Phỏng Vấn Đặc biệt của Việt Luận:

Chúng ta có thể rút ra được bài học ǵ từ biến cố 30/4/1975?

                
LTS: Ngày 30.4.1975 là ngày đáng nhớ nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Ngày mà ḍng sinh mệnh dân tộc thay đổi hẳn, bị họng súng của nền chuyên chính vô sản áp giải vào kỷ nguyên của tối tăm, đói nghèo, tụt hậu và tan vỡ niềm tin. Ngày mà, ít hay nhiều, ở những cấp độ khác nhau, nền chuyên chính đổi đời hàng chục triệu người, từ cảnh ly tán, tan nát tương lai, tan nát gia đ́nh hay tù đày, chết chóc, mất quê hương v.v...
“History repeats itself because nobody listens” - Lịch sử lập lại v́ người ta không biết học hỏi; nhà văn Mỹ Laurence Peter đă nhận định như thế và chúng ta đă học được ǵ từ cái ngày đó? Ngày 30.4.2008 sắp tới gần và Việt Luận đă phỏng vấn một số nhân vật như Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Phan Văn Song, Vũ Ngọc Tấn, Nguyễn Gia Kiểng, Steve B. Young, LM Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Khắc Toàn, GS Vũ Quốc Thúc, Cựu Đại tá Nguyễn Huy Hùng, Trần Thanh Hiệp, Bùi Tín v.v... Loạt bài phỏng vấn này lần lượt được đăng tải làm ba kỳ: tuần rồi (thứ sáu 18/4), tuần này và tuần tới. Kính  mời quư bạn đọc theo dơi.

 

Cựu Đại tá NGUYỄN-HUY HÙNG, Nguyên Phụ tá Tổng Cục Trưỡng Tổng Cục Chiến Tranh Chính-Trị kiêm chủ-nhiệm Nhật-Báo TIỀN TUYẾN 

Đây là câu hỏi mà nhiều người đă đưa ra từ hơn 30 năm nay, mỗi lần 30 tháng 4 Dương lịch đến hàng năm.

Người ta đă đặt câu này ra với mọi giai cấp xă hội thuộc các nước trên toàn thế giới, chứ không riêng cho những người Việt Nam đang lưu vong tỵ nạn Cộng sản mà thôi.

Mỗi người đă có những câu trả lời khác nhau, tùy theo khả năng hiểu biết và sự liên hệ của mỗi người trong lănh vực chuyên môn và giai cấp xă hội của riêng họ.

Theo thiển kiến, th́ những khiá cạnh mà mỗi người đă trả lời cũng chỉ hầu như nhắc lại những khiá cạnh đă dẫn đến biến cố 30-4-1975, mà bản thân người đó đă từng là một nhân chứng hoặc đă có dự phần, rồi đưa ra những đề nghị chủ quan về những ǵ họ nghĩ là nên hành động trong hiện tại và tương lai một cách khôn ngoan hơn, để đừng rơi vào những thất bại quá khứ, cũng như t́m cách hàn gắn cho những vết thương do biến cố 30-4-1975 đă gây ra được lành hẳn mà thôi.

Do đó, Tôi không lập lại những ǵ đă được những người khác tŕnh bầy.

Theo nhận xét nông cạn và rất b́nh dân riêng của Tôi th́, bài học mà chúng ta có thể rút ra từ biến cố 30-4-1975 là, Quốc gia cần có một chính sách giáo dục nhân bản, để mọi người dân có đủ tri thức mà nhận định thấy được cái ác và cái thiện, điều phải và điều trái, cái nên và cái không nên, lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, và đặc biệt là phải biết tự tin và suy nghĩ quyết định thật sáng suốt về quyền lợi và trách nhiệm hành động của mỗi cá nhân trong xă hội.

Một vài thí dụ chứng minh,

Nếu Hồ Chí Minh không ngu tối mù quáng chấp nhận làm tay sai cho Quốc tế Cộng sản do Lenine sáng lập, và do Staline, Mao Trạch Đông thực hiện trên đất nước Nga và Trung Hoa, rồi  kiên tŕ ngoan ngoăn tuân theo lệnh các quan thầy đem vào thực hiện trên đất nước Việt Nam, th́ làm ǵ có cuộc chiến tranh ư thức hệ trên quê hương đất nước Việt Nam, làm hao tổn xương máu của bao nhiêu triệu sinh linh vô tội của giống ṇi Việt Nam.

Nếu không có Bảo Đại và một số lănh đạo khác kế theo, suy nghĩ nông cạn hám muốn quyền hành, ỷ nhờ vào các thế lực Tư Bản để bị lôi cuốn đưa đất nước dân tộc tham dự vào cuộc chiến tranh giành uy thế giữa hai thế lực Tư Bản và Cộng sản, th́ cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” đă không xẩy ra trên quê hương Việt Nam mến yêu của chúng ta.

Nếu những người trí thức khoa bảng được đào luyện tại những nước Thực dân đă đô hộ Việt Nam, biết phát huy sở kiến học hỏi được và tinh thần tự chủ tự cường độc lập, yêu nước thương ṇi thật sự, không ích kỷ luồn cúi nịnh bợ kẻ đô hộ để hưởng thụ như những tên gia nô tài phiệt, th́ dân chúng đâu có phải chịu cảnh ngu dốt, không có cơ hội phát triển trí tuệ để thoát khỏi cảnh lạc hậu chậm tiến, đến nỗi bị các thế lực ma giáo lừa bịp lôi cuốn vào những cuộc tranh chấp không lương thiện hại dân hại nước như hiện nay, mà vẫn cứ tưởng là mỉnh yêu nước.

Tôi biết là trong hiện tại, có rất nhiều nạn nhân đă có kinh nghiệm đau thương của biến cố 30-4-1975, đang họp thành những nhóm đấu tranh chính trị tiếp tục cuộc tranh đấu hỗ trợ cho quảng đại quần chúng đồng bào Việt Nam ở trong nước, có cơ hội và thời cơ thuận lợi để lật đổ bạo quyền Việt Cộng lừa bịp gian manh xảo quyệt mạo danh làm Cách Mạng, nhưng thực tế chúng đang là tập đoàn Tư bản thế lực độc tài quân phiệt thực dân, đang tiếp tục chuyên quyền cai trị dân tộc Việt Nam bằng một chế độ chuyên chính độc tài tàn bạo nhất thế giới, để toàn dân có thể giành lại được các quyền Tự do Dân chủ B́nh đẳng mà những người dân trong một nước độc lập phải có quyền hưởng.

Nhưng tiếc rằng, các nhóm này lại đang được hướng dẫn bởi những lănh tụ có những đường lối hành động không thực t́nh vô vị lợi, nên đang bị bạo quyền Việt Cộng dùng tiền và tay sai xâm nhập phá rối gây chia rẽ rất trầm trọng.

Để góp phần giải quyết vấn nạn này, Tôi đă cố gắng viết một bài b́nh luận ngắn để tŕnh bầy các khiá cạnh cần yếu mong mọi người có dịp đọc và suy nghĩ lại, nhưng chưa biết hiệu quả có đạt được như mong ước của Tôi không? Đó là bài viết với tiêu đề NÊN THẬN TRỌNG ĐỪNG ĐỂ BỊ VIỆT CỘNG LỪA BỊP NỮA.

Những điều tŕnh bầy trả lời câu hỏi của Tôi trên đây, có thể phiến diện thiển cận, mong Quư Vị cao minh vui ḷng hỉ xả bổ khuyết cho, Xin chân thành đa tạ.

NGUYỄN-HUY HÙNG
Một cựu Tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của đảng
Cộng sản Việt nam và bạo quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt nam, sau biến cố 30-4-1975.

Quốc Thúc
(Nguyên Khoa trưởng Đại học Luật Khoa Sài g̣n, Thống đốc Ngân Hàng QGVN, Phó Thủ tướng đặc trách hậu chiến VNCH)

Trả lời câu hỏi, tôi chỉ có 2 nhận định về biến cố 30/04 như sau:
1) Trong suốt thời kỳ từ 1948 (Kế hoạch Marshall ra đời) tới 1991 (Khối Liên Xô giải thể) nước ta chỉ là một mặt trận trong cuộc chiến tranh (nóng hay lạnh tùy từng địa phương) giữa Phe Tư Bản Tự Do và Cộng Sản Độc Tài. Hoa Kỳ lănh đạo Phe Tư Bản Tự Do thấy rằng nếu tiếp tục cuộc chiến nóng bỏng ở Việt Nam sẽ thiệt hại rất nhiều nên đă rút lui êm thấm bằng cách điều đ́nh thẳng với đối phương. Ta muốn giữ họ ở lại cũng chẳng được. Biến cố 30/4/75 chẳng qua chỉ chính thức hóa một thỏa hiệp đă h́nh thành từ Hiệp Định Paris 27/1/1973.
2) Năm 1987 tôi và một số anh chị em tổ chức ở Paris một cuộc Hội Thảo về vấn đề Văn Hồi Hiệp định 27/1/1973 nhân lúc Liên Hiệp Quốc đang t́m cách giàn xếp Cuộc chiến ở Campuchia (lúc ấy đang bị quân CS Việt Nam chiếm đóng). Theo dơi cuộc hội thảo này có Cố T.T. Nguyễn Văn Thiệu (đích thân hiện diện ở hậu trường) và một luật sư Hoa Kỳ (tai mắt của Kissinger). Đồng chủ tọa với tôi trong cuộc hội thảo này là ông Mesmin, Chủ Tịch ủy Ban Ngoại Giao ở Hạ Viện Pháp. Qua cuộc hội thảo này tôi thấy rơ là không hy vọng ǵ văn hồi Hiệp định Paris 1973. Tuy nhiên lịch sử luôn luôn có những sự bất ngờ. Bổn phận của những người đấu tranh là phải giữ vững niềm tin: Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên như cổ nhân đă nói.
Vài lời tâm sự, xin thân ái tŕnh bày với độc giả Việt Luận

Phan Văn Song (Đại Việt Quốc Dân Đảng)

Báo Việt Luận đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể rút bài học ǵ từ biến cố 30 tháng Tư 1975”.

Hằng năm cứ đến ngày 30 tháng Tư là toàn dân Việt Nam tỵ nạn hải ngoại tổ chức những cuộc sinh hoạt để ghi nhớ ngày thảm nạn, tang tóc của toàn dân - quân - cán - chánh Việt Nam Cộng Ḥa: nào là biểu t́nh để biểu dương lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu, giới thiệu, chia sẻ với các cộng đồng bản xứ cùng các sắc tộc khác trên quê hương cư ngụ của ḿnh, nào là hội họp cùng nhau đánh dấu kỷ niệm ngày đau thương ấy để luôn luôn cảnh giác, đề pḥng, nhắc nhở nhau là bọn người ác gian hiện đang cầm quyền tại quê hương ḿnh, và cũng nhân tiện, dạy dỗ con cháu hậu duệ thấu hiểu để giữ vững gốc rễ thành phần tỵ nạn cộng sản của chúng ta, của chính chúng, cũng như cho mọi người hiểu sức mạnh của nước Việt Nam thứ hai: nước Việt Nam Hải ngoại, nước Việt Nam của hơn 3 triệu đồng bào tỵ nạn, t́m tự do chúng ta.

Biến cố 30 tháng Tư 1975 đă buộc chúng ta bỏ xứ ra đi: tạm dung trên đất người, làm lại cuộc đời, từng cá nhân một, từng gia đ́nh một, đến ngày nay đă hợp thành một cộng đồng, một đại gia đ́nh - một nước Việt Nam Hải ngoại - chúng ta đă bao lần biểu dương sức mạnh của lá Quốc kỳ nền vàng, lá cờ của Tự do, lá cờ của nước Việt Nam thứ hai, lá cờ được các quốc gia, nơi chúng ta cư ngụ nh́n nhận, lá cờ đại diện người Việt Nam tự do trên các quê hương tự do, nhốt lá cờ đỏ Cộng sản, lá cờ của bọn ác gian cầm quyền bị bó ḿnh trong những cao ốc hành chánh quốc tế: Sứ quán, lănh sự... V́ vậy, dầu ngày nay, người Việt hải ngoại có hội nhập vào làng sóng sanh hoạt xă hội của đất nước mới, dầu có thành công về phương diện kinh tế, về phương diện học vấn, nhưng các con cháu chúng ta trong xă hội mới đó, chúng không được quên nguồn gốc của Việt Nam Hải ngoại này: biến cố 30 tháng Tư 1975.


Vâng, tôi không quên ngày 30 tháng Tư 1975:

- Làm sao quên được cái nhục khi nh́n thấy những kẻ thắng trận chỉ toàn một nhóm người thất học, ngơ ngác lạc lơng trước những ṭa nhà đồ sộ, nguy nga tráng lệ của Sài g̣n. Những con người máy, “rô bốt”, không chút kiến thức, chỉ biết vâng dạ, trả bài như con vẹt, và giỏi bắn, giết... được gọi là quân giải phóng, nhưng khi vào Sài g̣n không một thái độ thân thiện, trái lại, như những quân ngoại quốc đi xâm chiếm, chúng hôi của, chúng cướp nhà, chúng đuổi dân đi kinh tế mới, chúng bắt quân cán chánh chế độ cũ đi tù, đưa cả miền Nam và nền kinh tế sung măn vào phá sản.

- Làm sao quên được cái nhục khi nh́n nghe những ông, những vị lănh đạo của chế độ mà ḿnh đă tin tưởng, ủng hộ suốt cả đời, đă “đi rồi”, bỏ chạy, trốn trách nhiệm, để các binh sĩ mũ giáp tơi tả, quần áo ngổn ngang, súng ống la liệt giữa đường xá.

Những biểu tượng trân quư ngày nào, cây súng, chiến bào, huy chương... nay bị vứt bỏ, như những ǵ dơ bẩn nhứt!.

Và, dân chúng Sài g̣n hỗn loạn, nhà trống, thành phố hoang, không chủ, như rắn không đầu, như bầy con không cha mất mẹ. Trách làm sao, khi những tên tiểu nhân vụt biến thành các nhà “cách mạng 30 tháng Tư” hống hách, hà hiếp dân lành; trách làm sao được, khi những người lương thiện thân phận yếu, sẵn sàng như ngọn cỏ đầu tường, tiếp tay kẻ chiến thắng lùng bắt người thất thế.

- Làm sao quên những đoàn người chen lấn, đạp lên nhau để t́m đường sống: đạp lên nhau giành nhảy xuống thuyền, họ sẵn sàng giết nhau để t́m sanh lộ. Ôi! biết bao cảnh đau thương, kể sao cho siết!.

Và trước đó, từ những ngày đầu mất Ban Mê Thuột khi ra Tết:

- Làm sao quên được những trang báo đầy dẫy h́nh ảnh chết chóc đau thương trải dài theo quốc lộ 19, chạy từ Kontum về Qui Nhân, bên gịng sông Ba, hàng ngàn người ngă gục, đoàn dân trốn giặc cứ chạy, pháo của quân Giải phóng vẫn nổ chụp lên đầu! Giải phóng ǵ mà nhả pháo vào dân không chút thương t́nh!!!

- Làm sao quên được h́nh ảnh những đoàn người lũ lượt tiến về Sài g̣n, bồng bế nhau hoảng loạn chạy trong khi bao nhiêu thân xác ngă gục v́ mệt, v́ đói, v́ khát...

- H́nh ảnh chết chóc hỗn loạn: Chiếc C5 chở con trẻ mồ côi bị rơi, những chiếc phà bị ch́m, những người chết đuối...

Nhưng, một việc lạ, trong cảnh rối rắm, ngổn ngang ấy, ở ngay Sài g̣n, không một ai nghe thấy chuyện cướp giựt, trộm cắp. H́nh như người Sài g̣n từ giàu đến nghèo, từ quan đến dân, đều bận lay hoay với một suy nghĩ, phải làm sao thoát cái rọ Cộng sản, v́ thế, không ai nghĩ đến cướp giựt, hôi của, chiếm đoạt nhà của kẻ khác.

Có lẽ dân Sài g̣n vô tư chăng? Dân Sài g̣n không tin vào cái thua trận, hay dân Sài g̣n quá nhẹ dạ, quá tin tưởng vào Đồng minh, vào Mỹ?

Tôi không quên được những lời bàn Mao tôn cương của các “thức giả”:

- Mỹ không để mất Việt Nam đâu! Nó bỏ tiền viện trợ quá nhiều rồi, vả lại, Việt Nam vừa t́m ra mỏ dầu ở ngoài khơi Vũng tàu, c̣n lâu Tư bản Mỹ mới bỏ;
- Mỹ sẽ bán cái cho Tây, cho Việt Cộng để khỏi mất mặt;
- Việt Nam miền Nam sẽ bị chia làm hai: Miền Trung, Phan Rang ra đến Đà Nẵng của Việt Cộng, Huế trở ra cho Cộng sản Miền Bắc...? Lúc ấy c̣n có anh nhẹ dạ tin rằng Việt Cộng miền Nam và Cộng sản miền Bắc là hai nhóm khác nhau.

C̣n có cả thuyết ngon lành hơn nữa, nực cười hơn nữa:

- Sài g̣n và Cần thơ sẽ bỏ ngơ, làm hai Đô thị thương mại quốc tế, với một nền kinh tế thương măi đặc biệt, kiểu Hongkong, Singapore, để làm đ̣n bẫy thương mại kinh tế xây dựng ba cái Việt Nam tương lai, khi nào cả ba có một nền kinh tế và mức sống tương đối đồng đều với nhau sẽ đi đến hiệp thương rồi thống nhứt.

C̣n có vị diểu dở, phán:

- “Nếu bây giờ thống nhứt th́ làm sao dân ngoài Bắc sống kịp dân miền Nam tụi ḿnh. Họ nghèo lắm, nghèo rớt mồng tơi, làm sao sanh hoạt mua bán như ḿnh”?.

Để trả lời, sau ngày 30 tháng Tư, dân miền Nam, nhứt là dân Sài g̣n cũng xuống dốc, đói nghèo luôn, và cũng như dân Bắc, rớt luôn cái mồng tơi... ư quên, cái nóp.

Bài học chúng ta phải luôn nhớ đời, và dạy cho con cháu của chúng ta, tất cả phải biết cái năo trạng, cái Văn hóa Cộng sản.

Phải! Tôi dùng đúng chữ VĂN HÓA Cộng sản.

Dầu cho ngày nay, thiên hạ vẫn cho rằng ở Việt Nam sanh hoạt tập tục không c̣n Cộng sản nữa! Tôi vẫn quả quyết là nhóm ác gian cầm quyền vẫn C̣n Cộng sản. Người Cộng sản vẫn đó, với Văn hóa Cộng sản, với năo trạng Cộng sản.

Ngày nay, nhóm ác gian cầm quyền, mồm nói Tư bản chủ nghĩa, sống kinh tế thị trường, tiền bạc tập tục tư bản kinh doanh, nhưng vẫn lư luận Staline, Mao Hồ. Họ vẫn nuôi mộng Cộng sản chủ nghĩa thành công và thế giới đại đồng cộng sản. Hiện tại chỉ là một bước lùi trá h́nh để ngày mai bành trướng trở lại.

Poutine bành trướng bá quyền phương Tây, đang cố lập lại “Liên Xô Nga”.
Hu Tsin Tao đang bành trướng bá quyền phương Đông, đang cố lập “Cộng sản đại đồng Trung hoa”.

C̣n Việt Nam: một ngôi sao nhỏ thứ sáu trên lá cờ Tàu Cộng: cờ Tàu cộng gồm có một ngôi sao to của Hán tộc với năm sao nhỏ của các sắc tộc c̣ con: Mông, Măn, Thanh, Hồi và Tạng. Và tương lai sẽ là sắc tộc Việt, trong thế giới cộng sản đại đồng Tàu. Coi chừng, cảnh giác. Đây là vận mạng sống c̣n của dân tộc Việt.

Chống Cộng sản Việt Nam để chống Chủ nghĩa bành trướng của Cộng sản Tàu đang nuốt chửng dân tộc Việt. Hán thuộc đă bắt đầu rồi.

Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự đă là Cộng ḥa Hán thuộc Việt Nam.

Bài học 30 tháng Tư 1975, là luôn luôn nhắc nhở con cháu chúng ta: Chỉ tin vào chúng ta thôi! Không một ngoại bang nào thương chúng ta hết.

Trước 1975, Miền Nam Việt Nam Chống Cộng, với các đồng minh của thế giới tự do: chiến đấu hy sinh để chống làn sóng đỏ Tàu Nga. Hai mươi năm, chiến đấu cạnh nhau, t́nh chiến hữu ruột thịt, chỉ v́ một lời hứa thân thiện Mỹ-Tàu, thị trường kinh tế mở rộng, thế là xong hai mươi năm gắn bó, bỏ xuống biển.

Mỹ đem con bỏ chợ, các lănh đạo Việt Nam Cộng ḥa đa số là quan chức chư hầu, chịu sự sai khiến của các Thái thú Mỹ, nên khi Mỹ rút đi, không một ai lên tiếng đ̣i tổ chức một cuộc di cư có trật tự, mạnh ai nấy chạy, mặc kệ em út, mặc kệ bạn bè, chẳng c̣n ǵ là t́nh với nghĩa!.

Thời 1954, khi Tây rút khỏi Miền Bắc, Tây tổ chức cho tàu há mồm chuyển di dân về miền Tự do, trên 1 triệu người ra đi có trật tự, bởi thời kỳ này – 1954 - Quốc trưởng Bảo Đại là vị Vua của toàn dân Việt, do dân Việt Nam lựa chọn.

Năm 75, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, độc diễn do Mỹ chọn, đă trốn trách nhiệm, từ chức, đào ngũ, lén “dzọt”, bán cái cho Cụ Trần Văn Hương, sau khi phá nát Quân đội, huỷ diệt sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng ḥa.

Việt Nam Xă hội chủ nghĩa do Cộng sản quốc tế chỉ đạo, tổ chức và nuôi dưỡng cưỡng chiếm miền Nam, chỉ là chủ nghĩa của ngoại bang Nga-Tàu. Khi Nga-Tàu bảo kinh tế bao cấp th́ xă hội chủ nghĩa răm rắp theo Liên Sô, theo Tàu. Khi Liên Sô bảo đánh Tàu th́ cộng sản Việt Nam ngoan ngoăn đánh Tàu. Thậm chí, ngày xưa có cả phe Liên Xô chống phe Tàu trong Đảng cộng sản Việt Nam.

Phải chăng, một số trong các vị, ngày nay được gọi là chiến sĩ dân chủ cư ngụ ở Nga, thuở xưa là thành phần xét lại theo Nga, bị các đồng chí theo Tàu đuổi, nên phải lánh ở Nga từ ngày xa xưa ấy?

Nước Nga của Poutine có Dân chủ đâu mà một số quư vị nghĩ rằng dân chủ?

Bài học ngày 30 tháng Tư 1975 dạy chúng ta: phải biết tự chủ. Chúng ta cần nhắc cho toàn dân ở quốc nội giành lấy quyền tự chủ, và biết thế nào là dân chủ.

Dân chủ phải do Giáo dục. Chương tŕnh giáo dục phải đặt Dân chủ lên hàng đầu. Chỉ có dân Việt Nam quyết định ai là người đại diện cho dân mới có quyền lănh đạo. Không một vị nào được phép tự cho ḿnh anh minh để nắm quyền lănh đạo; không một Đảng nào tự cho ḿnh có quyền thay mặt toàn dân. Không được nhân danh bất cứ tổ chức hay đảng nào để thần tượng hóa bất cứ một ai cả. Người lănh đạo một phong trào, một tổ chức đấu tranh ngày nay, chẳng qua là người trách nhiệm tạm thời làm phát ngôn nhân cho nguyện vọng chung của các chiến hữu ḿnh đó thôi.

Dân chủ là cạnh tranh, là chương tŕnh, ai đấu tranh cho dân, ai ở gần dân, được dân tín nhiệm uỷ quyền đại diện, người ấy mới chính là người lănh đạo. Thời quân chủ, có nhà Vua cầm quyền cả nước. Nhưng thật sự điều hành việc hằng ngày cho người dân là các vị tiên chỉ trong làng. Làng mạc Việt Nam sống rất dân chủ, mặc dầu dân chủ ấy chỉ là một loại dân chủ do tuổi tác và tôn tri trật tự của hệ thống làng xă.

Ngày nay phải tổ chức Giáo dục để người dân biết thế nào là trật tự xă hội, thế nào là Luật lệ xă hội, thế nào là Pháp luật. Pháp luật do Xă hội và trật tự xă hội lập thành: Pháp luật không phải là Đảng Quy. Từ Trật tự Xă hội, chúng ta có Pháp luật, có Pháp luật chúng ta có Hiến pháp, từ Hiến pháp chúng ta có những Định chế, Cơ Chế Pháp luật.

Người Dân có Giáo dục biết tôn trọng Luật pháp, biết thế nào là dân chủ.

Dân chủ từ trong Nhà trường, Dân chủ từ trong Gia đ́nh, Dân chủ từ trong Cơ xưởng, Dân chủ trừ trong văn pḥng làm việc. Tṛ kính trọng Thầy, Thầy quí trọng Tṛ, Con kính trọng Cha mẹ, Cha mẹ mến trọng Con, Chủ trọng Thợ, Thợ kính trọng Chủ v.v.

Có Pháp Luật mới có Pháp trị.

Đừng đem Hiến Pháp Tây-Mỹ chép lại, sao y bản chánh, cầu chứng tại ṭa, nói rằng Mỹ-Tây nó dân chủ ta sao y là ta dân chủ.

Dân chủ do dân ta làm, do ư chí và nguyện vọng của toàn dân quyết định, đó mới là Dân Chủ.

Không một ai có quyền phán Ta là Dân chủ cả.
Khi có Dân chủ phải thực hiện Dân chủ.
Bài học 30 tháng Tư 1975, dạy ta không bao giờ TIN VÀO MỘT AI CẢ.


Steve B. Young
(Tổng Giám đốc Tổ chức Tài chánh Toàn Cầu “The Caux Round Table”)

Tôi thấy có hai loại bài học về biến cố 30 tháng 4 1975, một loại giúp cho ḿnh hiểu về nguồn gốc của vụ đó, và một loại khác giúp ḿnh suy đoán về tương lai của Việt Nam và Hoa Kỳ.

Bài Học Thứ Nhứt
Có lẽ sau 33 năm Cộng Sản thống trị được cả nước Việt Nam, phần lớn người ở trong nước thấy không có ích lợi ǵ để nghiên cứu các nguyên nhân gây sự bại trận của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo tôi có hai người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với sự thất bại của một chế độ như Việt Nam Cộng ḥa, có một quân đội lớn và mạnh.
Người đóng góp cho sự thất bại ấy nhiều nhứt là Henry Kissinger. Hồi tháng 5/1971, Kissinger đă đề nghị rằng sau khi quân đội mỹ rút về Hoa Kỳ, th́ Chánh phủ Hà nội sẽ có phép giữ lại quân đội của họ trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Kissinger thỏa thuận với Hà nội nhưng khi về, ông dấu diếm những điều này với Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu và với các viên chức lớn trong Chánh phủ Nixon, như Đại Sứ Ellsworth Bunker.

Như vậy, trong Hiệp Định Paris 1973, Hà nội không có một điều kiện nào phải rút quân về Bắc. Hà Nội có lợi thế chờ đợi người Mỹ hoàn toàn mệt mỏi và không c̣n ư chí chiến đấu, hy sinh bảo vệ ông Thiệu nữa. Sau vụ Watergate, th́ Hà Nội gặp được thời cơ thuận lợi hơn nữa. Chính sự may mắn bất ngờ này đă giúp Hà Nội thực hiện được tham vọng chiếm cả nước, đặt nền cai trị theo chế độ cộng sản độc tài mà ngày nay chúng ta biết.

Người thứ hai phải chịu trách nhiệm là Nguyễn Văn Thiệu. Việt Nam Cộng Ḥa bị ép kư kết Hiệp Định Paris, th́ không khác ǵ bị ép phải đầu hàng Hà Nội. Cái ư nghĩa thật sự khi Mỹ đến để bảo vệ độc lập tự do cho Miền Nam là sự yêu thương, sự thông cảm của nhân dân Hoa Kỳ đối với dân tộc này. Nếu có nhiều người Mỹ nói chúng tôi không thích ủng hộ Chính Phủ Sài g̣n nữa, th́ Chánh phủ Mỹ bắt buộc phải ngưng mọi sự yểm trợ quân sự và kinh tế. Lúc bấy giờ, có đông đảo người Mỹ chạy theo phong trào phản chiến đang ồn ào khắp nước Mỹ. Họ cho lập luận chống chiến tranh việt Nam của phong trào này là đúng.

Người phản chiến không thích ông Thiệu. Họ nói rằng ông Thiệu là độc tài, không thật t́nh biết thương dân miền Nam. Nếu ông Thiệu lúc tháng 10 -73 từ chức, không làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa nữa, th́ mấy phong trào phản chiến Mỹ sẽ giảm bớt sự chống đối Chánh phủ Miền Nam.

Hơn nữa, năm 1972 ông Thiệu đă lập ra Đảng Dân Chủ để chuẩn bị thế tranh cử và thắng cử giúp ông tiếp tục cầm quyền lâu dài ở Miền Nam. Sau đó ông Thiệu phải giao các chức vụ lớn cho mấy người thân tín, thời đó dư luận ở Sài g̣n gọi là “gia nô”, mặc dầu họ không có khả năng. Tiêu chuẩn chọn lựa: trung thành với ông là trên hết.

Như vậy, năm 1975 lúc Hà Nội đánh Phước Long và Ban Mê Thuộc, ông Thiệu không có đủ sĩ quan có đầy đủ ư chí chiến đấu, can đảm, để đánh lại quân cộng sản. Tướng Tá trung thành với ông Thiệu, đa số, không có đủ uy tín và khả năng quân sự chỉ huy binh sĩ chiến đấu một cách nhiệt t́nh và hùng mạnh.

V́ biết rơ thực tế như vậy, ông Thiệu phải rút bỏ Quân Khu Một và Hai, bỏ một nửa Miền Nam. Cho đến bây giờ, h́nh như không có ai biết thật sự tại sao ông Thiệu quyết định bỏ Vùng Một và Vùng Hai Chiến Lược. Có người nói rằng ông Thiệu biết chỉ có mấy chiếc B-52 của Mỹ mới có thể cứu được Miền Nam, nên ông phải vừa bè nheo, vừa gài Mỹ ở cái thế phải chịu giúp ông.

Nếu quả thật ông Thiệu đă suy nghĩ như vậy th́ ông không phải là người lănh đạo có bản lănh, bởi kết quả là mất nước vào tay cộng sản, những người đă sát hại không biết bao nhiêu sinh mạng của người việt Nam.

Ông Thiệu thường trách ông Kissinger phản bội Đồng minh Việt Nam. Ông Thiệu nghĩ như vậy và nói như vậy là có lư. Nhưng sự thật đó lại không cứu được một người Việt Nam nào. Ông Thiệu vẫn là Tổng Thống Việt Nam. Ông có trách nhiệm làm cái ǵ có ích lợi cho dân ông, cho đất nước ông, trong t́nh h́nh rất bi đát lúc ấy.

Bài Học Thứ Hai
Một bài học quan trọng là Miền Nam mất không phải v́ dân Việt Nam muốn có một chính quyền Cộng sản. Ngược lại, đến năm 1975 th́ hơn 95% dân Miền Nam hiểu được hiểm họa cộng sản và chống Cộng sản v́ họ muốn sống tự do theo chế độ dân chủ. Miền Nam mất v́ sự phản bội của Kissinger và sự bất tài của Nguyễn Văn Thiệu.

Như vậy, ḷng dân Việt Nam không phục, không thương, không đồng t́nh với đảng cộng sản. Dân chỉ vâng lời đảng khi đảng c̣n khả năng dùng bạo lực đàn áp. Khi nào đảng mất thế, th́ sẽ mất ḷng dân và sẽ bị một phong trào nhân dân hay một cuộc đảo chánh quân nhân làm cho chế độ sụp đổ ngay.

Nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và cả phong trào cộng sản thế giới, đảng cộng sản Việt Nam bị lâm vào thế chẳng đặng đừng lần lần phải để cho dân chúng được tự do phần nào, tức họ không thể áp dụng Chủ Nghĩa Xă Hội theo đúng chủ trương của họ nữa. Nhờ đó mà bây giờ dân có tự do tôn giáo khá nhiều. Nhà nước không đàn áp quá thô bạo như trước đối với các đạo Công Giáo, Ḥa Hảo, Phật Giáo, Cao Đài. Kinh tế theo thị trường tự do làm cho một bộ phận dân chúng trở nên giàu và một phần dân chúng khác có đời sống khá hơn nhiều. Người dân không đụng tới quyền hành và quyền lợi của đảng th́ có thể tạm sống yên ổn được và nói chuyện khá tự do. Nếu biết cấu kết với công an, người dân có thể làm giàu. Thành phần này hiện nay xuất hiện khá nhiều ở Việt Nam. Ngoài ra, Công An không c̣n tha hồ bắt bớ người này người kia như thời gian trước đây.

Nếu Việt Nam có dân chủ th́ tốt hơn nhưng đảng cộng sản vẫn cố t́nh kéo dài sự cai trị của họ từ năm này qua năm kia.
Nên nhớ sự cố t́nh ù lỳ này không có lợi ǵ bao nhiêu cho sự sống c̣n của đảng.

Một bài học khác nữa là người Mỹ vẫn bị chia rẻ làm hai phe – một phe có người chạy theo phong trào phản chiến c̣n phe kia th́ bực tức đă thua Cộng Sản. Phe phản chiến trở thành Đảng Dân Chủ bây giờ và phe thua trở thành Đảng Cộng Ḥa ngày nay.

Đảng Dân Chủ cho ḿnh có lư trong cách giải quyết chiến tranh việt Nam là đem Việt Nam giao cho Hà Nội. Lấy được Miền Nam, Hà Nội có chính nghĩa. Hoa Kỳ và chế độ miền Nam phải bị lên án là quân xăm lược và bọn bán nước. Như vậy, Đảng Dân Chủ có thái độ hướng về mọi sự đ̣i hỏi của Hà nội từ 1975 đến giờ. Đối với các nước khác – Trung Quốc, Bắc Hàn, thái độ của Đảng Dân Chủ là ḥa hưởng hay nhượng bộ cho những đ̣i hỏi của họ. Đảng Dân Chủ nói nhiều về nhân quyền ở các nước nhỏ nhưng mà làm rất ít – thí dụ ông Clinton đối với Rwanda hay Bosnia.

Đảng Cộng Ḥa lo sợ sự suy yếu của Hoa Kỳ, thành ra khi có vụ 11 Tháng 9 xảy ra, th́ họ cảm thấy Hoa Kỳ phải biểu dương sức mạnh, tức phải đánh. Mà đánh ai đây? Họ đánh Taliban ở A Phú Hăn, rồi thấy chưa đủ thỏa măn nhu cầu tâm lư nên họ đánh thêm Saddam Hussein.

Chánh sách đánh phe Al-Queda một cách vụng về, thiếu tính toán kỹ nên đă tạo ra nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ.

Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại
(Cựu Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải)


Tôi xin xác nhận trước là cảm nghĩ sau đây là trong tư cách một cấp chỉ huy trong quân đội mà thôi và đă được đề cập trong quyển Can Trường Trong Chiến Bại (2007) của tác giả bài nầy.

Thứ Nhứt: Khi có một cuộc tổng tấn công, phối trí lại lực lượng và cắt đất là hạ sách v́ ḿnh tự động giảm số mục tiêu mà địch phải đánh và sự di tản của dân sẽ làm khó khăn cho quân ta không kể là đương nhiên chánh phủ phải lo chuyện định cư cho hằng triệu dân. Nói một cách khác, khi có một cuộc tổng tấn công, th́ đất c̣n lại càng ít càng dễ cho địch v́ địch không cần tốn quân để chiếm những vùng mà chính ta đă bỏ đi, không kể là các sư đoàn mà rút đi, tay không, bỏ lại biết bao nhiêu vũ khí, thiết giáp, kho xăng, kho đạn, giúp địch khỏi cần sự tiếp vận từ hậu phương của địch, trong khi ta lo thiếu vũ khí, đạn dược. Trong cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân 1968, ta không mất Huế v́ Sư Đoàn 1 do tướng Trưởng bị bao vây quá chặt nên bắt buộc phải tử thủ cho đến lúc lực lượng của Mỹ được lịnh tái yểm trợ và giải vây cho Sư Đoàn 1. Nếu lúc đó quân đội quyết định bỏ Huế và quân dân rút về Đà Nẵng th́ hậu quả không khác ǵ tháng 3, 1975. Sau khi Quân Đoàn 1 quyết định bỏ Huế vào ngày 24 tháng 3, 1975, các sư đoàn của địch tại Quảng Trị, Thừa Thiên rănh tay và sẽ kéo toàn lực về để đánh Đà Nẵng, như vậy Đà Nẵng sẽ phải chống đỡ với một lực lượng gấp đôi hơn dự tính, không kể sự quấy phá của quân lực tan ră rút về Đà Nẵng từ các nơi, cũng như sự cứu trợ đồng bào di tản sẽ là gánh nặng cho chính quyền tại Đà Nẵng.

Thứ Hai: Không nên xem thường các tin đồn thất thiệt, nếu không cải chính kịp thời các tin đồn đó có thể làm hoang mang quân sĩ và nhứt là cấp chỉ huy. Mà đă là cấp chỉ huy th́ phải t́m cho ra sự thật tận gốc, nhứt là khi tin đồn đó gây sự hiểu lầm cho mọi quyết định của cấp chỉ huy. Một đoàn quân không thể thắng giặc nếu họ có chút nghi ngờ là sự hy sinh của họ là vô ích.

1. Miền Trung sẽ được giao cho MTGPMN v.v....
2. Tức là tổng thống Thiệu trong trường hợp Quân Khu 1


Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
(Chủ tịch Phong Trào Đ̣i Trả tên Sàig̣n)

Không ai có thể phủ nhận biến cố 30-4-1975 là một dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Trong hơn 30 năm qua rất nhiều người, nhất là đồng bào Việt Nam hải ngoại đă đề cập tới biến cố này dưới nhiều khía cạnh và tâm t́nh khác nhau. Không biết bao nhiêu tài liệu, sách vỡ phim ảnh, bài viết... diễn tả những nỗi kinh hoàng của biến cố 30 tháng 4 năm 75, không những chính trong ngày đó mà c̣n tả cảnh hăi hùng trong thời gian trước đó và nhất là thảm cảnh tiếp theo sau... Nhiều người đă ví biến cố 30-4-1975 như là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu me mà thân thể dân tộc Việt Nam đă phải chịu.

Dù vậy, dưới cái nh́n xa hơn trong chiều dài tương lai của Dân Tộc, có lẽ chúng ta phải đồng ư rằng mặc dù biến cố 30-4-1975 là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu me, nhưng là một ca mổ rất cần thiết cho thân thể của Dân Tộc Việt Nam.

Ở đây tôi không muốn nhắc tới h́nh thức “kỷ niệm biến cố 30 tháng 4” của hai thế lực đối chọi nhau: một bên là chế độ Việt gian cộng sản và một bên là đại khối dân tộc Việt Nam bị chế độ đó cai trị. Chế độ Việt gian cộng sản và những kẻ làm tay sai cho chế độ đó th́ “ăn mừng chiến thắng” và gọi là “ngày giải phóng”. Trong khi đó đại khối dân tộc Việt Nam, nhất là những nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của chế độ Việt gian cộng sản đă “kỷ niệm biến cố 30 tháng tư” như là một nỗi đau thương kinh hoàng và gọi đó là ngày “Quốc hận”.

Hiện tượng này xảy ra hằng năm trong hơn 30 năm qua, nhưng tôi tin chắc rằng cường độ của hai h́nh thức “kỷ niệm” dần dần sẽ phai mờ đi v́ nỗi đau của các nạn nhân trong biến cố 30 tháng tư sẽ dịu dần với thời gian, và một điều chắc chắn là chế độ Việt gian cộng sản sẽ tàn lụi dần và cuối cùng sẽ biến mất trên quê hương, chừng đó chỉ c̣n lại Dân Tộc Việt Nam. Một Dân Tộc đă thoát xác sau ca mổ xẻ với hai lợi thế sau đây:

1. Một Dân Tộc Việt Nam đă tỉnh thức

Một Dân tộc Việt Nam đă phải đau thương quằn quại qua thực tế phũ phàng sau cái được gọi là “ngày giải phóng!” Một dân tộc Việt Nam không c̣n bị ru ngủ bởi sự tuyên truyền xảo trá của cộng sản về một thứ “thiên đường hạ giới” như một số đông dân oan khiếu kiện trước kia đă nhẹ dạ nghe theo, ngày nay phẩn uất chửi bới công khai trong các cuộc biểu t́nh đ̣i nhà đất và tài sản. Chính v́ thế biến cố 30-4-1975 rất cần thiết để làm cho Dân Tộc Việt Nam tỉnh thức hầu xoá bỏ, và xoá bỏ một cách vĩnh viễn, chế độ cộng sản phản dân hại nước trên quê hương Việt Nam.

2. Một Dân Tộc Việt Nam lớn vượt biên cương

Thật vậy, biến cố 30-4-1975 đă mở một trang sử mới cho Dân Tộc Việt Nam v́ qua biến cố đó một số rất đông đă phải trốn chạy ra nước ngoài và sống rải rác khắp nơi trên thế giới làm thành Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại. Sau hơn 30 năm, Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại này đă chứng tỏ sự thành công về nhiều mặt, nhất là về kinh tế và kiến thức và sự thành công càng ngày càng phát triển. Đây chính là một nguồn nhân lực, tài lực và kiến thức vô giá cho Dân Tộc Việt Nam trong việc xây dựng đất nước trong tương lai.

Ngày nay chúng ta phải trang bị cho ḿnh một nhăn quan tích cực và cùng nhau chăm sóc cho đóa hoa Hy Vọng của Mùa Xuân Dân Tộc được mọc lên từ vũng lầy máu me của biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

Home