Phỏng Vấn
Việt Luận Phỏng vấn
Chị Đặng Mỹ Dung, tác giả “Ngàn
Giọt Lệ Rơi”

Lời toà soạn: Cuộc chiến
Bắc Nam kéo dài hơn 20 năm đă làm cho hầu hết những gia đ́nh VN đều phải
chịu cảnh con xa cha, vợ xa chồng, gây ra những mất mát quá lớn về cả
vật chất lẫn tinh thần và sau cuộc chiến chấm dứt vẫn c̣n để lại biết
bao vết thương, thù hận, ḷng người chia cắt... kéo dài đến hôm nay.
Gia đ́nh chị Đặng Mỹ Dung là một trường hợp khá tiêu biểu của những gia
đ́nh ở miền nam VN. Sau 1954, cha chị tập kết ra Bắc, c̣n chị em chị
cùng mẹ ở lại trong Nam được nuôi dưỡng trong môi trường biết quư trọng
giá trị của tự do và hiểu rơ bản chất của chủ nghĩa CS. Chị lập gia đ́nh
với một sĩ quan cao cấp người Mỹ và rời khỏi VN trước ngày mất nước. Sau
1975, cha chị là Đặng Quang Minh lúc đó là đại sứ của CSVN tại Moscow
gặp lại gia đ́nh lần đầu sau hơn 20 năm chia cắt tại Paris. CSVN nghĩ là
có thể dùng lợi dụng chị qua t́nh cảm cha con để xây dựng một mạn lưới
gián điệp tại Hoa Kỳ. Chị Đặng Mỹ Dung hành xử trong trong cương vị là
một công dân Hoa Kỳ có trách nhiệm bảo vệ quê hương thứ hai. Chính chị
đă giúp cơ quan t́nh báo Mỹ phá vỡ mạn lưới gián điệp của CSVN tại Mỹ.
Tất cả những chi tiết đó và cuộc đời của ḿnh đều được chị kể lại trong
cuốn tự truyện “Ngàn Giọt Lệ Rơi” sẽ xuất bản bằng tiếng Việt trong năm
nay.
Nhân dịp chị Đặng Mỹ Dung qua Úc để thăm bạn bè và thăm lại những người
từng là trẻ mồ côi trong Cô Nhi Viện Minh Trí tại Sàig̣n trước đây và
hiện đang sống tại Úc, Việt Luận có buổi tâm t́nh với chị hầu có thể
giúp cho độc giả biết thêm về người phụ nữ bản lănh này
.
Việt Luận (VL): Tuổi thơ ấu của
chị trải qua gần 10 năm trong mật khu chống Pháp, chị có thể nói thêm về
tuổi thơ của ḿnh được không?
Chị Đặng Mỹ Dung (ĐMD): Tôi sanh
ra trong một gia đ́nh đi làm cách mạng chống thực dân Pháp. Hai người
anh và một người em trai của má tôi là bạn thân của ba tôi thuở c̣n đi
học, gia đ́nh bên nội các chú các bác đều là Việt Minh. Cuối năm 1939
đàn ông trong đại gia đ́nh của chúng tôi bị Tây bắt đày ra Côn Đảo, đến
năm 1945 cùng với muôn ngàn người tù khác ba tôi được trả tự do. Năm
1946 tôi ra đời tại tỉnh lỵ Cần Thơ nhưng chưa đầy một tuổi th́ ba tôi
dẫn vợ con vô vùng giải phóng.
Tôi rất thích khi VL hỏi đến tuổi thơ của tôi, bởi v́ nó như một cuốn
film trắng đen vẫn c̣n mới trong tâm khảm của tôi, nó vẫn c̣n linh động,
vẫn c̣n âm thanh quen thuộc dù đă qua 50 năm rồi. H́nh ảnh trong tuổi
thơ của tôi là những năm tản cư, chạy giặc, bom đạn trên máy bay củaTây
từ trên máy bay bắn xuống nhưng tôi nhớ hoài mỗi lần Tây bắn xong người
trong làng xúm t́m nhau coi ai c̣n ai chết. Người sống tiếp tục đấu
tranh không có ai bỏ cuộc. Được nuôi dưỡng trong cái nôi cách mạng,
tiếng hát ru em là những chịi hùng ca nặng t́nh nhà, t́nh dân tộc. Gương
sáng là những người yêu nước ở mọi từng lớp trong xă hội Việt Nam sánh
vai nhau phục vụ cho một lư tưởng. Họ vào trong vùng giải phóng từ thành
thị đến thôn quê, họ là những người dân chày, những anh nông dân, những
thiếu nữ tóc c̣n xanh. Họ là những bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, thầy
giáo. Có người du học bên Pháp vừa về tới Việt Nam là đi thẳng vô trong
khu theo cách mạng, có người thoát ly gia đ́nh bỏ lại mẹ già, cha bịnh
mà đi theo cách mạng chống thực dân Pháp. Anh chị em chúng tôi là những
người bạn tí hon của các anh các chị bộ đội và cán bộ, khi họ nhớ nhà,
nhớ bữa cơm gia đ́nh họ t́m đến với chúng tôi.
Tôi c̣n nhớ những buổi chiều vàng thật đẹp trên sông trước cửa nhà tôi,
anh em tôi ngồi nghe má kể chuyện đời xưa, c̣n ba tôi th́ chờ đêm tối
không trăng kể chuyện ma.
Lúc tôi lên 9 tưổi, Việt Minh thắng trận, Tây về Tây. Đất nước thanh
b́nh chỉ được một thời gian ngắn, nhưng hoà b́nh trong nhà tôi chỉ được
có mấy tháng thôi v́ ba tôi cho vợ con biết Hiệp Định Geneve đă kư, c̣n
nhỏ quá tôi chỉ biết cái tên xa lạ đó nhưng không biết Geneve ở đâu, chỉ
biết ở đó đă định đoạt cho cảnh phân ly của gia đ́nh tôi. Ba tôi đi tập
kết ra Bắc, má tôi và 6 chị em ở lại miền Nam.
Tôi may mắn được nuôi dưỡng trong cái nôi cách mạng để lớn lên tôi biết
yêu nước, may mắn hơn nửa là được làm công dân ở miền Nam để tôi có tự
do yêu nước với người dân. Nếu má tôi không can đảm nuôi con một ḿnh
th́ chúng tôi sẽ thành những dụng cụ yêu nước cho CSVN rồi.
VL: Sau khi ba chị tập kết ra
Bắc vào năm 1954 yếu tố nào đă nung đúc chị có một tinh thần chống cộng
rơ ràng, chớ không giống như phần đông những gia đ́nh có cha theo Cộng
sản khác?
ĐMD: Má tôi làm vợ của một nhà cách mạng chống Pháp, dù chị không có gia
nhập hội Phụ Nữ như những người vợ cách mạng khác nhưng má tôi sát cánh
bên chồng, bên con cho nên má tôi hiểu khi Việt Minh ló đuôi Cộng Sản.
Anh chị em chúng tôi lớn lên với thăng trầm của đất nước, qua t́nh yêu
nước của ba tôi mà anh chị em chúng tôi biết yêu nước. Sau khi ba tôi đi
tập kết chúng tôi tản cư về ở với ông ngoại chị ngoại, ông lại là người
yêu nước thuần túy hơn, ông chống Cộng Sản, ông chống Hồ Chí Minh, nhưng
ông yêu thương những người con, người rể của ông, nhờ ông ngoại cho tôi
thấy phân biệt rơ ràng nầy mà tôi không đi lạc đường mà tôi vẫn không
thấy ḿnh tội lỗi khi tôi từ chối không nối gót ba tôi.
VL: Làm sao chị tạo được mối
quan hệ với những nhân viên ngoại giao và gián điệp của CSVN sau năm
1975? Và chị có thể kể lại cho độc giả biết về vụ án Trương Đ́nh Hùng có
liên hệ trực tiếp đến chị?
ĐMD: Tháng 5 năm 1975, ba tôi trở về miền Nam trong chiến thắng của Hà
Nội nhưng cá nhân của ông là chiến bại v́ vợ con sợ Cộng sản quá nên đă
bỏ chạy qua Mỹ trước đó 2 tuần. Trời thương gia đ́nh tôi cho nên đưa đẩy
cho ba má tôi gặp nhau trên nước Pháp do ông Lê Duẩn bạn chí thân của ba
tôi đứng sau lưng giúp đở. Trong bộ Ngoại Giao của Hà Nội lúc đó ai cũng
biết là ông Lê Duẩn tin tưởng ba tôi lắm. Được biết trong lịch sử của
đảng Cộng Sản ba tôi là đảng viên lần đầu được nhà nước cho phép gặp vợ
con ở nước ngoài, cho nên khi tôi gặp ba tôi ở Paris th́ nhũng cán bộ
của hai toà đại sứ Hà Nội và MTGPMN đều đón tiếp con gái của ba tôi một
cách nồng nhiệt. Phải thành thật mà nói có những đồng chí của ba tôi
cũng ở cùng hoàn cảnh xa vợ xa con suốt thời kỳ chiến tranh cho nên họ
hết ḷng giúp cho cuộc hội ngộ nầy trọn vẹn cho ba má tôi và tôi. Nhưng
khi tới Paris, gặp một vài ông cán bộ t́nh báo th́ mới biết họ đă làm
“home work” kỹ càng về tôi, biết chồng tôi là sĩ quan t́nh báo của Hải
Quân Mỹ làm việc tại Ngũ Giác Đài, là phi công của Hải Quân, họ muốn làm
thân với tôi v́ con mồi lớn kia cùng một lúc Hà Nội bắt đầu củng cố lại
nội bộ của Việt Kiều Yêu Nước. Bất đắc dĩ tôi nhận lời làm tai mắt cho
ông chủ tịch của Việt Kiều Yêu Nước, trụ sở tại Paris. Trùm gián điệp
Cộng Sản Việt Nam cũng cho tôi công tác để móc nối với gián điệp của họ
ở Mỹ.
Mọi liên hệ giữa tôi và cán bộ Cộng Sản Việt Nam tại Paris, Mỹ và các
nước khác đều được báo cáo vói CIA trong những chịi báo cáo tôi tŕnh
lên cho sở nầy.
Nói tóm lại, nhân viên Bộ Ngoại Giao và gián điệp của CSVN lợi dụng con
của ba tôi chớ tôi không có ŕnh nhà họ trước.
Vụ án của Trương Đ́nh Hùng đă có nhiều báo chí, sách vở nói đến, trong A
Thousand Tears Falling tôi cũng có ghi chép lại những chi tiết từ ngày
đầu tôi được t́nh báo CSVN giới thiệu tôi với Trương Đ́nh Hùng cho đến
ngày ông ấy bị FBI bắt.
VL: Xin lỗi cho hỏi một câu riêng
tư: Sau khi giúp chính phủ Mỹ phá vỡ được mạn lưới gián điệp lớn CSVN
tại Mỹ, th́ mối liên hệ giữa chị và cha chị ra sao? Chị có bao giờ
thuyết phục ba chị bỏ lư tưởng cộng sản?
ĐMD: Cộng sản chia đôi đất nước, làm cho con xa cha, vợ xa chồng chúng
tôi không được lớn lên bên cạnh ba tôi, rồi khi ba tôi ǵa yếu chúng tôi
cũng không được chăm sóc ông, nhưng gia đ́nh tôi được cái phước là dù xa
nhau trên 20 năm nhưng chúng tôi thương yêu nhau, kính trọng nhau trong
tinh thần của những người Việt Nam yêu nước. Một khi anh yêu nước thật
sự, hành động và việc làm của anh nói lên t́nh yêu đó. Ba tôi biết tôi
yêu nước, ba tôi biết tôi không chấp nhận sự có mặt của Cộng Sản tại
miền nam Việt Nam. Chúng tôi vẫn yêu thương kính trọng nhau sau khi biết
tôi giúp cơ quan t́nh báo Mỹ phá vỡ mạn lưới gián điệp của CSVN tại Mỹ.
Sau 30 tháng 4 năm 75 tôi được gặp ba tôi ba lần, lần nào tôi cũng nói
khéo khuyên ba tôi hưu trí t́m một quốc gia nào khác ở dưỡng ǵa với má
tôi, dĩ nhiên không phải là tỵ nạn Cộng Sản ở nước Mỹ. Ba lần tôi mời ba
tôi ở lại, ba lần tôi làm cho ba tôi thất vọng vô cùng v́ ba tôi cho đó
là một ư nghĩ vô cùng ích kỷ. Ông muốn tiếp tục phục vụ đất nước và dân
tộc dù biết Đảng của ông đă phản bội ông rồi.
T́nh cha con của chúng tôi không sứt mẻ, chỉ buồn cho gia đ́nh tôi là
ngày ba tôi qua đời CSVN không cho chúng tôi về dự đám tang. Gia đ́nh
bên ngoại “đánh dây thép” cho chúng tôi biết tin ba tôi qua đời.
VL: Yếu tố nào đă thúc đẩy chị
viết tác phẩm “Ngàn Giọt Lệ Rơi”?
ĐMD: Câu chuyện của những người đi tập kết đâu có giấy mực nào ghi chép
hết. Phần tôi, tôi viết để thế hệ con cháu của tôi nó biết gia đ́nh Việt
Nam của nó, hy vọng như vậy. Tôi viết để ghi ơn ông chị cha mẹ anh chị
em của tôi và những người đi qua trong đời tôi đă giúp cho tôi thành
người. Trăm ngàn gia đ́nh có thân nhân đi tập kết cũng muốn kể lại
khoảng đời nầy của họ, nhưng phần đông không viết được v́ họ đang ở tại
Việt Nam, có những người sống ở hải ngoại nhưng họ không dám ra mặt sợ
thân nhân của họ bị phiền phức với nhà nước ở Việt Nam. Lần cuối cùng
gặp ba tôi ở Luân Đôn, tôi có cho ba tôi biết là mấy chục năm qua tôi
viết nhựt kư, ba tôi có vẻ ưu tư rồi khuyên tôi nên viết thành sách cho
con cháu trong gia đ́nh biết về tổ tiên ông chị của chúng nó.
Tôi nhớ hoài câu nói ngắn ngủi
nhưng thành thật vô cùng của một đảng viên Cộng Sản: “Con viết dùm cho
ba, hoàn cảnh chưa cho phép những người như ba viết hồi kư, chỉ có chánh
phủ mới được viết hồi kư thôi con à.”
VL: Được biết chị đang dịch tác
phẩm này sang tiếng Việt, xin chị cho biết khi nào th́ hoàn thành?
ĐMD: Tôi cám ơn chồng con, bè bạn và VL đă hỏi thăm tới đứa con tinh
thần của tôi. Cho phép tôi trả lời rất dài ḍng để tất cả biết tại sao
10 năm sau khi bản Anh ngữ A Thousand Tears Falling xuất bản rồi mà tôi
chưa hoàn thành bản Việt ngữ. VL là người thứ mấy chục hỏi tôi câu nầy,
nhưng VL là người đầu tiên tôi trả lời rơ ràng. Vợ chồng tôi chỉ có một
đứa con, nó lớn nhanh quá làm cho tôi luống cuống, viết lại quyển sách
nầy bằng Việt ngữ cũng gần giống như nh́n con tôi trưởng thành, đủ lông
đủ cánh nó bay đi. Nó là một đứa con tuyệt vời của vợ chồng tôi, khi nó
trưởng thành nó có bổn phận với đời, với xă hội của nó. Cũng như con của
tôi, cuốn sách nầy sẽ được vô nhà in, được đến tới tay của đọc giả xa
gần, cho tôi bồng bế nó cho đến cuối năm nay.
VL: Trong đời chị, chị đă làm
được nhiều “chuyện lớn”, nhưng điều ǵ làm chị hănh diện nhất và chị có
điều ǵ hối tiếc không?
ĐMD: Chuyện lớn nhứt là có con, thương con và được nó thương lại. Điều
tôi mong ước thầm kính nhứt nhưng ít khi nào nhắc đến trước công chúng
đó là được cùng với ba tôi viết một quyển sách. Thôi th́ kiếp sau vậy.
Home
|