HÀ NỘI PHỐ CŨ NGƯỜI XƯA...  

Nguyễn Sơn

 

       …Tôi xa Hà Nội năm lên 18 xuân tṛn đắm say, bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều. Hà Nội ơi, nào biết ra sao bây giờ, ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa… Tôi xa Hà Nội năm lên 16 khi vừa biết yêu, đôi tay ngọc ngà dương gian t́nh ái tôi đong thật đầy. Hà Nội ơi, ngày ấy tôi mang cây đàn, quen sống ca vui bên nàng, nay khóc tơ duyên ĺa tan… (Nỗi Ḷng Người Đi. Nhạc của Anh Bằng)…

    Vào đầu thập niên 30, nhà khoa học Nguyễn Công Tiểu đă có một sáng kiến để tiêu diệt lũ sâu bọ chỉ được cái nỏ mồm nhưng vô tích sự ấy nhưng rốt cuộc chúng vẫn sống nhăn. Thế là cái đám người giàu có trong những khu phố Tây đành ngậm bồ ḥn làm ngọt, để cho chúng tiếp tục quấy rối giấc ngủ trưa của họ.

   Cùng với tiếng ve sầu là tiếng rao của các hàng quà rong mà những âm thanh réo rắt hoặc cộc lốc của họ đă tắt lịm trong một thời gian dài, từ mùa đông trải qua hết mùa xuân. “Ai kem một xu đi”, “Chè Trân Châu”, “lát xê”(glacé), “Xệch cấu”. Đó là những tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng Ta, Tầu và Tây. Nhưng “xệch cấu” là cái ǵ? Đó là một kem chanh trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tầu Hàng Buồm, người ta mới biết đó là từ ngữ của thạch cao được phát âm theo tiếng Quảng Đông. C̣n món bánh cuốn hấp tại sao lại gọi là “lốc bỉu” th́ người ta đành chịu và không hiểu nó xuất xứ từ một phương ngữ nào bên Tàu?

   Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đă bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. “Lạp xường lồ mái phàn”, những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xường mỏng tang tưởng như gió thổi cũng bay. Phải có một đôi tay điêu luyện mới có được những thao tác chính xác như thế để cho những miếng lạp xường không bị vỡ và h́nh thù của nó không bị lệch lạc.

   Hàng “cà phê ô lê (au lait)” bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố vẫn c̣n đỏ đèn. C̣n tiếng rao buồn thảm nhất “bánh dầy, bánh gi…̣…̣” vỗ vào một không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đă về khuya, nhưng cũng có những hàng quà chẳng bao giờ cất tiếng rao như hàng bún chả. Người đàn bà chit khăn mỏ quạ, ngồi ở góc phố quạt phành phạch vào cái bếp than. Trong chốc lát, mùi thịt nướng tỏa ra thơm nức mũi.

   Giờ ăn quà vào buổi chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc, với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rơ những nơi nào ḿnh sẽ dừng lại và hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún được cuốn lại thành từng lọn tṛn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc th́ vừa gọn một miếng. Khi nào có khách đến ăn, người bán mới nhể ốc, chứ không nhể thật nhiều ra để sẵn cả một rổ như thường thấy dạo sau này trông mất cả ngon.

   Người bán hàng rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm th́ mười họa mới nghe văng vẳng lên một tiếng “phở…ở”! Đặc điểm của mấy ông bán phở là cái mũ ở trên đầu. Nếu là mũ phớt (feutre), cũng có và ba cái lỗ thủng và màu dạ cũng bạch phếch. Nếu là mũ cát (casque), th́ cái chóp mũ cũng không c̣n nữa và từ cái lỗ thủng đó, ḷi ra những sợi tóc. Người Hà Nội gọi đó là những cái mũ phở. Những tiệm phở ngon của thành phố Hà Nội có thể đếm được trên mười đầu ngón tay. Phở Mi Xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ..v..v… Thông thường chỉ có mấy món tái, chín, gầu. Sau này người ta mới chế ra những thứ như tái sách, tái bắp, rồi nạm, vè, sụn. Nhưng ly kỳ nhất là phở… chó! Dĩ nhiên nó chỉ xuất hiện ở vài vùng ngoại thành hoặc một vài nơi ở phố huyện miền quê.

   Thời bấy giờ, cả Hà Nội chỉ có vài ba tiệm thịt chó ở phố Hàng Ḥm, là nơi chuyên sản xuất ra những chiếc vali và ḥm bằng gỗ. Rồi ít lâu sau, một tiệm thịt chó nữa mới mọc ra ở phố Hàng Đồng. Lui tới những chốn này thường là những tay giang hồ tứ chiếng, dân anh chị hoặc những người lao động. Họ xắn quần mong lợn, quấn khăn đầu ŕu, chân đi đất và cười nói oang oang trông như các tay anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc. Thủa ấy, h́nh như người Hà Nội chưa biết đến cái thú “sống trên đời không ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”. Nhất là các tiểu thư, chỉ nghe người ta nói đến những chuyện ăn uống ấy cũng đă rùng ḿnh rung mẩy rồi. Nhưng hôm nay th́ các cô nàng cũng chơi búa xua. Bước vào khu phố thịt chó trên đê Nhật Tân, người ta thấy phong cách nhậu nhẹt của họ không thua ǵ các bậc tu mi nam tử, nhưng thay v́ uống đế th́ họ lại uống bia Carlsberg.

   Vào giữa những năm 30, Hà Nội ít tiếng ồn v́ có khi cả ngày không nghe thấy một tiếng c̣i xe ô tô. Mỗi khi thấy thằng Tây râu xồm cưỡi xe môtô phóng đi vun vút th́ trẻ con lại ùa nhau ra xem và chúng gọi xe đó là xe b́nh bịch v́ tiếng máy xe nổ nghe pằm pằm… Thế rồi người lớn cũng bắt chước gọi theo để khỏi phải dùng tiếng Tây.

   Mùa hè đă thổi vào thành phố Hà Nội một luồng sinh khí mới để cho sự sinh hoạt được sống động lên và thoát ra khỏi giấc ngủ đông xuân dài dằng dặc. Nắng hạ reo vui trên những tàng cây bang, tỏa sáng trên mặt hồ gợn sóng thủy tinh, tráng bạc trên những cành cây liễu và soi rọi vào những hang cùng ngơ hẹp để cho khung cảnh bớt phần tối tăm. Mùa hè mới đích thực là mùa của thiếu nhi, nhất là các trẻ em con nhà nghèo. Bước ra đường, chúng không c̣n phải co ro trong chiếc áo trấn thủ với hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắng hạ tạo cho chúng có điều kiện để “đầu đội trời, chân đạp đất”. Thời đó, ít có em nào được đi dép, huống chi là đi giầy, mà thong thường chỉ đi guốc. Nhưng cái dụng cụ… guốc này lại rất bất tiện mỗi khi chạy nhảy. Cho nên các em bèn đi chân trần và cũng nên nhớ rằng cách đây khoảng sáu, bảy thập kỷ, các cụ nhà ta không có kế hoạch… sinh đẻ.

   Người chồng nghĩ sẵn ra một hai vế chữ Hán, để cho bà vợ cứ săn theo đó mà đặt tên con như: “Lực năng cử đỉnh, Thế khả bạt sơn” hoặc “Tu thân tề gia, trị quốc b́nh thiên hạ”. Nếu người đàn bà tiếp tục sinh sản th́ người chồng sẽ nghĩ ra them những chữ khác và càng nhiều anh chị em th́ lại càng ít được chăm sóc chu đáo.

   Hà Nội 36 phố phường có tới mười mấy cái ngơ với những cái bảng tên đàng hoàng như Ngơ Trạng Tŕnh, ngơ Huyện, ngơ Tràng An, ngơ Trạm, ngơ Tạm Thương, ngơ Tố Tịch, ngơ Phất Lộc, ngơ Gạch, ngơ Hàng Đũa, ngơ Yên Thái, ngơ An Chung, ngơ Văn Chương, ngơ Nam Ngư, ngơ Cấm Chỉ (nay đă trở thành một trung tâm ăn uống vào ban đêm)… Đó là chưa kể đến những xóm, như xóm Vạn Thái với những tiếng chát tiếng tom cùng với tiếng đàn tiếng phách, để thi đua với khu Khâm Thiên có cả một dăy nhà cô đầu. Như xóm Hạ Hồi, đa số là những biệt thự kín cổng cao tường, v́ ở nơi đó người ta sống trong sự yên ắng và xa ĺa hẳn với tiếng động. Tuy nhiên, vào những lúc quá trưa về chiều, cũng thấy văng vẳng những tiếng rao của một người đàn bà: “Ai có chai, bao chè, đồng nát, lông vịt, tóc rối đổi kẹo không!”. Người Hà Nội gọi họ là những bà đồng nát.

   Nhưng ồn ào nhất là khu Đường thành, bởi nó nằm kế cận những trại lính. Tiếng kèn “rê vầy” (réveil) từ trong thành vọng ra mở đầu cho một ngày mới. Trẻ con đă dựa vào âm điệu đó để đặt thành câu hát: “Con ḅ kéo xe, con ḅ kéo xe, con ḅ xe kéo” và tiếng kèn đi ngủ đánh dấu sự khép lại của một ngày: “Trèo tường mà ra, trèo tường mà ra”. V́ sau những tiếng kèn này, những chú lính ba gai thường rủ nhau trèo tường ra ngoài chơi để rồi trở về sau nửa đêm.

   Hàng Buồm có một sắc thái sinh hoạt riêng của nó. Tiếng rao của các hầu sáng báo cho nhà bếp biết các món ăn nào mà họ phải thực hiện. Tiếng chặt thịt quay, thịt ngỗng hạ xuống cái thớt với bề dầy cả gang tay và to bằng cái mâm đồng có chân của mấy ông khách trú Tân Phúc Điền. Tiếng hô “can pê” (cạn ly) của những tửu đồ người Hoa sau khi đánh ngă vài ba chai Mao đài hay Mai quế lộ. Tại khu phố này có hai tiệm ăn rất nổi tiếng, đó là Mỹ Kinh và Đông Hưng Viên với cái cầu thang thếp vàng sáng lóe được gọi là Escalier d’or. Một số học sinh khoảng cỡ 14 hoặc 15 tuổi, sau khi ăn xong đă ném bớt những cái đĩa trống xuống khu đất bỏ hoang ở phía dưới. Khi thanh toán tiền ăn, người bồi chỉ căn cứ những cái đĩa trên bàn mà tính tiền.

   Đặc biệt hơn là khu tam giác Hàng Bạc, Sầm Công và Quảng Lạc với ba rạp hát Hiệp Thành, Quảng Lạc và Sấn Nhiên Đài, là nơi được tŕnh chiếu hai bộ phim Việt Nam đầu tiên: Cánh Đồng Ma và Trận Phong Ba. Nó cũng là nơi cắm chốt của gánh hát Kim Chung sau này. Tối tối, họ khua thanh la, năo bạt rồi trống rong cờ mở để quảng cáo cho những đào kép của họ.

   Sở thú mini của cô Ba Tí nằm ở phố Hàng Bạc. Trong chuồng không có hổ, báo và cũng chẳng có voi như ở vườn bách thú nhưng có gấu, lợn ḷi, rồi vượn và khỉ. Vào những ngày nữ chủ nhân ngồi hầu bóng, người ta nghe thấy những tiếng đàn phưng phưng và những tiếng hát ơng ẹo của anh kép chầu văn. Các trẻ em nào láu lỉnh t́m cách lọt qua cái cửa ải gác cửa sẽ được cô Ba Tí ban phát tài lộc.

   Dĩ nhiên thành phố nào mà chẳng có tiếng ồn, nhưng ở Hà Nội có những tiếng ồn thật là đáng yêu và đáng nhớ. Tiếng chuông tàu điện, nó kêu leng keng, leng keng êm ái chứ không rộn ràng như tiếng chuông kính coong của chuông xe đạp hoặc làm nhức nhối đến điếc cả tai như c̣i tàu hỏa. Với những trẻ em nghịch ngợm, tàu điện là một phương tiện giao thông không mất tiền bởi chúng nhảy tàu thuộc vào hàng cự phách trông cứ thoăn thoắt như vượn. Khi chúng bị soát vé, chúng chỉ việc nhảy xuống rồi lại chạy theo bám vào những toa sau. Vào những ngày nghỉ học, chúng có thể chu du khắp thành phố và có khi vào măi tận Hà Đông. Không phải mua vé tàu, chúng dùng tiền ấy để ăn thịt ḅ khô mà người bán rào hàng bằng một phương thức hết sức đơn giản là họ nhấp nhấp cái kéo cho nó va vào nhau tạo thành những âm thanh lách cách. Hoặc tới quán mụ Béo ở bờ Hồ để uống Si tông ca la đinh (citron grenadine, c̣n gọi là si rô chanh lựu). Người đàn bà này là một nhân vật trong giới hắc đạo của Hà Nội năm xưa đấy. H́nh ảnh người phụ nữ béo mập có nước da đen ḍn đă in sâu vào tâm khảm của những học sinh trong suốt một thời gian dài. Đi nộp học phí bị kẻ gian móc túi hoặc ra bờ sông đá banh mà bị mất xe đạp th́ chỉ cần kể rơ vụ việc với bà ta là chỉ trong ṿng một ngày, của mất đi sẽ được hoàn trả về cho cố chủ.

   Sẽ là một thiếu sót khi nói về Hà Nội năm xưa mà lại bỏ quên ông Tàu già ngồi bán lạc rang ở bên ngoài cái cổng ṭ ṿ, cách chợ hàng hoa không bao xa và trông chéo sang phía trụ sở Crédit foncier (Tín dụng ruộng đất) mà trên nóc nó có đặt một cái c̣i báo 12 giờ. Hàng ngày cứ đúng giờ Ngọ, nó lại rú lên một hồi dài, vang dội ra tới ngoại thành và phía bên kia đê sông Hồng.

   Có những người Hà Nội sống xa quê hương, mỗi khi hướng ḷng về thành phố này, thường gửi gắm t́nh cảm của ḿnh vào h́nh ảnh hồ Gươm và tháp Rùa, v́ đó là những h́nh ảnh tiêu biểu đẹp nhất của quê hương…

                                                                Nguyên  Sơn

Home