản lư). Tôi bèn đề nghị lại là hăy Việt Nam hóa toàn Hảng BGI. BGI không
c̣n quốc tế (I = internationale) cũng chẳng c̣n Đông Dương nữa (I= Indochine) mà
chỉ c̣n Vietnam nhỏ thôi (I = ́ như nằm ́ thôi) và hăy tạo một nhóm Giám đốc bộ
ba, để khi có mệnh hệ nào (tôi gần như chắc chắn phải có mệnh hệ nào). Bộ ba (triumvirat
= tam đầu chế) là đề nghị nâng anh Thủ quỹ và anh phó nhà máy lên hàng Giám đốc
và cùng tôi tổ chức một Ban Giám đốc Quản lư đại diện cầm quyền từ Trung ương ở
Pháp. Các nhơn viên người Pháp phải được di tản để khỏi phải bị hostages (đối
với hảng và cả đối với nước Pháp, v́ Pháp kiều).
Sơ đồ ấy được chấp thuận. Tôi c̣n cẩn thận, khuyên Ban Tổng Giám Đốc giao chữ kư
cho anh Nguyễn Ngọc Lư và gọi vai tṛ của anh là Ông Đại Quyền, tên không giống
ai, nhưng t́nh h́nh cũng không giống ai. Anh Nguyễn Ngọc Lư, cựu phụ tá Giám Đốc
Tài chánh, Thủ quỹ, trưởng ban kế toán, nay là Đại quyền trách nhiệm khối Tài
Chánh Hành Chánh. Anh Nguyễn Ngọc Quang, Giám Đốc trách nhiệm khối Sản Xuất gồm
Nhà Máy Sản Xuất La ve Chợ lớn, các nhà máy nước ngọt Bến Vân Đồn, Cần Thơ và
các nhà máy nước đá Hai bà Trưng và Chợ Quán, và Phan Văn Song Giám Đốc trách
nhiệm Khối Khai thác, nghĩa là tất cả hệ thống thương mại và về sau v́ t́nh h́nh
không giống ai nên trách nhiệm cả vấn đề đi mua hàng nguyên nhiên liệu để sản
xuất. Từ nay nghĩa là bắt đầu Tết 1976, bộ ba Giám đốc toàn người Việt Nam, cá
nhơn tôi nhờ có bà vợ đầm nhơn viên Sứ quán Pháp (toàn Ban Sứ quán cũ của Đại sứ
Mérillon bị đuổi đi – bà xă v́ nhờ giấy nhậm nhiệm sở đề ngày 1 tháng Năm năm
1975, nên thuộc Toà Đại sứ mới, nhờ vậy bà lănh chức vụ Đại diện Ngoại Giao
trong ṿng tuần lễ đầu, bà bảo đảm cả ông xếp lớn của bà là ông Đại sứ Mérillon.
Sau một tuần Ṭa Đại sứ Pháp tại Hà nội quản lư sứ quán Sài g̣n và Lănh sự quán
Sài g̣n. Bà xă chỉ c̣n là một Chánh sở của Lănh sự quán Sài g̣n thôi) nên vai
tṛ của tôi là ra vào Sứ quán, sử dụng telex của sứ quán báo cáo với Paris và
hàng tuần vẫn gởi thư liên lạc với Paris qua diplomatic ponch (valise
dilomatique).
Năm 1976 Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời, Việt Nam thống nhứt, cả nước
bầu quốc hội. Và qua tháng Bảy 1976, Hảng BGI bị quốc hữu hóa, họ gọi là quốc
doanh v́ ngày vào Sài g̣n tất cả đất nước Miền Nam đă bị Quốc hữu cả rồi, chỉ có
dân Sài g̣n và ba ông chủ Tây của tui không biết thôi. Ngày 25 tháng 6 tôi được
gọi lên Pḥng quản lư người nước ngoài ở đường Vơ Tánh, nhận giấy xuất ngoại,
nghĩa là tôi bị trục xuất. Trong lúc thiên hạ mơ được xuất ngoại trốn chế độ,
Việt Nam trục xuất tôi. (Cũng nực cười lúc xưa thời chiến tranh, thiên hạ mơ
xuất ngoại du học trốn lính, ba mẹ tôi biểu tôi về - ngày nay ai cũng muốn dọt,
Việt Nam lại đuổi tôi đi). Tôi phải lo một lô giấy tờ mà tôi không dự bị, nào là
giấy thiếu thuế, thiếu ngân hàng, … nói tóm những ǵ gọi là thủ tục. Ngày
7/7/76, sanh nhựt thứ 34 của tôi, tôi đă sẳn sàng giấy tờ và bắt đầu bàn giao v́
ngày 9/7/ 76 tôi phải rời nhiệm sở. Tôi làm việc ở BGI đúng 3 năm (tôi nhập hảng
ngày 9/7/73 vói chúc vụ Chánh sở nước đá, nay tôi là Giám Đốc thương mại, tôi
thay nhiệm sở và chúc vụ nhanh đến đổi Sở Nhơn viên không thuôc chức vụ của tôi).
Bàn giao xong chiều 8/7, ngày 9 vào Sở Nhơn Viên làm giấy tờ và lănh lương cú
chót.
Tôi nhứt định không đi họp Công đoàn, không đi họp Tổ họp phố ǵ cả. Tôi là Ông
chủ, tôi không bàn với ai cả ngoài ban Giám Đốc, và dĩ nhiên anh Quân quản. Tôi
đi tù cũng đáng tội. Tôi vẫn tiếp tục mang giầy, trong lúc cả nước đi dép. Đi xe,
tôi ngồi băng sau chiếc Peugeot 504 máy lạnh của tôi, tài xế tôi vẫn mặc đồng
phục tài xế, ghế xe tôi vẫn bọc văi trắng, tôi chỉ không mang cravatte thôi. Tôi
vẫn thích hút cigare, và tiếp tục hút cigare (lúc ấy cigare rẽ hơn thuốc lá v́
chẳng ai mua cả) Vợ tôi cằn nhằn, tôi trả lời, tôi dầu có thay đổi thái độ, nếu
họ muốn bắt, họ vẫn sẽ bắt tôi. V́ vậy tôi không đổi thái độ và cuộc sống, v́
tôi cho đổi là hèn. Sau 4 năm tù tôi c̣n 55 kilô, hết bịnh rung tay, nhịp c̣n
12/7 như trai tơ, nhưng bại một cái gị, và rụng tóc, rụng hai cái răng.
Ngày 10/7 tôi lên máy bay (dĩ nhiên giấy nhập cảnh Pháp và laissez-passer Pháp
vợ tôi đă làm sẳn cho tôi rồi) – check in xong hành lư đă gởi, đang đi đến máy
bay (lúc bấy giờ phải đi bộ ra máy bay rồi trèo thang lên phi cơ), một chiếc xe
jeep ghé đến và mời ông PVS về Bộ Kinh tế làm việc và sẽ đi chuyến ngày mai.
Chuyến ngày mai sẽ là chuyến ngày 6/6/1980, gần 4 năm sau.
Tôi được đưa về khách sạn Majestic ở pḥng sang, có quạt máy, và bắt đầu làm
việc, nghĩa là phải trả lời những câu hỏi vớ vẫn chả đâu vào cả, trên trời dưới
biển kiểu BGI là ǵ, ai là ông chủ? Phần hùn của anh là bao nhiêu? Nói tóm lại
câu hỏi câu giờ để chờ một quyết định ǵ. Trong khi đó vợ tôi đă biết tôi bị bắt
rồi. Anh Pháp trưởng trạm Air France Sài g̣n đă báo động Sứ quán Pháp và Sứ quán
Pháp đă bắt đầu đặt câu hỏi. Cái ấy mới là cái kẹt của tôi: khi Sứ quán Pháp hỏi
về tôi, anh Công An đinh ninh tôi có quốc tịch Pháp. Họ vẫn cho tôi là người
Pháp, và họ bắt tôi để khỏi trả lời cái tôi bội ước. BGI mất cơ sở thương mại v́
anh Giám Đốc đă “lũng đoạn nền kinh tế xă hội chủ nghĩa bằng những phương pháp
quản lư tư bản chủ nghĩa”
Chúng tôi bắt anh Giám Đốc này v́ anh nầy có tội, bằng chứng là chúng tôi không
bắt hai anh kia, một anh điều hành nhà máy, một anh giữ tiền. Anh nầy là Anh
quản lư thực thụ nghĩa là Anh nầy mới là người trách nhiệm phá hoại nền kinh tế
xă hội chủ nghĩa theo chỉ thị của các anh - nếu có. Nếu không có các anh phải
chứng minh. Chúng tôi buộc ḷng phải xiết tài sản của các anh.
Vợ tôi bắt đầu tốn tiền để đi ḍ hỏi xem tôi ở đâu? Sau ba tuần làm việc ở
Majestic, ăn uống tương đối b́nh thường, cơm sáng nước mắm, trưa cơm canh rau,
tối cũng thế, lâu lâu độ hai ngày hay ba ngày có một dĩa cá. Có khi ăn một ḿnh
có khi có cán bộ kinh tế đến làm việc. Tôi viết sơ đồ tổ chức BGI cở năm lần.
Cắt nghĩa thế nào là một tập đoàn thương măi quốc tế cũng vào khoảng 5 lần, một
lần thuyết tŕnh cho 5/6 cán bộ khác nhau.
Tối 1 tháng 8 họ chở tôi về nhà, xét nhà tôi đọc giấy “tạm giam” tôi cho vợ tôi
nghe, bảo vợ tôi sửa soạn hành lư cho tôi xa nhà một tuần. Từ nay tôi có quần
lót áo lót để thay, có bàn chải và kem đánh răng (ở khách sạn tôi đánh răng bằng
ngón tay và áo quần lót cùng sơ mi thay giặt trong pḥng, quần tây khỏi giặt, vớ
cũng không v́ ở trong pḥng đi chưn không). V́ đi về bất ngờ vả lại vợ tôi người
Pháp nên không biết mùng và pyjama, tôi chỉ có hai bộ quần áo lót, hai bộ đồ mặc
ngoài, hai cái mù-soa và đôi sandale, vợ tôi cũng bỏ theo một nải chuối, ba hộp
paté heo, một cây thuốc 555 và một bao diêm, đi một tuần mà. Tôi ngu quá c̣n nói
thôi em đưa vừa vừa vậy, chỉ có một tuần thôi mà, c̣n nếu ở thêm họ sẽ cho em
tiếp tế thêm.
Thiệt nghèo mà ham, anh chàng cán bộ cũng nói theo giọng ơn nghĩa, chúng tôi sẽ
đối đăi với anh tử tế. Tôi ngu tối nghĩ rằng cũng chả sao cả, ba tuần ḿnh ở
Hôtel Majestic mà, có chết thằng ma nào đâu? Theo luật “tạm giam” là có thời
gian tánh. Ḿnh là dân luật mà, Habeas corpus, Tây Ăng Lê nó 24 giờ, 48 giờ,
thằng Việt Cộng có láo lắm cũng hai ba tuần là phải ra thẩm phán, ḿnh có tội
phải ra Ṭa. Ḿnh là Thầy luật đây mà. Thế là tôi ra đi vào chỗ chết một cách
b́nh thản. Vợ tôi nó khóc. Tôi c̣n nạt nàng bảo nàng phải giữ thể diện. Ḿnh là
dân trí thức mà, không được phô trương biểu diễn khóc lóc bậy bạ trước thiên hạ
dzậy ! Tôi nghiệp sao lấy thằng chồng ngu dzậy !
VL: Ông đi tù thật sao? Và bao lâu? Có giống như những người đi học tập cải tạo
không?
PVS. Tôi ở biệt giam trại Trần Hưng Đạo 3 tháng. Ở chung với các tứ chiến giang
hồ, thuở ấy có một lô chiến dịch bắt giam: văn nghệ sĩ phản động, cuộc nỗi dậy
nhà thờ Vinh sơn, đánh Tư sản mại bản kỳ 2. Tôi sống cạnh các vị có tên tuổi nhà
văn, nhà sư, nhà tu, học giả, trí thức, cựu công chức
Tôi viết tự kiểm cuộc đời tôi vào khoảng 20 lần, sơ đồ BGI cả gần một chục lần,
bị hỏi xa luân chiến, sáng, chiều, khuya.
Trại T20, khu C1 pḥng 7, rồi pḥng 9, sau đó khu C2 pḥng 5 cho đến ngày được
“tạm thả”. Lâu lâu được đi du lịch lên An khê trại lao động một tuần, đi làm củi
(suưt chết), đi giải phóng Cam Bốt hai tuần, để cho biết là anh được chúng tôi
ưu đăi.
VL: Như vậy ông đi tù cũng khá đầy đủ. Nếu Nhà cầm quyền cộng sản cấp bằng cấp
cho những người ở tù th́ ông cũng phải được văn bằng Tiến sĩ nữa? Nhưng tại sao
ông được ở tù ngon lành vậy?
PVS:. Không có ǵ cả: Cắt nghĩa cái quốc doanh hóa BGI bằng bảo tên Giám Đốc PVS
lănh hết một tội. Bằng chứng tội danh “âm mưu phá hoại nền kinh tế XHCN Việt Nam
và âm mưu lũng đoạn thị trường”.
PVS phải là hostage. Bằng chứng gần một năm sau, khám phá ra là PVS không có
quốc tịch Pháp. Sau khi PVS giận dữ trả lời câu nói muôn thuở “anh phải thành
thật khai báo, nhũng ǵ anh khai báo không qua mắt nhơn dân. Anh khai báo làm
sao mà chánh phủ Pháp của Anh cũng không thèm lănh Anh ra nữa!” Tôi giận quá nói
“các Anh lúc nào cũng láo lếu, tai mắt nhân dân nào, tai mắt nhân dân ǵ? Tôi là
người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, chánh phủ Pháp lănh tôi ra phải trả giá với
mấy anh. Các anh bội ước ăn cắp tài sản của tư bản Tây. Các anh thèm đớp cái của
nổi. Mấy Anh bỏ mất cái của ch́m. Ngày nay, cá nhơn Anh không biết chứ Trung
Ương Cộng sản phải biết tiền viện trợ, nay chánh phủ Pháp đă dùng để bồi thường
thiệt hại bị mấy anh đớp tài sản. Những ǵ ở VN là cái xác cái vơ không mang đi
được, tiền bồi thường là tiền mặt, tiền thiệt .
Hắn trả lời với tôi một cách giận dữ “Anh người VN thiệt sao? Sao anh không
nói?”
- Tôi mặt VN, nói tiếng VN, ttại sao tôi phải khai báo tôi là người VN? mà mấy
anh có bao giờ hỏi tôi là VN đâu?.
Mất mặt nên họ cho tôi ở thêm 3 năm nữa. Nhưng cũng nhờ thế, họ không bao giờ
hỏi tôi có đi lính VNCH không? Cũng không nghĩ liên hệ giữa tôi và cha tôi, cũng
quên ông Giáo sư Đại học.
Trong bài thân thế tôi, tôi chỉ nói cha tôi là thầy giáo hiệu trưởng Trường mù,
tôi có học bổng đi Pháp du học, về nước làm BGI thôi.
VL: Ở tù suốt thời gian dài, ông có suy nghĩ ǵ như một bài học?
PVS:. Nghĩ rằng tội tôi làm Giám đốc BGI là to rồi họ quên việc khác. Cám ơn
Chúa đă che chỡ tôi.
Ở tù ở VN với CS thật là Chúa thương tôi, tôi được che chở qua bao nhiêu hiểm
nghèo, và tôi được “Hiểu nhiều về con người VN và yêu người VN hơn”. Nếu tôi
không bị tù tôi tôi chỉ biết VN và yêu VN như tôi yêu xứ Pháp và con người Pháp
vậy thôi.
Tôi ngày nay đấu tranh cho Nhơn quyền cho Tự do trở lại VN v́ tôi mong thấy được
một VN tiến bộ, người VN thoát cái cực khổ muôn thuở truyền kiếp.
Người VN xem cái nghèo cái khổ là văn hóa VN cổ truyền. H́nh ảnh Em bé chăn trâu
ngồi ḿnh trâu được xem là VN muôn thuở. H́nh ảnh tát nước gầu ṣng gầu đôi mà
lấy đó làm h́nh ảnh quảng cáo VN thật là khốn nạn. H́nh ảnh anh phu đạp nước,
h́nh ảnh dùng xe đạp, xe gắn máy, xe xích lô để chuyên chở công cộng là một h́nh
ảnh kém văn hóa. Có mong xe hơi mới tâu được xe hơi. Có mong nhà ngói mới tậu
được nhà ngói. Phải có văn minh bánh xe, chứ măi măi văn minh gánh, văn minh
đội, th́ không làm sao khá được?
VL:. Ngày nay, nh́n lại thời gian qua, ông có cảm tưởng ǵ? Những suy nghĩ ǵ về
cuộc đời?
PVS:. Tôi ra tù “tạm thả” nên quên không nhớ ngày. Từ ngày 2 tháng 8 1976 là
ngày tôi vào cachot Trần Hưng Đạo, bị black out ngày tháng mất ngày tháng, tôi
chỉ biết là ra sau ngày 1 tháng Năm 1980 Lễ Lao Động, v́ trong Trại có nói đến
lễ Lao Động. Sau đó tôi như là người được tĩnh dậy ở Pháp ngày 6 tháng 6 1980.
Tôi thường nhớ ngày 6/ 6 v́ ngày ấy ám ảnh tôi rất nhiều.
Bà vợ say mê theo Phật giáo tây tạng. Bà kẹt trong nghành ngoại giao nên phải di
chuyển nhiệm sở luôn. Đến một lúc, không biết tại sao, bà một hôm đề nghị với
tôi là bà t́m cho tôi một người để lo đời sống cho tôi để bà an tâm theo đuổi
cuộc sống nghề nghiệp và tu hành của bàø. Nghe qua, tôi ngở ngàng. Nhưng sau đó,
bà quả quyết và quả thật, bà đă chuẩn bị cho tôi một người phụ nữ, giới thiệu
với tôi. Và chính là bà vợ mà tôi ăn ở cho tới ngày nay, có với nhau 3 cậu trai
ngoan, học giỏi. Bà vợ hiện tại của tôi tên Hélène, cưới nhau năm 85.
Không phải suy nghĩ. Đúng hơn, ḿnh có những mơ ước về đất nước. Được sự may mắn
sống ở ngoại quốc nhiều hơn ở VN, tôi mong VN phải biết nắm rơ vận mệnh của
ḿnh. Cái khổ của ḿnh có thể vượt qua được, phải biết cầu tiến. Giới trí thức,
nhà cầm quyền, những người biết yêu đất nước hăy cố gắng học cái giỏi của người
ngoài. Phải có tinh thần trách nhiệm.
Về giáo dục, phải chú trọng đến đức dục cho trẻ con. Học tṛ VN giỏi toán, nhưng
giỏi toán mà không thực tiển.
VN nay có một catalog hoạn nạn xin các ÔNG làm business t́nh thương. Trẻ em mù,
trẻ em cùi, tàn tật, mồ côi,... cần thương ai, loại nào, VN cũng có cả.
Ông cầm quyền giầu có phải làm sao?
VL: Xin hỏi một câu hỏi tế nhị: ông bà chắc phải sống hạnh phúc?
PVS:. Phải. Tôi có may mắn là được các bà vợ đều thương, mà c̣n thương cả Việt
Nam của tôi nữa.
Bà Hélène là một phụ nữ Việt Nam thuần túy mới đúng. Một mẫu người phụ nữ miệt
vườn v́ bà chỉ biết chăm lo con cái, lo cho chồng, không bao giờ biết son phấn,
xe sua như phần đông phụ nữ Pháp ở tuổi của bà.
Tôi đi hàng tháng ở Huê kỳ, hoặc lên Paris cả tuần lễ, lúc nào bà cũng vui vẻ và
ngầm chia sẻ với tôi những ưu tư, những mong ước của tôi. Nhưng nào bà có biết
những ưu tư, những mong ước của tôi chẳng khác nào người đang muốn đôi đá vá
Trời !
Bà vợ trước của tôi đă cưới vợ cho tôi. Bà hành sử theo văn hóa cổ Việt Nam. Tôi
nghĩ các bà Việt Nam ngày nay cũng nên lấy trường hợp của bà vợ tôi mà áp dụng
với ông chồng của ḿnh thử xem ông chồng sẽ phản ứng ra sao?
Xin chúc thành công.
VL: Xin thay mặt độc giả, VL cảm ơn ông. Và cũng xin được hẹn một dịp khác.