bài 1Hiệp định Paris 1973 và những ngộ nhận về bản hiệp định nàyLê Quế Lâm Lời toà soạn: Hiệp định Paris được kư kết vào ngày 27/1/1973 đánh dấu một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam – một sự kiện mà nhiều người Việt cảm thấy đau nhói mỗi khi nhắc đến và cho rằng người Mỹ đă phản bội nhân dân Miền Nam qua biến cố bi thảm ngày 30/4/1975. Hơn 35 năm đă trôi qua kể từ ngày kư Hiệp định Paris, những bí mật bắt đầu được giải mă, giúp cho chúng ta có cơ hội biết thêm một số sự kiện từng bị che dấu. Ông Lê Quế Lâm – trước 1975 là một quân nhân làm việc ở Trung tâm khai thác Tài liệu hổn hợp Việt-Mỹ (Combined Documents Exploitation Center) thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Nhờ đó có dịp đối chiếu, phân tích, tổng họp nhiều nguồn tài liệu của cả ba phe Cộng Sản, VNCH và Hoa Kỳ để nghiên cứu cuộc chiến VN. Ngoài trách nhiệm, việc nghiên cứu đối với ông c̣n là niềm đam mê. Sau khi định cư tại Úc, ông xuất bản tác phẩm “Việt Nam - Thắng và Bại” vào năm 1993 để ghi lại những kinh nghiệm, kiến thức tích luỹ - cộng thêm những tài liệu mới t́m thấy tại các thư viện Tây Phương. Đó là bản tổng kết cuộc chiến VN dưới nhăn quan của một người trong cuộc viết về cuộc chiến của chính ḿnh. Sách này được Giáo sư Vũ Quốc Thúc viết lời tựa và cố giáo sư Lê Tấn Lợi viết Cảm đề "Việt Nam Thắng Bại Luận" và được giải Văn học đầu tiên của Hội Quốc tế Y sĩ VN Tự do năm 2002. Không dừng lại tại đó, ông Lê Quế Lâm vẫn tiếp tục đi t́m những sự thật khi những tài liệu mật của chính phủ Hoa Kỳ sau 33 năm bắt đầu được cho phép tiết lộ, đặt biệt trong bài viết này có phần giải mă các cuộc họp mật giữa Tổng Tống Nixon, Ngoại trưởng Kissinger với các lănh tụ Bắc Việt, Trung Cộng và Liên Xô liên quan đến cuộc chiến VN. Chúng tôi xin giới thiệu đến quư độc giả những khám phá mới về cuộc chiến Việt Nam nói chung và Hiệp định Paris nói riêng của học giả họ Lê. V́ bài dài cho nên chúng tôi sẽ đăng làm 3 hoặc 4 kỳ.
Hiệp định Paris 1973 và những ngộ nhận về bản hiệp định này“Về mặt pháp lư th́ đó là một văn bản có nội dung nghiêm túc. Nó đă bày tỏ sự tôn trọng những quyền cơ bản của một dân tộc, đặc biệt nó c̣n minh thị công nhận cho nhân dân miền Nam VN có quyền tự quyết và đảm bảo cho nhân dân MN được quyền hành sử quyền này một cách dân chủ. Để ôn ḥa chấm dứt xung đột, một thủ tục ḥa giải giữa các bên đă tham gia chiến tranh đă được trù liệu và một cơ cấu tập hợp đủ các bên này sẽ đứng ra áp dụng thủ tục ấy. Sau hết, hơn 10 quốc gia trong đó có đủ 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đă kư vào một định ước quốc tế để đảm bảo cho việc thi hành Hiệp định Paris 1973 được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh. Như vậy nếu các bên hữu quan muốn t́m một giải pháp vừa chính trị vừa pháp lư để chấm dứt chiến tranh lập lại ḥa b́nh cho VN th́ phải nói khó kiếm được một văn bản nào lư tưởng hơn Hiệp Định Paris 1973”. (Nhận xét của Luật sư Trần Thanh Hiệp - thành viên của Phái đoàn Việt Nam Cộng Ḥa tham dự ḥa đàm Paris). Bài trả lời phỏng vấn của Luật sư Trần Thanh Hiệp và ư kiến của ông về Hiệp Định (HĐ) Paris 1973 trong số báo Việt Luận ngày 16/5/2008, đă kết thúc loạt bài “Chúng ta có thể có thể rút ra đưọc bài học ǵ từ biến cố 30/3/1975”. LS Hiệp đưa ra hai bài học mới. * Bài học về quá khứ: đại ư ông cho rằng Hội nghị Yalta (1945) gồm Nga, Anh, Mỹ và Trung Hoa đă bàn tính việc chia đôi thiên hạ sau Thế chiến II. Đến năm 1972, Kissinger nói với Chu Ân Lai: “Chúng tôi không tính đến chuyện tiêu diệt Hànội, và ngay cả chuyện thắng Hà Nội cũng không được chúng tôi tính đến nữa. Nếu có thể sống với một Chính phủ cộng sản ở Trung Quốc th́ chúng tôi cũng có thể chấp nhận Chính phủ cộng sản ở Đông Dương…”. Nhiều người vẫn hay tưởng rằng đó là đường lối riêng của Kissinger, song đó là đường lối chung của Mỹ từ sau Thế Chiến II. Nhưng “những dân tộc nạn nhân của độc tài cộng sản bản địa cứ tưởng rằng tư bản Mỹ không bao giờ tính chuyện sống chung với cộng sản”. Do đó, “lỗi để mất miền Nam không phải chỉ do đồng minh đă bỏ rơi mà là do miền Nam không nêu lên một cách nghiêm chỉnh câu hỏi ḿnh có ǵ để Mỹ tính chuyện ‘cùng làm việc’ như Mỹ đă tính với cộng sản. Ôn lại bài học 1975, không phải để oán Mỹ, thậm chí để chống Mỹ, mà là để hiểu rơ người Mỹ hơn nữa và nếu muốn có Mỹ làm chỗ dựa để đánh bại độc tài xây dựng dân chủ”. Luật sư nói thêm “Hiệp định Paris 1973 đă trù liệu một giải pháp lập lại ḥa b́nh mở đường cho dân chủ với những bảo đảm quốc tế chưa từng thấy, nhưng Hà Nội đă không quan tâm ǵ tới dân chủ đích thực mà chỉ nuôi ư đồ thôn tính miền Nam để thực hiện giấc mơ tiểu bá quyền bằng chuyên chính trong vùng Đông Dương cũ. Đó là lư do nồng cốt của biến cố 1975 chôn vùi chế độ chính trị dân chủ non trẻ ở miền Nam. Ghi nhớ biến cố ấy không phải để ôm ấp thù hận mà để quyết tâm đưa dân chủ thay thế độc tài”. * Bài học về tương lai: LS Hiệp cho rằng “Cứ mỗi năm khi nhắc tới biến cố 30/4/1975 th́ người ta lại nói miền Nam là nước bại trận. Nhưng lịch sử ngày càng cho thấy rơ là thế bại trận này đang có cơ chuyển thành thế thắng…Trước hiện t́nh đất nước, chuyển bại thành thắng là điều khả thi. Thắng hay bại là do con người tự tạo ra cho ḿnh. Biến cố 30/4/1975 không phải là một bản án chiến bại chung thân đối với nhân dân miền Nam Việt Nam cũng như đối với tất cả những người dân chủ trong cả nươc. Chế độ độc tài sẽ phải bị thay thế nếu tất cả những người dân chủ nhất tề đứng lên bắt tay vào chuyện thay thế đó”. (1) Tôi kỳ vọng hai bài học quư báu rút ra từ biến cố 30/4/1975 của một chuyên viên pháp lư lăo thành vừa là chứng nhân lịch sử, sẽ giúp các thế hệ trẻ có cơ sở để kiến tạo một tương lai huy hoàng cho dân tộc từ những đổ nát của quá khứ. Để thực hiện điều đó, cần phải hiểu rơ thực chất cuộc chiến VN. Đây là địa bàn chính của cuộc đấu tranh ư thức hệ giữa độc tài cộng sản và dân chủ tự do, mà người ta thường gọi là chiến tranh lạnh. Sở dĩ gọi là chiến tranh lạnh v́ hai đối thủ: Liên Xô (LX) và Hoa Kỳ (HK) chưa bao giờ đối đầu nhau tại chiến trường. Họ “chung sống ḥa b́nh”, nhưng tích cực yểm trợ hai phe Quốc Cộng bản xứ trong cuộc chiến VN. Miền Bắc Cộng sản ở thế tấn công c̣n miền Nam Quốc gia ở thế pḥng thủ, tự vệ. Miền Bắc nêu ra nghĩa vụ dân tộc, thống nhất đất nước (mà thực chất là để bành trướng khối Cộng sản), c̣n miền Nam chiến đấu v́ lư tưởng dân chủ tự do. Đối với cộng sản, đây là cuộc “kháng chiến trường kỳ”, Trung Cộng quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, c̣n Lê Duẫn th́ nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. Trong khi sự can thiệp của Mỹ th́ có giới hạn. Nh́n lại ba trận chiến lớn nhất mà Hoa Kỳ đă can dự, ta sẽ thấy rơ: Đầu năm 1917 HK nhảy vào Thế chiến I, giữa năm sau chiến tranh chấm dứt. Trong Thế chiến II Hoa Kỳ tham chiến trong 4 năm từ 12/1941 cho đến 8/1945, chiến tranh Triều Tiên cũng 4 năm (6/1950-7/1953). Tại VN, Mỹ nhảy vào cuộc chiến tháng 3/1965, đến khi TT Nixon nhận trọng trách lănh đạo HK (tháng Giêng/1969), cuộc chiến đă kéo dài 4 năm. Nhân dân HK đă cảm thấy mơi mệt, phong trào phản chiến bắt đầu nổi lên, v́ thế Nixon cam kết sẽ chấm dứt chiến tranh VN trong nhiệm kỳ của ông. Nixon đă thực hiện đúng lời cam kết: Hiệp định chấm dứt chiến tranh, tái lập ḥa b́nh ở VN ra đời, với nội dung được Luật sư Trần Thanh Hiệp nhận xét là “nghiêm túc” và “khó kiếm được một văn bản nào lư tưởng hơn Hiệp định Paris 1973”. Rất tiếc, v́ những lư do chính đáng, Luật sư Hiệp không muốn đề cập đến Hiệp Định Paris 1973. Ông cho rằng: “Mỗi khi nhắc đến HĐ Paris 1973 tôi đều thấy không được thoải mái. Tuyệt đại đa số thành viên của phái đoàn đều là luật gia. Khởi đầu hai thế hệ luật gia chúng tôi rất tin tưởng vào hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc trù liệu một giải pháp lập lại cho đất nước một trật tự dân chủ ḥa b́nh có bảo đảm quốc tế vững chắc. Nhưng một thời gian sau chúng tôi đă nhận thấy được rằng việc này không tùy thuộc vào kiến thức chuyên môn cũng như lương tâm của chúng tôi. Những phiên họp hàng tuần ở Trung tâm Kléber chỉ là những màn kịch làm phong cảnh trang trí cho một cuộc sắp xếp bí mật ở bên trong giữa Mỹ và Hà Nội. HĐ Paris không hề phản ánh những thương thuyết tại pḥng ḥa đàm ở Trung tâm Kléber, Paris. Nó là con đẻ của Kissinger và Lê Đức Thọ. Cho nên anh em chúng tôi, những người đă khuất cũng như những người c̣n sống đều không hay nói, không muốn nói về HĐ Paris” (2). Riêng cá nhân tôi, một quân nhân được phân công nghiên cứu về cuộc chiến, tôi có bổn phận phải tường tŕnh với các chiến hữu và đồng bào về công tác nghiên cứu của ḿnh. Quyển “Việt Nam - Thắng và Bại” là bản tổng kết cuộc chiến VN trong bối cảnh cuộc đấu tranh ư thức hệ thế giới, dưới nhăn quan của một người VN viết về cuộc chiến của chính họ. Bản thảo đầu tiên tôi gởi đến thượng cấp của tôi là cựu Đại tá Hồ Văn Lời, hồi cuối tháng Chạp 1987. Đại tá Lời nguyên là Trưởng pḥng 2 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, sau đó là thành viên Quân sự trong phái đ̣an VNCH tại bàn đàm phán Paris. Đầu năm 1988, Đại tá Lời đang ở HK, đầu tháng 3/1988 mới trở lại Paris, nên Đại tá Mai Viết Triết (Hội cựu Quân nhân QLVNCH tại Pháp) đă gởi cho tôi lá thư đề ngày 1/2/1988, cho biết ông “rất vui mừng và phấn khởi v́ biết rằng c̣n có người cùng quan điểm, cùng hiểu rơ cái thế lâu dài của cuộc chiến bại ở Miền Nam năm 1975, phân biệt được cái bại chiến thuật để đem lại cái thắng chiến lược và nhất là đă nói lên cái t́nh dân tộc, cái nghĩa đồng bào, kêu gọi xóa bỏ hận thù để mở đường xây dựng đất nước dân tộc…Do đó tôi xin phép Anh được xử dụng những đoạn cần trong sách để làm tài liệu học tập, xây dựng anh em cán bộ. Mỗi đoạn trích dẫn đều sẽ ghi lại xuất xứ và tên tác giả và hoàn toàn không có tính cách vụ lợi. Thí dụ như bài “Thắng và Bại” tôi sẽ sao gởi cho các Hội Cựu Quân nhân ở Châu-âu”. Với tư cách một người nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cho rằng: trong cuộc chiến vừa qua, QLVNCH đă hoàn thành sứ mạng lịch sử khi HĐ Paris 1973 ra đời. Lư tưởng Dân chủ Tự do, tôn trọng nhân quyền và quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của người dân là quyền tự quyết định vận mạng đất nước mà Quân lực đó đă xă thân chiến đấu, được ghi đầy đủ vào Hiệp định chấm dứt chiến tranh. Hiệp định được một hội nghị quốc tế trong đó bao gồm đầy đủ 5 Ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An đồng kư tên tuyên bố tán thành và ủng hộ trước sự chứng kiến của ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kurt Waldheim. Trên con đường tiến lên của đất nước, biến cố 30/4/1975 là cái bại chiến thuật của quân dân miền Nam tự do. Nhờ đó, thế giới mới thấy rơ bộ mặt thật của Cộng sản: thống nhất đất nước không phải v́ nghĩa vụ dân tộc, mà để bành trướng hệ thống Xă hội chủ nghĩa thế giới. Năm 1991, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đă sụp đổ. Phải chăng cái bại chiến thuật ở VN năm 1975 là nhân tố khởi đầu để đạt được cái thắng chiến lược năm 1991? (Xin độc giả t́m đọc quyển “Việt Nam Thắng và Bại”). C̣n phần Việt Nam ngày nay ra sao? Sau khi nghe Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước Cộng ḥa XHCN Việt Nam nói với phóng viên báo Spiegel của Đức: “32 năm trước, ở thời điểm đó Miền Bắc đă giúp miền Nam phát triển xă hội chủ nghĩa, và nhiều cán bộ của đảng đă được phái vào miền Nam”, một thương gia người Úc, ông Mark H. đă nhận xét: “Như vậy, th́ rơ ràng là miền Bắc đă du nhập chủ nghĩa xă hội đến miền Nam vào thời điểm đó. Hay nói một cách khác, đó cũng là sự bắt đầu cho thời kỳ nghèo đói ở miền Nam”. Ông Mark H. c̣n cho biết thêm, phóng viên Đức mới hỏi lại ông Triết: “Nhưng thật sự th́ miền Nam đă thắng cuộc chiến, v́ kinh tế ở đó mạnh hơn nhiều so với miền Bắc”. Ông Triết thừa nhận “Sau khi đất nước thống nhất, miền Nam đă có một vị trí căn bản tốt hơn miền Bắc. Hoa Kỳ và các nước đồng minh đă đầu tư nhiều số tiền to lớn vào miền Nam để ngăn ngừa chế độ sụp đổ. C̣n về phần miền Bắc th́ đă cạn kiệt sau vài thập kỷ chiến tranh. Miền Nam đă có một thời gian dài để phát triển mạnh, nhất là về mặt cơ sở hạ tầng tốt hơn” (3) Đọc bài báo trên, khiến chúng tôi nhớ đến quyển hồi kư “From Third World to First” của ông Lư Quang Diệu, trong đó cựu thủ tướng Singapore nhận xét: Năm 1975 Sàig̣n ngang hàng Bangkok, năm 1992 VN thua xa Thái Lan 20 năm. (4) Và năm 2007, trở lại VN, ông cho rằng phải 40 năm nữa, VN mới đuổi kịp Thái Lan, c̣n đối với Singapore th́ phải cần 197 năm nữa. Trong cảnh đói nghèo, đất nước ngày càng tụt hậu, người dân trong nước khát khao luồng gió tự do dân chủ sớm đến với đất nước, v́ tự do dân chủ gắn liền với kinh tế phát triển, xă hội phồn vinh. Ước mơ đó vô vọng v́ những người dấn thân tranh đấu cho dân chủ tự do như Đức tăng thống Thích huyền Quang, Ḥa thượng Thích quảng Độ, Linh mục Nguyễn văn Lư, Mục sư Nguyễn hồng Quang, các ông Hà sĩ Phu, Hoàng minh Chính, Ts Nguyễn thanh Giang, Trần Khuê, Phạm quế Dương, Bs Nguyễn đan Quế, Nguyễn đ́nh Huy, Dương thu Hương… các trí thức trẻ như các luật sư Lê chí Quang, Nguyễn văn Đài, Lê thị công Nhân, kỹ sư Đổ nam Hải, Bs Nguyễn Hồng Sơn, các nhà báo Nguyễn vũ B́nh, Nguyễn khắc Toàn, Trần khải Thanh Thủy…bị trù dập, tù đày, quản chế gắt gao bởi nhà nước CSVN. Đồng bào trong nước chỉ c̣n kỳ vọng vào sự vận động đấu tranh của đồng bào ở hải ngoại. Nhưng họ rất thất vọng khi thấy bà con ở hải ngoại vẫn luôn oán hận HK. Ư nghĩ HĐ Paris 1973 là văn kiện bán đứng Miền Nam (MN) cho CS và HK phản bội đă in đậm vào tâm khảm họ.Theo tôi, điều đó không đúng, HĐ Paris 1973 là di sản quư báu của QLVNCH, giúp Cộng đồng người Việt tự do ở hải ngoại làm cở sở cho cuộc đấu tranh trong ḥa b́nh để có một đất nước VN dân chủ tự do trong tương lai. Chúng tôi kỳ vọng thành phần ưu tú của Cộng đồng người Việt tự do hải ngoại là thế hệ trẻ hậu duệ, thấy rằng: HK đă dùng HĐ Paris 1973 để giúp VN chấm dứt chiến tranh. CSVN đă lợi dụng HĐ đó để thống nhất đất nước. Giờ đến lượt thế hệ trẻ đ̣i HK và CSVN trong đối thoại song phương, phải nhớ rằng: phần c̣n lại của HĐ Paris 1973 về việc tôn trọng nhân quyền, các quyền tự do và quyền tự quyết của nhân dân VN chưa được thi hành. Đó là con đường duy nhất giúp đất nước tiến lên và tránh khỏi thảm họa Bắc thuộc tái diễn. V́ lư do trên, khi đề cập đến cuộc chiến VN, tôi luôn nhắc lại Hiệp định Paris 1973, nên có lần anh Lưu Dân - chủ bút Tuần báo Dân Việt nửa đùa nửa thật nói với tôi: “Thôi ḿnh đổi đề tài đi, viết về Hiệp định Paris hoài, nhàm chán lắm”. Tôi trả lời: “nếu vậy th́ tôi xin không viết nữa”. Mong anh chủ bút và độc giả Dân Việt thông cảm. Thật ra, người dân VN biết rất ít về Hiệp định Paris 1973, v́ lẽ dễ hiểu là giới lănh đạo, do bản chất độc tài, phản dân chủ, đều không thích thú ǵ với bản hiệp định đó. Họ không những, không đề cập đến hiệp định, mà c̣n giành “độc quyền” giải thích lịch sử, cố t́nh “thay trắng đổi đen”, bóp méo sự thật. Với tư cách một quân nhân QLVNCH được phân công nghiên cứu tài liệu về cuộc chiến VN, tôi xin tŕnh bày một vài bí ẩn về HĐ Paris 1973 để giải tỏa những ngộ nhận, hầu giúp công cuộc đấu tranh cho dân chủ tự do cho quê hương sớm thành tựu. Đàm phán 4 bên tại Trung tâm Kléber Paris: Như LS Hiệp tŕnh bày trên, nơi đây “chỉ là những màn kịch làm phong cảnh trang trí”. Phái đoàn Mặt trận Giải phóng Miền Nam và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Ḥa (Hà Nội) “tuy hai mà một, tuy một vẫn là hai: cùng chịu sự chỉ đạo chung từ trong nước”. (5) Họ đ̣i Mỹ rút quân khỏi miền Nam, công việc miền Nam do nhân dân miền Nam giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng. C̣n phái đoàn VNCH miễn cưỡng đến Paris “là để tỏ thiện chí ḥa b́nh” mà thôi. Chi tiết này được cựu đại tá Nguyễn Huy Lợi, nguyên cố vấn quân sự phái đoàn VNCH tại hội nghị Paris xác nhận với báo chí hồi cuối năm 2002. Khi phái đoàn vừa đến Paris, Đại sứ Cyrus Vance (sau này là Ngoại trưởng Mỹ thời TT Carter) đích thân đến tiếp xúc với ông. Ông Vance rất lịch sự và đi thẳng vào vấn đề: Đại tá nghĩ thế nào về ḥa đàm này? Ông Lợi trả lời: “Tôi không thể trả lời khác hơn lập trường chính thức của chính phủ là VNCH sẽ thắng trong cuộc chiến này. Vấn đề là cần thời gian v́ quân đội đang trong thời kỳ cải tổ và gia tăng quân số. Ḿnh đến ḥa đàm là để tỏ thiện chí ḥa b́nh”. Ông Vance trả lời ngay: “Đại tá nhầm rồi. V́ ḿnh không thắng được trong cuộc chiến này, nên ḿnh mới phải tới đây t́m một thỏa hiệp”. (6) Tổng thống Thiệu lập luận rằng VNCH là nạn nhân trực tiếp trong mưu đồ xâm lược của Bắc Việt, ông tŕnh bày với TT Johnson tại hội nghị Honolulu tháng 7/1968 là ông sẽ thương lượng thẳng với Hà Nội, chớ không bao giờ chịu thương lượng với kẻ được Hà Nội ủy nhiệm để thay chúng thống trị tại Miền Nam (7). Nhưng v́ áp lực của HK, TT Thiệu chịu đàm phán với MTGP nhưng vẫn khăng khăng với lập trường “bốn không” (Không thừa nhận CS, Không trung lập hóa miền Nam, Không lập chính phủ liên hiệp, Không nhượng đất cho CS). Ông đ̣i Hà Nội chấm dứt xâm lược miền Nam và rút quân về Bắc, trong khi HK chủ trương bảo vệ miền Nam tự do bằng một hiệp định ḥa b́nh. Lập trường của hai đoàn CS th́ nhất trí, c̣n lập trường của phía tự do th́ bất đồng, “trống đánh xuôi kèo thổi ngược”. HK phải mật đàm với Hà Nội để sớm chấm dứt chiến tranh, v́ thời gian có giới hạn. Do đó, cuộc đàm phán 4 bên ở Paris chỉ là những màn kịch: * Màn kịch đầu tiên là h́nh thức chiếc bàn họp, là vấn đề nan giải, gây tranh căi nhiều tháng trời. Phái đoàn VNCH không chấp nhận ngồi ngang hàng hoặc đối mặt với phái đoàn MTGP, vậy phải sắp xếp như thế nào? Bàn tṛn, vuông, chữ nhật đều không thích hợp. Nếu đặt phái đoàn Sài G̣n ngồi đối diện với phái đoàn Hà Nội như mong muốn của TT Thiệu th́ chả lẽ phái đoàn HK ngồi đối mặt với phái đoàn MTGP hay sao? Vă lại, Hà Nội cũng không chấp nhận ngồi đối diện với phái đoàn “tay sai của Mỹ”. Nếu nói rằng MTGP là con đẻ của Hà Nội, phái đoàn MTGP phải ngồi phía sau phái đoàn Hà Nội…th́ phe CS lại đ̣i phái đoàn Sài G̣n phải ngồi phía sau phái đoàn HK. Thật sự, đến nay tôi cũng không h́nh dung được chiếc bàn họp hội nghị bốn bên ở Paris như thế nào, vă lại biết để làm ǵ? * Kế tiếp là màn tŕnh diễn đào kép: Từ 1965 hay trước nữa, thế giới chăm chú theo dơi cuộc chiến tàn khốc ở Việt Nam, nay họ có dịp nh́n tận mặt những đại diện của các phe ở VN tham dự ḥa, t́m hiểu quan điểm chính trị của họ ra sao? Họ thấy ông bà Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, cố vấn phái đoàn VNCH đến Paris với đoàn tùy tùng đông đảo ăn mặc sang trọng, như một phái đoàn đi du lịch. Phu nhân ông cố vấn - bà Đặng Tuyết Mai xuất hiện lộng lẩy như một minh tinh màn bạc, cùng h́nh ảnh ông PĐL trưởng đoàn VNCH đi vào một khách sạn sang trọng với cô đào cải lương TN cùng xuất hiện trên nhiều tờ báo. Nh́n ông Kỳ, người dân Paris nhớ lại câu nói (trịch thượng) của TT De Gaulle khi báo chí xin ông cho biết ư kiến về lập luận của Nguyễn Cao Kỳ: phản đối Pháp chủ trương trung lập hóa MNVN. De Gaulle hỏi lại “Qui est Ky” (Kỳ là ai?) khi ông Kỳ là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Trong khi, bà Nguyễn Thị B́nh (NTB), trưởng đoàn MTGP, là cháu ngoại nhà cách mạng Phan Chu Trinh được nhiều người ở Paris biết tiếng v́ cụ đă sống ở đây từ năm 1911 đến 1925. Bà B́nh, búi tóc, mặc áo dài theo truyền thống dân tộc, v́ thế càng được nhiều thiện cảm của người dân Paris và báo chí thế giới. Bà B́nh c̣n có một lợi điểm nữa: là một phụ nữ trẻ so với ba trưởng đoàn khác đều là những chính khách nam giới già dặn như Harriman, Cabot Lodge, Xuân Thủy, Phạm Đăng Lâm, Trần Văn Lắm… Họ đối xử với bà vừa lịch sự của một nhà ngoại giao, vừa ga lăng đối với một phụ nữ. Nh́n thấy bà luôn đi trước các trưởng đoàn khác khi bước vào pḥng họp, nhiều người có cảm tưởng: bà như là người hướng dẫn cả bốn phái đoàn tham dự ḥa hội. * Màn tŕnh diễn trong bàn hội nghị: Phái đoàn Hà Nội luôn lớn tiếng tố cáo HK là đế quốc xâm lược (miền Nam), là đế quốc gây chiến (dội bom Bắc Việt). Họ gọi giới lănh đạo Sàig̣n là bọn “Mỹ Thiệu”, bọn “Thiệu Kỳ Hương”…Họ cho rằng Miền Nam là thuộc địa trá h́nh của Mỹ... Trong 5 tháng đầu của hội nghị bốn bên, ông Trần Bửu Kiếm (TBK) là trưởng đoàn MTGP. Trong phiên họp ngày 14/5/1969, ông bất thần thay đổi lập trường, tuyên bố: công việc miền Nam do nhân dân miền Nam quyết định, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Điều này trái ngược với lập trường từ trước đến nay của Hà Nội là: công việc MN do nhân dân MN quyết định theo đúng cương lĩnh của MTGPMN. (Được biết, hồi cuối năm 1967, HK đă can thiệp với VNCH phóng thích hai nhân vật cao cấp của MTGP. Đó là bà Dược sĩ Phạm Thị Yên, vợ ông Trần Bửu Kiếm và bà Nguyễn Thị Chơn - vợ Trần Bạch Đằng lúc đó ông là Bí thư Thành ủy Sàig̣n-Chợlớn-Giađịnh. Sau này, bà Chơn là phụ tá cho bà Nguyễn Thị B́nh tại ḥa đàm Paris). Tháng 6/1969 ông TBK được bà NTB thay thế. Từ đó, bà chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của Hà Nội, đ̣i thay thế chính quyền Sài G̣n bằng một chính phủ liên hiệp có sự tham gia của mọi khuynh hướng chính trị. Nhờ chiêu bài này, MTGP lôi kéo một số chính khách có khuynh hướng đứng giữa, chủ trương ḥa giải, mong muốn ḥa b́nh. Ông Thiệu lên án những thành phần này là thân Cộng, vô t́nh ông đă đẩy một lực lượng lớn, vốn là những người quốc gia đứng về phía đối lập khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc. Điển h́nh là Luật sư Nguyễn Văn Huyền, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Linh mục Trần Hữu Thanh… Tóm lại, hội nghị bốn bên ở Paris không giúp ích ǵ cho việc giải quyết chiến tranh, trái lại c̣n gây tai hại cho phía quốc gia. Có điều đáng nói là lập trường của ông Trần Bửu Kiếm được HK tán đồng, Kissinger cho rằng lập trường của MTGPMN phù họp với chủ trương của Mỹ: công việc miền Nam do nhân dân MN quyết định (quyền tự quyết), không có sự can thiệp của bên ngoài tức Hoa Kỳ và Bắc Việt. Tại sao HK không giải quyết chiến tranh VN theo kiểu Triều Tiên: Tháng 6/1950, Cộng sản Bắc Hàn công khai vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Hàn. HK liền đưa vấn đề này ra LHQ, phái đoàn Liên Xô không dùng quyền phủ quyết, v́ thế HK đă lănh đạo Liên quân LHQ đẩy lùi quân xâm lăng CS Bắc Hàn trở bắc vĩ tuyến 38. Sau đó Hiệp định Genève 1954 đă thừa nhận thực trạng chia cắt hai nước Triều Tiên. Rút từ bài học Triều Tiên, Hà Nội chỉ lén lút xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam để yểm trợ Mặt trận Giải phóng. Đến đầu năm 1965, nhận thấy miền Nam tự do sắp sụp đổ, HK liền xử dụng hai gong kèm: vừa đưa quân vào miền Nam vừa oanh kích miền Bắc để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, giải quyết chiến tranh bằng đường lối ḥa b́nh. Nổ lực của HK kéo dài đúng 3 năm mới đưa được Hà Nội đến bàn hội nghị Paris. Từ đó, HK đưa ra đề nghị song phương rút quân: Quân Bắc Việt cùng Quân đội Mỹ và Đồng minh đồng rút khỏi miền Nam VN. Tương lai chính trị miền Nam sẽ do nhân dân MN tự quyết định, chớ không phải do CS Hà Nội hoặc Hoa Kỳ áp đặt lên nhân dân MNVN. Đề nghị hợp lư này tưởng dễ, nhưng trong hơn 4 năm đàm phán, Hà Nội vẫn không chấp nhận, dù HK đă tỏ thiện chí bằng cách đơn phương rút quân. V́ thế, HK phải dùng đến sức mạnh chính trị và kinh tế của ḿnh để vận động với hai đàn anh của Hà Nội. Từ sau Thế chiến II, thế giới ở trong thế “lưỡng cực” với sự đối đầu giữa Thế giới Tự do và Quốc tế CS. Nơi nào đứng về phía HK th́ bị CS khuynh đảo, nơi nào bị CS mưu toan lật đổ th́ HK can thiệp, v́ thế tạo ra nhiều ḷ lửa chiến tranh, mà điển h́nh là VN. Tại đây, HK đă đi tiên phong trong việc mưu t́m ḥa b́nh bằng cách rút quân khỏi VN, đàm phán với các phe liên hệ VN để giải quyết chiến tranh bằng con đường ḥa b́nh. Theo HK, thế giới ngày nay, không phải chỉ có Cộng sản và Tự do, mà c̣n có con đường thứ ba để các nước lựa chọn. HK đă chuyển mối quan hệ thế giới từ thế “lưỡng cực” sang thế “ba chân vạc”. Từ 1971, HK không c̣n phủ quyết, chấp nhận cho Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa tức Trung Cộng (TC) gia nhập LHQ và là thành viên thường trực Hội đồng Bảo An/LHQ (thay thế Đài Loan). Từ nay TC đứng ngang hàng hàng với LX và HK, họ lại tự nhận là người đứng đầu Thế giới thứ ba, sẽ góp phần mang lại ḥa b́nh cho thế giới. Đầu năm 1972, Nixon làm sứ giả đến Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cổ vũ cho ḥa b́nh. Theo Nixon, chính sự can dự của các cường quốc đă tạo ra t́nh trạng căng thẳng nhiều nơi trên thế giới. Do đó, nguyên tắc bất can thiệp của các cường quốc và lực lượng bên ngoài, để các dân tộc được tự quyết định vận mạng của ḿnh sẽ mang lại ḥa b́nh cho nhân loại. Cuối tháng 2/1972 Nixon đến Bắc Kinh, trong thông cáo chung kết thúc chuyến công du đầu tiên của tổng thống HK tại Trung Cộng đă nêu rơ: “Cả hai bên đều không mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực Á Châu”. (8) Ba tháng sau, Nixon đến Mạc Tư Khoa gặp Breznhev. Cuộc họp thượng đỉnh diễn ra trong chiều hướng thuận lợi, xóa tan bầu không khí bị đầu độc bởi sự không tin cậy và thù địch lẫn nhau. Một loạt dự án hợp tác Nga Mỹ được vạch ra. HK dành nhiều ưu đăi cho LX như bán lúa ḿ với giá rẻ, cho LX hưởng qui chế tối huệ quốc trong giao thương. Hai nước cam kết giảm bớt sự xung đột đi đến loại trừ hoàn toàn nguy cơ xung đột vũ trang, hai bên đă kư một thỏa ước lịch sử về “hạn chế vũ khí tấn công chiến lưọc” (SALT tức Strategic Arms Limitation Treaty). Nixon đă b́nh thường hóa mối quan hệ Đông Tây, mở ra thời kỳ ḥa hoăn với LX và chuẩn bị b́nh thường hóa bang giao với TC. Tám tháng sau, HK kết thúc chiến tranh VN bằng HĐ Paris 1973. Theo tinh thần hiệp định này, Chính phủ MN do nhân dân MN quyết định qua cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do sẽ hiệp thương với chính phủ MB để thống nhất nước nhà theo tinh thần điều 15 của HĐ Paris 1973. Đây là mẫu mực để thống nhất hai nước bị chia cắt khác là Triều Tiên và Đức. Kissinger có bán đứng MNVN hay không? Ngày 18/10/1972, Kissinger mang bản dự thảo Hiệp định Paris sang tham khảo với chính quyền VNCH. Tổng thống Thiệu buộc tội Kissinger là đă “thông đồng” với Nga Xô và Trung Cộng để bán đứng miền Nam VN (9). Đến năm 2006 khi tài liệu mật của Văn khố Quốc gia (HK) được công bố, có ghi lại cuộc đối thoại giữa Kissinger và TT Chu Ân Lại tại Bắc Kinh ngày 20/6/1972, dư luận lại cho rằng Kissinger đă phản bội VNCH khi ông ta cam kết với Chu Ân Lai: “Mặc dù chúng tôi không thể đưa một chính quyền CS lên nắm quyền lực, nhưng nếu nó xảy ra sau một thời gian nào đó, như là kết quả của một diễn biến lịch sử, và nếu chúng tôi có thể chấp nhận một chính quyền CS ở Trung Hoa th́ chúng tôi phải chấp nhận nó ở Đông Dương” (While we cannot bring a communist government to power, if, as a result of historical evolution it should happen overa period of ime, if we can live with a communist government in China, we ought to be able to accept it in Indochina). T́m đọc tài liệu mật kể trên, cho thấy Kissinger không có mưu đồ thỏa hiệp với Chu Ân Lai để đưa ba nước Đông Dương vào quĩ đạo CS. Vào hạ tuần tháng 6/1972, chỉ c̣n 4 tháng sẽ có cuộc bầu cử tại Mỹ, trong khi cuộc chiến tại VN trở nên ác liệt Cộng quân mở cuộc tổng tấn công mùa Hè 1972. Sau khi dàn xếp xong với LX, Kissinger được lịnh Nixon trở lại Bắc Kinh t́m sự thỏa hiệp với TC để kết thúc chiến tranh VN. Ông ta chỉ thuyết phục họ Chu áp lực Hà Nội chấp nhận giải pháp chấm dứt chiến tranh của HK, điều này có lợi cho Bắc Kinh, được coi là lănh tụ Thế giới Thứ ba. Tại MNVN, lực lượng thứ ba ra đời từ 1970, họ sẽ là một trong ba thành phần của Hội đồng Ḥa họp Ḥa giải dân tộc, đứng ra tổ chức cuộc tổng cử, để người dân MNVN thực hiện quyền tự quyết của ḿnh. Trong thời điểm HK rút lui, người dân MNVN có nhiều khả năng chọn lựa con đường thứ ba chớ không thể tán đồng MTGP. Trong cuộc họp tại Bắc Kinh như kể trên, trước khi đề cập đến vấn đề VN, Kissinger và Chu Ân Lai đă nói về cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ ở Mạc Tư Khoa hồi tháng trước. Trong việc giao thương với Mỹ, khi Kissinger nói rằng: “Các lănh tụ Sô Viết cực kỳ thích thú khi nhận được khoản vay tín dụng và quy chế ưu đăi tối huệ quốc” (Most Favored Nation treatment) của HK. Chu hỏi “Và họ không trả nợ”. Kissinger đáp: “Đúng vậy, dù họ rất muốn để nhận được tín dụng”. Ông ta cười và nói thêm: “họ muốn vay quá nhiều so với số nợ họ thiếu, vay để trả nợ (cũ)…”, Chu liền tiếp lời “và dùng phần lớn khoản tín dụng đó để mua thiết bị của Mỹ”. Kissinger đáp: “chắc chắn là vậy, song đó là điều không quan trọng, bởi v́ những ǵ họ cần, họ có thể nhận từ phía chúng tôi. Và có một chuyện chưa được phổ biến công khai, là họ rất muốn chúng tôi tham gia vào việc phát triển lớn lao vùng Tây Bá Lợi Á, với số tiền rất lớn…8 tỉ đôla. Họ muốn HK thực hiện đề án đó một ḿnh hoặc hợp tác với Nhật”. Nguyên văn (this has not yet been made public, they are extremely interested in getting us involved in a very massive development of Siberia. Our approach...the sums involved are very large...$8 billion. And they want us to do it jointly with the Japanese, or alone; they are not particular. They will take it from us alone if we are willing to do it). Đọc đoạn trên, cho thấy Liên Xô giúp giải quyết êm đẹp chiến tranh VN, họ hưởng lợi rất nhiều trong mối họp tác Nga Mỹ, đúng như nguyên tắc “hai bên cùng có lợi”. Bước sang vấn đề VN, Chu yêu cầu Kissinger cho biết ư định giải quyết vấn đề VN như thế nào, ông sẽ nêu các thắc mắc. Kissinger cho biết “HK thật tâm muốn chấm dứt cuộc chiến này nên đă mở đầu thương thuyết với Hànội từ 1967. Chúng tôi quan niệm nước VN Dân chủ Cộng ḥa là một thực tế mạnh nhất ở Đông Dương. Chúng tôi không có lợi ǵ khi làm tan vỡ hay đánh bại thực thể đó. Tôi không hiểu tại sao Hànội không thấy được sự việc đó”. Chu góp ư, v́ “Hànội quan tâm đến chính sách VN hóa chiến tranh của HK”. Kissinger giải thích, v́ “HK muốn tách rời chuyện chính trị với chuyện quân sự để chúng tôi có thể rút lui và để cho các lực lượng tại chỗ giải quyết với nhau. Hànội đ̣i một điều mà chúng tôi không làm được -dù làm tổn thất quan hệ giữa hai nước chúng ta- là lật đổ một chính quyền bạn. Không phải v́ HK thương tiếc một cá nhân nào hay thích chính quyền thân Mỹ ở Sàig̣n. Lư do không làm được là v́ chúng tôi không chấp nhận một chính sách ngoại giao dựa trên sự phản bội”. Trả lời câu hỏi của Chu: “Nếu sau khi HK rút quân và tù binh được trao trả hết, chiến tranh bùng nổ trở lại th́ HK sẽ làm ǵ. Tôi thấy ông khó trả lời câu hỏi này”. Kissinger nói: “Khó trả lời là v́ tôi không muốn khuyến khích một chuyện như vậy. Nhưng tôi thí dụ như đề nghị ngưng bắn ngày 8/5 vừa rồi của HK được chấp thuận nghĩa là có 4 tháng để rút quân và 4 tháng để trao trả tù binh, và vào tháng thứ 5 chiến tranh lại bùng nổ th́ chúng tôi phải xem là chúng tôi bị lừa gạt và đương nhiên chúng tôi không thể chấp nhận. Trái lại, nếu Hànội thương thuyết một cách nghiêm chỉnh với NVN, và sau một thời gian dài, chiến tranh bùng nổ lại th́ chúng tôi không trở lại, có phần chắc là không”. Khi đề cập đến chính quyền Sàig̣n, Chu cho rằng: “Đó là thảm kịch do (NT Foster) Dulles tạo ra và bây giờ ông nếm vị chua của nó”. Kissinger đáp: “Tôi đồng ư với ông, vấn đề trước mắt chúng ta là thảm kịch VN”. Chu hỏi tiếp: “Nhưng ông có thể rũ bỏ thảm kịch đó ? Kissinger trả lời dứt khoát: “Không. Rút quân th́ được, nhưng HK sẽ không thuận những điều kiện khác. Tôi đă hội đàm 13 lần, trong đó 8 lần với ông Lê đức Thọ, tôi thường nói với ông ấy ‘cả hai bên nên đặt mục tiêu thương thuyết cho rơ ràng’, nhưng lần nào ông Thọ cũng bác bỏ đề nghị của tôi. Trước hết họ sợ bị lừa. Thứ hai là họ theo đuổi sách lược quân sự, một mặt để làm suy yếu chính quyền Sàig̣n, mặt khác phối hợp quân sự với chiến tranh tâm lư để làm suy yếu chính phủ HK. Và đó là điều chúng tôi không thể chấp nhận được. V́ vậy, đến giờ này họ vẫn không chịu chấp nhận bất cứ một nhượng bộ nào cả. Hànội nghĩ họ đang thắng và muốn làm cho dân chúng HK nghĩ rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa, họ ép chúng tôi phải nhận các điều kiện của họ. Khi thương thuyết về tù binh, họ không chịu thương thuyết với chính phủ HK hay với hội Hồng Thập tự mà lại thương thuyết với phe đối lập”. Về cuộc tấn công hiện nay của Bắc Việt (BV) (tức cuộc tấn công mùa Hè 1972). Kissinger cho rằng “Chúng tôi có chương tŕnh giảm quân và không tăng thêm các hoạt động quân sự. Nhưng BV lợi dụng cuộc bầu cử tại HK, tấn công để bắt chẹt chúng tôi phải chấp nhận các điều kiện của họ mà chúng tôi đă nói là không chấp nhận được. Chúng tôi thuận các điều kiện khác, nhưng điều kiện đó (lật đổ ông Thiệu) th́ không. Theo tôi, cuộc tấn công của BV đă bị chận đứng và trong năm nay BV sẽ không có một triển vọng nào về quân sự. Cuộc tấn công cũng không làm cho dân chúng ở HK ồ ạt xuống đường. Khi Mỹ oanh tạc Cambodia có 200 ngàn người xuống đường tại Hoa thịnh Đốn, cũng không v́ thế mà thay đổi chương tŕnh. Sau ngày 8/5 những người phản chiến chỉ huy động được 5000 người biểu t́nh. BV nuôi hy vọng McGovern sẽ thắng trong cuộc bầu cử tháng 11 này. Tôi nghĩ ông ta khó thắng. Các cuộc thăm ḍ cho thấy ông ta thua Nixon đến 20 điểm”. Chu hỏi: “Nếu McGovern thắng cử ông ta có lật đổ ông Thiệu không ? Kissinger trả lời “Tôi không chắc…và cũng đừng quên bề nào chúng tôi cũng c̣n tại chức 7 tháng nữa”. Kissinger nhận định thêm “Nếu McGovern đắc cử chẳng những chính sách HK đối với VN thay đổi mà c̣n thay đổi trong các chính sách đối với LX, Ấn độ, Nhật bản…trong khi thực tế là tại Mỹ khuynh hướng chung là ủng hộ sự cải thiện quan hệ giữa HK và TQ... V́ vậy chúng tôi tin rằng chấm dứt chiến tranh lúc này có lợi cho cả hai bên. nếu chiến tranh c̣n tiếp tục Hànội sẽ mất mát nhiều hơn cái họ có thể có được. Cuộc tấn công của họ đă bị chận đứng và họ đang có khó khăn nội bộ và chúng tôi sẽ làm cho nước VNDCCH gặp nhiều khó khăn ngoài ư muốn của chúng tôi. Chúng tôi không muốn Hànội trở nên yếu kém”. Kissinger kết luận “Chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh VN, cách giải quyết nhanh nhất là ngưng bắn, rút quân và trao đổi tù binh. Các việc khác để cho tương lai quyết định, nếu cần chúng tôi có thể tuyên bố trung lập đối với các biến chuyển chính trị sau này, và chúng tôi sẽ thuyết phục Nam VN cam kết giữ chính sách đối ngoại trung lập”. Theo Kissinger, “phải tách rời vấn đề quân sự với vấn đề chính trị v́ bàn về chính trị không bao giờ dứt. Bàn đến chính trị có nghĩa là duy tŕ chính quyền Sàig̣n - một điều Hànội không chịu, hay lật đổ chính quyền Sàig̣n - điều chúng tôi không chịu, và thực tế không có một giải pháp chính trị ở giữa. Vậy chúng tôi phải t́m con đường khác để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta có thể biến cuộc tranh chấp quốc tế thành một cuộc tranh chấp địa phương và ông thủ tướng nghĩ là có thể - th́ đó chính là chính sách của chúng tôi. Trước hết để nó không biến thành một vấn đề quốc tế, và để cho người Đông Dương tự quyết định số phận của ḿnh. Tôi cam đoan rằng quyền tự quyết là mục tiêu của HK ở Đông Dương, và tôi tin TQ cũng muốn thế. Chúng tôi không muốn tranh giành ǵ tại đó. Và mặc dù chúng tôi không thể đưa một chính quyền CS lên nắm quyền lực, nhưng nếu nó xảy ra sau một thời gian nào đó, như là kết quả của một diễn biến lịch sử, và nếu như chúng tôi có thể chấp nhận một chính quyền CS ở Trung Hoa th́ chúng tôi phải chấp nhận nó ở Đông Dương” (10) Sau khi tài liệu năm 1972 nói trên được giải mật, Kissinger tái xác nhận: “Nếu họ thoả thuận được một kết quả, một dàn xếp dân chủ, chúng tôi sẽ để nó phát triển theo tiến tŕnh riêng của nó”, ông nói thêm “chấp nhận cộng sản nắm quyền không có nghĩa là mong cho việc đó xảy ra”. (11)
Chú thích: 1 & 2- Trần Thanh Hiệp, Chúng ta có thể rút ra bài học ǵ từ biến cố 30/4/1975, Việt Luận Úc châu, 16-05-2008. 3- Thiên Minh, Chuyện Hội nhập, Việt Luận Úc Châu, 16-05-2008. 4- Lee Kuan Yew, From Third World to First, Harper Collins Publishers, Inc, New York, 2000, P. 314. 5- Nguyễn Thị B́nh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, Tr. 40. 6- Nhật báo Người Việt Úc châu số 462 Thứ bảy 26/10/2002 (Trích báo Ngày Nay HK) 7- Nguyễn Tiến Hưng và J.L.Schecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, Nxb C & K Promotions, Los Angeles, 1987, Tr. 40. 8- Henry Steele Commager, Documents of American history, Vol II: Since 1898, Prentice Hall Inc, New Jersey, 1973, p. 706. 9- Nguyễn Tiến Hưng, Sđd, Tr. 178-179. 10- *Trần b́nh Nam, Ôn cố tri tân, Việt Luận số 2075, Thứ sáu 09-06-2006. * www. National Security Archieve, Doc 10, Memorandum of Conversation with Zhou Enlai, 20 June 1972, 2.05-6.05 PM 11- Calvin Woodward, AP, 26/5/2006
Bài 2 HĐ Paris 1973 có cho phép quân Bắc Việt ở lại miền Nam và giống y hệt lập trường 10 điểm của Cộng Sản hay không? Lê Quế Lâm 1. Từ những nhiêu khê để có đàm phán: Đúng một tháng sau khi đưa hai Tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến vào Đà Nẳng, ngày 7/4/1965 tại Đại học John Hopkins, Tổng Thống Johnson tuyên bố: “Hoa Kỳ (HK) sẵn sàng thương lượng không điều kiện với các chính phủ liên hệ để giải quyết chiến tranh VN dựa trên những hiệp ước cũ hoặc được bổ túc thêm bằng những hiệp ước mới”. Ông cho biết: HK sẽ làm mọi thứ cần thiết để đạt cho được mục tiêu là: “nền độc lập của Nam Việt Nam được bảo đảm vững chắc để họ có thể hoạch định mối liên hệ của họ đối với các nước khác mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Nơi đây không phải là căn cứ quân sự cho nước nào và cũng không liên minh với nước nào”. Johnson khẳng định: “Nếu mục tiêu trên đây chưa đạt được, Hoa Kỳ sẽ không rút khỏi miền Nam Việt Nam hoặc công khai hoặc khoác dưới một hiệp định vô nghĩa nào”. Ông c̣n đề nghị Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc U Thant với uy tín và kiến thức sâu rộng về châu Á, đề xướng với các ước Đông Nam Á 1iên kết với nhau trong đó có Bắc Việt Nam, góp phần trong nổ lực chung để hợp tác và phát triển khu vực trong ḥa b́nh. HK sẽ đầu tư 1 tỉ đôla cùng các nước kỹ nghệ phát triển kể cả Liên Xô tham gia vào nổ lực chung đó, để “biến đổi sự vô vọng và kinh sợ thành những triển vọng và tiến bộ” (1) Hôm sau, trong diễn văn đọc trước Quốc hội khóa 3, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (PVĐ) bác bỏ đề nghị ḥa b́nh của TT Johnson và đưa ra đề nghị 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa: (1) Yêu cầu HK rút quân khỏi MNVN, (2) Đ́nh chỉ hành động chiến tranh với miền Bắc, (3) Công việc miền Nam do nhân dân MNVN giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng Miền Nam (MTGPMN), (4) Việc thống nhất VN sẽ do nhân dân hai miền tự quyết định không có sự can thiệp từ bên ngoài. Ông PVĐ c̣n khẳng định: “Mọi giải pháp trái với lập trường trên đây đều không thích hợp, giải pháp muốn dùng Liên Hiệp Quốc để can thiệp vào t́nh h́nh nước Việt Nam cũng đều không thích hợp”. (2) Johnson cho biết ông sẵn sàng chấp nhận ba điểm 1,2 và 4, nhưng điểm 3 không thể giải quyết theo cương lĩnh của MTGP mà phải t́m một giải pháp thích nghi qua sự thương thảo tại bàn hội nghị. Để thuyết Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, Johnson leo thang chiến tranh từng bước tùy theo mức độ tấn công của đối phương, vừa đưa thêm quân vào MN, vừa oanh tạc miền Bắc, một chiến thuật có trù liệu những thời gian tạm ngưng dội bom, tạo cơ hội cho BV chấp nhận thương thuyết. Đến đầu tháng Hai/1967 khi đến thăm Anh Quốc, Thủ tướng Liên Xô Kosygin lên tiếng yêu cầu HK chấm dứt không điều kiện việc oanh tạc miền Bắc để khởi đầu các cuộc thương thuyết ḥa b́nh. Do đó ngày 8/2/1967 TT Johnson chính thức gởi đến Hồ Chí Minh (HCM) lời đề nghị: - HK sẽ ngưng ném bom miền Bắc và ngưng tăng cường quân lực Mỹ ở miền Nam, nếu BV cũng đ́nh chỉ gởi người và vũ khí vào miền Nam. Sau đó Mỹ và Bắc Việt sẽ tiến hành những cuộc mật đàm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam. Trong thư trả lời, ông HCM lập lại đề nghị 4 điểm của Hà Nội, ông coi đó là cơ sở để giải quyết cuộc chiến ở miền Nam VN. Ông cho biết nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) không thể thương lượng dưới sự đe dọa của bom đạn Mỹ. Hoa Kỳ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chống lại nước VNDCCH, khi đó hai bên mới có thể đàm phán và thảo luận những vấn đề mà hai bên quan tâm”. (3) Sau đó, từ tháng 6/1967 Kissinger bắt đầu tiếp xúc mật với Hà Nội qua trung gian hai khoa gia học người Pháp là Marcovich và Aubrac. Đến tháng 10/1967, hai bên ngưng tiếp xúc, hơn ba tháng sau xảy ra cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Ngày 30/3/1968, Johnson ra lệnh xuống thang chiến tranh, ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 19 trở vào nhằm tạo điều kiện cho việc thương thuyết sớm khai diễn. Ông cho biết sẽ triệu hồi Đại sứ HK tại Moscow là Llewellyn Thompson phối hợp với Averell Harriman đại diện cho HK gặp gỡ chính phủ Hà Nội ở Genève hoặc bất cứ nơi nào thuận lợi cho việc thương thảo giải quyết vấn đề chiến tranh VN. Johnson kêu gọi Hà Nội tích cực đáp ứng bước tiến ḥa b́nh này. Ông tuyên bố sẽ không tái ứng cử nhiệm kỳ 2. Ba ngày sau chính phủ VNDCCH ra tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với đại diện của Mỹ. Những lănh tụ CSVN luôn tự hào “Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là một chiến thắng to lớn buộc Hoa Kỳ phải xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán” (4). Như vậy, Hà Nội đến bàn thương thuyết như là kẻ chiến thắng, chớ không phải “dưới sự đe dọa của bom đạn Mỹ”. Ngày 10-4-1968, Bộ Chính trị đảng Lao động Việt Nam ra tuyên bố: “Khi Mỹ mời ta đàm phán, ta có một lợi điểm lớn: Mỹ đă bắt buộc phải đàm phán riêng với ta để giải quyết những vấn đề liên hệ giữa hai bên. Vấn đề liên hệ giữa hai bên th́ chỉ có vấn đề Mỹ ném bom và phá hoại nước VNDCCH là một hành động bất hợp pháp. Lập trường của ta là bắt buộc Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện và vĩnh viễn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc dưới mọi h́nh thức. Khi vấn đề này được giải quyết theo chiều hướng ấy, ta và Mỹ có thể bàn tới một hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề miền Nam VN, trong đó có sự tham dự của Mặt trận Giải phóng và nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tham dự với tính cách một quốc gia đứng ngoài mọi sự liên hệ với Miền Nam trong cuộc chiến tại đây”. (5) 2. Đến những vấn đề nan giải tại bàn hội nghị: Cuộc đàm phán bắt đầu ngày 13/5/1968 tại Paris giữa Harriman và Xuân Thủy, sau đó có thêm Lê Đức Thọ (LĐT). Mục tiêu của HK là vận động Hà Nội chấp nhận đề nghị: BV và HK thảo luận về quân sự để có ngưng bắn, trao trả tù binh và rút quân; chính phủ Sàig̣n và MTGP thảo luận về tương lai chính trị miền Nam. Trong khi Hà Nội đ̣i Mỹ chấm dứt vô điều kiện việc ném bom và phá hoại MB, c̣n chiến tranh ở MN là giữa Mỹ và MTGP nên Mỹ phải nói chuyện với MTGP. Đến giữa tháng 10/1968, BV đưa ra điều kiện: nếu HK muốn có hội nghị bốn bên th́ phải ngưng ném bom, chấm dứt mọi hành động phá hoại miền Bắc. Giờ đây đến lượt TT Thiệu phản đối, ông chỉ muốn nói chuyện thẳng với Hà Nội, MTGP chỉ được tham dự ḥa hội như một phần của phái đoàn BV. Để giúp ứng cử viên dân chủ là Phó Tổng thống Humphrey đắc cử, kế hoạch ḥa b́nh cho VN phải được tiến hành trước ngày bầu cử 5/11/1968, v́ thế vào ngày 31/10, ông tuyên bố “Hoa Kỳ đă bước vào giai đoạn đàm phán thực sự”. Ông ra lệnh ngưng hoàn toàn các chiến dịch dội bom và mở rộng thảo luận ở Paris, gồm đại diện chính phủ Sàig̣n và đại diện của MTGP, tuy nhiên sự tham dự của MTGP không có nghĩa là HK đă công nhận họ. Ngày hôm sau, ông Thiệu tuyên bố VN sẽ không gởi phái đoàn sang Paris tham dự đàm phán. Đại sứ VNCH tại HK - ông Bùi Diễm nhận xét: “Đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến, chánh phủ của hai đồng minh đă công khai tuyên bố rằng họ không cùng quan điểm”. Ông cho biết, lúc bấy giờ số liệu thống kê cho thấy Phó TT Humphrey được ủng hộ đông đảo sau khi TT Johnson tuyên bố ngưng dội bom, nhưng lại mất sự ủng hộ sau khi ông Thiệu tuyên bố VN không hưởng ứng cuộc đàm phán. Những việc này gây xôn xao tại Mỹ, kư giả kỳ cựu của tờ Christian Science Monitor là Saville Davis báo cho ông Bùi Diễm biết nội dung một điện tín dài của kư giả tờ CSM ở Sàig̣n là Berverly Deepe vừa gởi sang cho rằng: Đại sứ Bùi Diễm đă gởi điện cho TT Thiệu khuyên ông không nên gửi phái đoàn đàm phán sang Ba Lê. Phóng viên Beverly c̣n chú thích thêm rằng dư luận đang ồn ào trong giới báo chí về việc ứng cử viên Nixon và VN đă cùng nhau thỏa thuận một kế hoạch cho cuộc chiến VN. Nội dung kế hoạch này là VN sẽ tŕ hoăn các cuộc đàm phán ở Ba Lê nhằm làm giảm uy tín của ông Humphrey và dồn số phiếu bầu cử về phía ứng cử viên của đảng Cộng ḥa. Để đổi lại ân huệ này, khi đắc cử tổng thống, Nixon sẽ ủng hộ VN mạnh hơn các đảng viên dân chủ khi trước. Ông Bùi Diễm c̣n tiết lộ mấy ngày trước, khi ông đến bộ Ngoại giao Mỹ, Bundy (Thứ trưởng) không mời ông ngồi, thái độ “cộc lốc và lạnh lùng”, xoay lưng về phía ông như thể không muốn đối diện, gằn giọng mà ông nghe rơ một vài chữ như “thiếu đứng đắn” và “không thể chấp nhận được”. Kết quả cuộc bầu cử, Nixon thắng cử với số phiếu trội hơn Humphrey chưa tới 1%. Sau này, William Safire, nguời soạn thảo diễn văn cho Nixon trong giai đoạn bầu cử đă viết trong quyển Before the Fall rằng: “Nếu không có ông Thiệu th́ có lẽ ứng cử viên Nixon khó thể thắng cử”. Ngay sau khi có kết quả bầu cử, ngày 9/11/1968, Thượng nghị sĩ Everett Dirken bất thần ghé vào ṭa Đại sứ, gặp ông Diễm nói rằng: “Tôi đến đây nhân danh cả hai vị tổng thống, TT Johnson và TT Nixon” với lời nhắn tin thật là ngắn ngủi: “Việt Nam phải gửi ngay phái đoàn đại biểu đến Ba Lê trước khi việc đó trở nên quá trễ”. Vài phút sau đó, kư giả và là b́nh luận gia nổi tiếng HK là Joseph Alsop gọi điện tới, hẹn muốn gặp gấp, vừa tới nơi, Alsop đă nói với ông Diễm: “Ông bạn ơi, tổng thống của ông bạn đang chơi một tṛ nguy hiểm. Tôi mới gặp Ông già hôm qua. Ông già đang điên cuồng v́ giận”. Ông già đó là TT Johnson (6) . Qua những t́nh tiết trên, tôi muốn lưu ư các bạn đọc thấy từ khởi đầu đàm phán chấm dứt chiến tranh, đă có sự bất đồng lớn giữa lănh đạo HK và VNCH. Không phải chỉ bất đồng, mà c̣n là việc “ân oán giang hồ” trong giới chính trị chóp bu. Đảng Dân chủ lên án ông Thiệu đă phá hoại kế hoạch ḥa b́nh của TT Johnson nên Humphrey thất cử. Từ đó, họ chờ ngày phục hận. Hơn bốn năm sau, ông Thiệu lại phá hoại kế hoạch ḥa b́nh của Nixon, đảng Dân chủ nắm quyền chủ động ở Thượng viện liền t́m cách tước bớt quyền hạn TT Nixon, giảm dần viện trợ cho VNCH và cuối cùng họ dựa vào sự sai trái của Nixon trong vụ Watergate để áp lực ông phải từ chức. Dưới áp lực của HK, ông Thiệu phải cử phái đoàn đến Paris. Nhưng v́ h́nh thức cái bàn ngồi họp, tranh căi đúng 10 tuần. Từ 18/Giêng 1969, hội nghị bốn bên mới bắt đầu đi vào thuẩn luận. Như đă tŕnh bày trong bài trước, đây chỉ là những màn kịch bên ngoài, việc thảo luận chấm dứt chiến tranh diễn ra trong các cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Hà Nội luôn cho rằng họ không có quân ở miền Nam, nhưng tài liệu tịch thu được ngoài chiến trường cũng như lời tù binh khai, cho thấy có nhiều đơn vị chính qui miền Bắc đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Do đó Kissinger luôn đưa ra đề nghị song phương rút quân, coi đó là giải pháp trong tiến tŕnh chấm dứt chiến tranh. HK cho rằng chính v́ MB xâm lược MNVN bắt buộc họ phải thực hiện lời cam kết đưa quân đến can thiệp để bảo vệ VNCH. Ngày 14/5/1969, nói chuyện với dân chúng Mỹ qua hệ thống truyền h́nh, TT Nixon đưa ra giải pháp chấm dứt chiến tranh bằng đề nghị quân Mỹ và Bắc Việt cùng triệt thoái khỏi MNVN trong một năm sau khi hiệp định ḥa b́nh được kư kết. Một cơ cấu quốc tế được thành lập để kiểm soát việc rút quân và giám sát cuộc tuyển cử tự do ở MN (7). BV bác bỏ đề nghị này. Sau đó, từ 8/7/1969, HK từng bước rút quân khỏi NVN, song Kissinger vẫn đ̣i LĐT phải rút quân của ông trở về Bắc, nhưng Thọ cương quyết bác bỏ với lập luận là không có quân BV ở MN. Có nhiều lần, Kissinger trưng ra những bằng cứ cụ thể qua tài liệu tịch thu được như: h́nh ảnh, giấy chứng minh, huân chương… và cung từ tù binh, rồi hỏi LĐT: “đơn vị này là bộ đội chính qui miền Bắc hay quân GPMN?”. Thọ trả lời: “Tôi không biết đó là quân miền Bắc hay miền Nam. Nơi nào thuộc đất nước VN th́ có quân đội VN”. Khi Kissinger đưa ra đề nghị: “quân BV và quân HK đồng rút khỏi miền Nam VN”, Thọ trả lời: “Quân Mỹ th́ rút về Mỹ, c̣n quân đội VN đóng quân ở VN, th́ rút đi đâu bây giờ?” (8) Dự thảo HĐ Paris ra đời: Đến tháng Chín 1972, Hà Nội vẫn không chịu nhượng bộ về việc rút quân của họ khỏi miền Nam VN. Nixon cho rằng: “HK không có cách nào bắt buộc Bắc Việt phải nhượng bộ điểm này”. Theo ông “dù VNCH có xoay ngược được thế cờ, tái chiếm Quảng Trị và cố thủ B́nh Long nhưng Bắc Việt vẫn c̣n chiếm đóng nhiều khu vực rộng lớn ở miền Nam dọc theo khu phi quân sự và trên vùng cao nguyên. Nếu đi đến ḥa giải lại đ̣i BV phải cho không những lănh thổ mà VNCH không thể giành lại được, th́ BV sẽ chọn con đường thà đừng đi tới ḥa giải c̣n hơn. Nếu cứ khăng khăng đ̣i BV phải rút ra khỏi MNVN th́ ắt đă không có được hiệp định ḥa b́nh”. Không đ̣i hỏi được BV phải rút quân, HK chỉ đ̣i Hà Nội hứa sẽ không đưa thêm quân vào MN nữa. Ông hy vọng nếu BV giữ lời hứa, các lực lượng của họ ở MN sẽ phải rút ra nếu không th́ tan rả. Đ̣i hỏi của HK được Hà Nội đồng ư, hai bên mới chấp thuận một dự thảo hiệp định kết thúc chiến tranh. (9) Đ̣i hỏi trên là nội dung Điều 7 trong dự thảo hiệp định. Nguyên văn như sau: “Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập chính phủ quy định trong điều 9 (b) và 9 (i) của hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận việc đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh”. Nội dung điều 9 (b) là “nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế”. Và điều 9 (i): “MNVN thực hiện chính sách đối ngoại ḥa b́nh, độc lập, tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Geneve năm 1954 về VN quy định việc không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự trên đất ḿnh. MNVN sẽ duy tŕ quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xă hội, nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho MNVN sẽ thuộc quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở MNVN”. (* Ghi chú: tiểu mục (i) của Điều 9 trên, sau này được tu chính trở thành Điều 14 của HĐ Paris 1973) Ngày 18/10, Kissinger mang bản dự thảo HĐ sang tham khảo với chính phủ Sàig̣n cùng lá thư đề ngày 16/10 của TT Nixon gởi TT Thiệu với những nội dung chính như sau: “Kính thưa Tổng thống, Tôi đă yêu cầu Tiến sĩ Kissinger chuyển đến Ngài lá thư riêng này liên quan đến những cuộc đàm phán hiện thời với Bắc Việt, dường như đă tới giai đoạn chót. Như Ngài biết, suốt bốn năm dưới quyền tôi, Hoa Kỳ đă đứng vững đằng sau chính phủ Ngài cùng nhân dân VNCH và ủng hộ sự đấu tranh dũng cảm của họ nhằm chống xâm lăng và bảo tồn quyền tự quyết về tương lai chính trị của ḿnh…Tại bàn thương thuyết chúng tôi đă luôn bám chặt lấy nguyên tắc là không bao giờ thương thuyết với BV một giải pháp nào có thể định đoạt trước tương lai chính trị của MN. Chúng tôi trước sau vẫn tôn trọng lập trường là duy tŕ chính phủ dân cử và bảo đảm cho nhân dân tự do Việt Nam có cơ hội quyết định tương lai của ḿnh. Cho đến giờ đây, phe thương thuyết BV vẫn c̣n bám chặt lấy lập trường cố hữu của họ là bất cứ cuộc dàn xếp nào về chiến tranh cũng sẽ phải bao gồm sự từ chức của Ngài và sự giải tán của chính phủ VNCH cùng những định chế dân chủ liên hệ. Tuy nhiên lúc này dường như chính v́ sự kết hợp của ḷng kiên tŕ, sự dũng cảm của chính phủ Ngài cũng như các lực lượng chiến đấu của VNCH, cùng với những biện pháp mạnh mà HK đă áp dụng ngày 8/5/1972, thêm vào với kiên tâm của riêng chúng tôi tại bàn hội nghị, nên nó đă đưa đến một chuyển hướng sâu xa căn bản tại Hà Nội. Qua những cuộc gặp gỡ mới đây giữa tiến sĩ Kissinger và phái đoàn BV tại Paris, mỗi ngày người ta càng thấy rơ là cấp lănh đạo tại Hà Nội đă sẵn sàng chấp nhận ngưng bắn trước khi đ̣i giải quyết vấn đề chính trị tại MNVN. Đây quả là sự đảo ngược quan trọng trong chủ trương của họ, một quyết định mà ta không nên coi nhẹ. V́ họ biết được nhược điểm của các lực lượng chính trị của họ tại MN, cho nên đối với họ, mục tiêu chính trị của họ tất phải mang nhiều rủi ro lớn… Riêng đối với tôi, th́ điều khoản quan trọng nhất của hiệp định, ngoài những khía cạnh quân sự của nó, là chính phủ Ngài cùng quân lực và những định chế chính trị của VNCH sẽ c̣n nguyên vẹn sau khi cuộc ngưng bắn đă được tôn trọng. Trong thời kỳ tiếp theo sau đ́nh chiến, Ngài có thể được hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ Ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất kỳ viện trợ quân sự nào phù hợp với những điều khoản đ́nh chiến của hiệp định này. Tôi công nhận sau bao nhiêu năm chiến tranh, một cuộc ḥa giải sẽ mang đến cho sự nghiệp lănh đạo của Ngài, và nhân dân Ngài một thử thách vô cùng lớn lao. Tất cả chúng ta đều công nhận rằng cuộc xung đột giờ đây sẽ chuyển đến một h́nh thức khác, một h́nh thức đấu tranh chính trị, trái với tranh chấp quân sự công khai; nhưng tôi tin chắc rằng với sự khôn ngoan và kiên tŕ, chính phủ Ngài cũng như nhân dân NVN sẽ đáp ứng được thử thách mới đó. Trong nổ lực này, Ngài sẽ có đưọc sự ủng hộ tuyệt đối của tôi, và tôi xin Ngài biết rằng tôi tin tưởng trong giai đoạn mới này, sự lănh đạo liên tục mà Ngài dành cho vận mạng MNVN thật vô cùng cần thiết. Sau hết tôi phải nói rằng, nếu như ta đă có thể mạo hiểm trong chiến tranh, th́ tôi tin là ta cũng phải mạo hiểm trong ḥa b́nh. Ư định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những điều khoản trong các hiệp định và thỏa thuận kư kết với Hà Nội và tôi biết rằng đó cũng là thái độ của chính phủ Ngài. Chúng tôi đ̣i phải có qua có lại và đă cảnh giác cho cả họ lẫn đồng minh của họ biết rơ như thế. Tôi xin cam kết với Ngài rằng bất cứ một sự bội tín nào về phía họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có những hậu quả trầm trọng nhất”. Được TT Thiệu chỉ định nghiên cứu bản dự thảo hiệp định, Hoàng Đức Nhă “để ư là không có khoản nào nói đến việc rút quân BV”. TT Thiệu hỏi Kissinger “Quân đội BV sẽ ra sao một khi hiệp Paris đă được kư kết?” Kissinger đáp “sẽ không có sự thâm nhập thêm nữa của quân đội từ miền Bắc, và quân lực VNCH, với quân số 1 triệu 100 ngàn người, sẽ chẳng việc ǵ mà phải sợ sự hiện diện của 140 ngàn quân BV”. Được hỏi tại sao lại không có đoạn nào nói rơ về sự rút quân BV, Kissinger giải thích: “Ờ, th́ như quí ông biết, chúng tôi đă thảo luận điều đó với BV và họ không chấp nhận cho nên chúng tôi nghĩ là không nên để nó vào (bản văn), để khỏi làm hỏng bầu không khí”. (10) Thật sự, trong bản dự thảo hiệp định, người ta không t́m thấy một điều khoản nào hoặc một ḍng chữ nào đến cập đến quân BV ở lại miền Nam. Như vậy, quân Bắc Việt ở lại miền Nam mặc nhiên được coi là của MTGP-một thành phần của “lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam VN”. Và Điều 9 (h) đă qui định: “Vấn đề lực lượng vũ trang VN ở MNVN sẽ do hai bên MNVN giải quyết trên tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, b́nh đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với t́nh h́nh sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên MNVN thảo luận có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đă giảm”. (*Ghi chú: Điều khoản này về sau trở thành Điều 13 trong bản hiệp định chính thức, có thêm đoạn văn sau: “Hai bên MNVN sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt”) TT Thiệu không để ư đến những thuận lợi mà hiệp định đă mang đến cho ông: “VNCH c̣n nguyên bộ máy chính quyền, quân đội, cảnh sát và những định chế chính trị” để bước vào giai đoạn mới, đấu tranh chính trị với CS trong cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do. Ông chỉ t́m những điểm mà TT Nixon không thể áp lực được BV (phải rút quân ra khỏi miền Nam) khiến Kissinger lưu ư ông: “Ngài chỉ có một vấn đề, tổng thống Nixon có nhiều vấn đề khác”. Ông không thấy được vấn đề phức tạp khó khăn này: BV không nhượng bộ là nhằm kéo dài chiến tranh, thậm chí họ c̣n đe dọa: ngưng đàm phán. Đó là con đường giúp họ chiến thắng, v́ sau 8 năm can dự vào chiến tranh VN, nhân dân Mỹ không c̣n nhẫn nại được nữa, họ đồng t́nh với các phong trào phản chiến: chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá, miễn là mang được tù binh Mỹ về nước. TT Nixon phải giải quyết xong chiến tranh VN trong thời điểm cuối tháng 10/1972 này, v́ đầu tháng 11 sẽ có một cuộc bầu cử tại Mỹ. Nội dung Điều 7 và Điều 9 (h) trên đây, có thể giúp TT Thiệu hóa giải được sự lo âu về quân BV ở MN. Ông cho rằng đội quân này là mối đe dọa cho VNCH chỉ v́ ông chủ trương tiếp tục con đường chiến tranh. Phải chi ông theo đúng qui luật phát triển, “đấu tranh chính trị” với CS, ông đề nghị Lực lượng vũ trang GPMN cùng thực hiện việc giảm quân và “phục viên số quân đă giảm”. Chính phủ VNCH với viện trợ kinh tế của HK, như Nixon đă hứa, với số tiền hàn gắn vết thương gần 5 tỉ đôla, giúp bộ đội phục viên, đa số là cán binh miền Bắc đang trú đóng ở cao nguyên Trung phần và các vùng dọc biên giới, được khai thác và sở hữu các vùng đất đai trù phú bạt ngàn này. Tương tự như Sắc luật “Người Cày Có Ruộng” đă cho phép những người đang trực canh (phần lớn là thân nhân của du kích và bộ đội MTGP tức những gia đ́nh “cách mạng”) làm sở hữu ruộng đất ở đồng bằng. Năm 1954, đồng bào di cư miền Bắc đă biến nhiều nơi ở miền Nam trở thành trù phú như Phương Lâm Bảo Lộc, Đồng Tháp, Cái Sắn, Hố Nai Gia Kiệm kể cả khu Ngả ba ông Tạ ở Sàig̣n. Nay sẽ đến lượt những người thay v́ “sinh Bắc tử Nam” được VNCH giúp họ t́m ra sinh lộ: sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất mới dồi dào tài nguyên. Vùng “đất hứa” này chắc chắn phải “vạn lần hơn” xă hội chủ nghĩa mà họ đă trải qua. Đó mới xiễn dương được chế độ tự do và đời sống sung túc ở Miền Nam, và tiếp tục “chiêu hồi” những người CS trong thời b́nh. Có thể nói ông Thiệu đă sai lầm. T́nh thế năm 1972, cả quốc nội lẫn quốc tế đều cho thấy: con đường duy nhất để VNCH sống c̣n là con đường ḥa b́nh. Các đồng minh của HK ở châu Á, từ giữa năm 1967 khi thấy HK chuyển hướng chấm dứt chiến tranh VN, họ liền thành lập “Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” (ASEAN). Đầu năm 1971, họ ủy quyền cho Nhật, Mă Lai và Nam Dương nghiên cứu giải pháp chấm dứt chiến tranh VN, ngăn chận không cho cuộc chiến lan rộng qua các nước khác và t́m những phương thức thích đáng để các cường quốc giảm bớt xung đột ở khu vực xung yếu này. Kết quả tháng 11/1971, năm nước ASEAN ra tuyên bố: “cùng nhau hành động để biến vùng này thành một khu vực ḥa b́nh, tự do và trung lập”. Ông Thiệu từng nói với Kissinger, ông phải tranh đấu v́ hiệp định Paris là “vấn đề sinh tử cho nước tôi”…Nhưng ông chỉ thấy cái “tử”, chớ không t́m cái “sinh”. Bản dự thảo hiệp định mà Kissinger mang sang Sàig̣n là để tham khảo, cuối cùng HK đă thay đổi, thoả măn gần hết những đ̣i hỏi của ông, song ông vẫn khăng khăng đ̣i quân BV phải rút, khiến kế hoạch ḥa b́nh của Nixon bất thành, Miền Nam tự do phải tiêu vong. Ngoài việc đ̣i BV phải rút quân, giới lănh đạo c̣n cho rằng HĐ Paris 1973 đă rập khuôn lập trường 10 điểm của CS ngày 9/5/1969. Vây lập luận đó có đúng không? HĐ Paris 1973 có y chang lập trường 10 điểm của CS hay không? HĐ gồm có 9 chương với 23 điều khoản. Chương I (Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam), Chương II (Chấm dứt chiến sự và rút quân), Chương III (Việc trao trả tù binh), Chương IV (Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MNVN), Chương V (Vấn đề thống nhất VN và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam VN), Chương VI (Ban liên hợp quân sự, Ủy ban Giám sát quốc tế và hội nghị quốc tế), Chương VII (Đối với KPC và Lào), Chương VIII (Quan hệ giữa VNDCCH và HK) và Chương IX (Điều khoản chung). Mỗi chương chỉ có 1 hoặc 2 điều, tối đa là 4 điều của Chương VI, nhưng Chương II và IV, mỗi chương có 6 điều khoản. Trong Chương II, ngoài điều 2 nói về việc chấm dứt chiến sự, ngừng bắn, 5 điều c̣n lại nói về việc rút quân (Mỹ) để đối lại 6 điều của Chương IV đề cập đến “Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”. Năm 1987, trong quyển Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đă viết: “Đối với những người Việt MN, bốn năm trời chiến đấu từ 1969 đến 1973 chẳng được đền bù ǵ cả, nếu căn cứ vào kết quả cuối cùng của cuộc thương thuyết này. Bản HĐ Paris trên căn bản, đă khôn khéo chứa đựng những điều khoản giống hệt bản đề nghị của BV từ tháng 5/1969”. Trong một trang khác, ông viết “Trong thời gian gần 4 năm mà Kissinger điều đ́nh để có được ḥa giải, máu đă tiếp tục đổ nhiều hơn: thêm 15 ngàn người Mỹ bị thiệt mạng và 100 ngàn người bị thương, trong lúc hàng trăm ngàn sinh mạng VN đă bị hy sinh. Rồi cuối cùng ông ta đạt được một bản hiệp định mà trong thực chất nó giống y hệt bản hiệp định mà CS đă đưa ra gần 4 năm trước đó, hồi tháng 5, 1969”. (Tr 270 & 602) TS Hưng c̣n cẩn thận kèm theo phụ bản B “So sánh 10 điểm của CS ngày 9-5-1969 và một số điều khoản của HĐ Paris kư ngày 27/1/1973” (Tr. 733-749). T́m đọc quyển Bốn mươi lăm năm hoạt động của Đảng Lao động Việt Nam (tức ĐCSVN hiện nay) của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, do Nhà xuất bản Sự thật Hànội phát hành năm 1975 (Bản in lần thứ ba) tức phổ biến trước quyển HSM/DĐL 12 năm, ở trang 144/145 có ghi “Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận DTGPMN”. Qua đối chiếu, tôi thấy chỉ có một điểm đúng với nhận định của TS Hưng mà thôi. Đó là nội dung điểm 1 của CS và điều 1 của HĐ Paris 1973, nhưng nó chỉ giống hệt một nửa mà thôi. TS Hưng phải bổ túc vào bản văn của CS một đoạn nữa, nó mới thật sự giống y hệt. Đoạn văn đó là “như Hiệp định Giơ-Ne-Vơ năm một ngh́n chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đă công nhận”. Tôi biết rơ rằng: chỉ một điểm này mà Kissinger và Lê Đức Thọ đă tranh căi bốn tháng tại mật đàm Paris. Ông Thọ cương quyết đ̣i ghi điểm 1 của họ, nguyên văn “Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ” vào ngay Điều 1 Chương I của HĐ Paris… Nhưng Kissinger không đồng ư, ông đ̣i phải ghi điểm này vào phần cuối, v́ lẽ hiệp định Paris là để giải quyết vấn đề miền Nam VN, trong đó có vấn đề thống nhất Bắc Nam đưọc ghi ở các chương sau. Cuối cùng v́ c̣n nhiều vấn đề khác quan trọng hơn, nên Kissinger nhượng bộ, nhưng ông ta đ̣i phải ghi rơ thêm “như hiệp định Giơ-Ne-Vơ năm một ngàn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đă công nhận”. Kissinger c̣n đ̣i và đă được ghi vào phần mở đầu “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại ḥa b́nh ở Việt Nam” điểm này (của Hà Nội) cùng với điểm nói về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN (của HK). Chi tiết trên do chính ông Lê đức Thọ tiết lộ với Bộ đội Pḥng không-Không quân BV tháng 3/1973 (Tài liệu CS, lưu trữ tại TTKTTL). Hà Nội coi nội dung điều 1/Chương I của HĐ là đ̣i hỏi chánh đáng của họ, mà HK đă phải thừa nhận để họ thống nhất đất nước. Và Kissinger đă phản bác như trên… Nhưng hơn một thập niên sau, để minh chứng cho lập luận của ḿnh, TS Hưng cho rằng nội dung Chương I và điều 1 của HĐ Paris là của CS. Có nhiều cách để hạ uy tín Kissinger, sao lại dùng cách vừa g̣ ép vừa thiếu sự chân thật. Cũng tương tự, nội dung điều 11 của HĐ Paris đă ghi rơ: “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh”. Nó gần như lập lại toàn bộ các điều 8 đến 20 trong Hiến pháp VNCH năm 1967, chớ không thể tương tự nội dung điểm 5 của CS như sau: “Thực thi tinh thần tự do dân chủ rộng lớn: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do thành lập và tổ chức đoàn thể và đảng phái chính trị, tự do biểu t́nh v.v”. Điều đáng nói là trong Phụ bản B, TS Hưng đă bỏ bớt quyền tự do báo chí và tự do hội họp trong nội dung điều 11 của HĐ Paris, chỉ c̣n 10 quyền tự do song cũng không thể giống hệt điểm 5 của CS chỉ có 6 quyền tự do. (Để t́m hiểu, xin quư độc giả xem quyển Từ Điển Luật Pháp Anh Việt- Việt Anh của Luật sư Lê đ́nh Hồ có phụ lục 3 Hiến pháp VNCH 1967 (Tr.1978-1818) và Phụ lục 6 Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại ḥa b́nh ở Việt Nam (Tr.1863-1874) Ngoài ra, xin dẫn chứng một số điểm khác, cho thấy nhận định của TS Nguyễn tiến Hưng không hoàn toàn đúng. Hai điểm mà TT Thiệu sợ nhất: một thể chế trung lập và một chính phủ liên hiệp sẽ thành h́nh ở MNVN sau khi hiệp định ra đời, v́ trong suốt cuộc đàm phán, LĐT luôn đ̣i phải thành lập một Chính phủ liên hiệp lâm thời ở MNVN. Vậy thử t́m xem trong HĐ Paris 1973 có điều nào nói đến trung lập, như nội dung điểm 5 và 6 trong lập trường 10 điểm của CS ? Cũng thử t́m xem trong HĐ Paris có điều nào nói đến một chính phủ liên hiệp, như nội dung điểm 5 của CS? Không những thế, thử t́m xem nội dung điểm 3 trong giải pháp toàn bộ 10 điểm của CS: “Quyền của nhân dân Việt-nam chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc ḿnh là quyền tự vệ thiêng liêng bất khả xâm phạm” được ghi ở đâu trong 23 điều của HĐ? Người ta chỉ thấy Điều 9 của HĐ Paris 1973 nguyên văn như sau: “Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt-nam Dân chủ Cộng ḥa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị miền Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế. c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam”. Hai phần in đậm chữ nghiêng trên, cho thấy nội dung hai bản văn không thể nào giống y hệt nhau, trái lại có nhiều phần c̣n đối nghịch nhau. Đó lại là phần cốt lơi, tối quan trọng của HĐ Paris 1973. Hà Nội đă dựa vào điểm 3 trong lập trường 10 điểm của MTGPMN để biện minh cho cuộc chiến giải phóng MN. Điểm này đă bị bác bỏ, tức sự can dự của bộ đội miền Bắc vào miền Nam không được chấp nhận, nên họ phải chối là không có quân BV ở MN. Trái lại nội dung điều 9 của HĐ Paris 1973 đă chứng minh sự can thiệp của HK vào MNVN là chính nghĩa. HK đă can dự, nhằm tạo cơ hội giúp người dân MNVN hành sử quyền thiêng liêng bất xâm phạm của họ, là quyền tự quyết định tương lai chính trị của MNVN. Không những HK, mà Chính phủ VNDCCH cũng phải cam kết tôn trọng quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân NVN. Đó cũng là cơ sở, vừa để chấm dứt chiến tranh như phần mở đầu của HĐ đă nêu rơ, vừa là nền tảng giúp nhân dân NVN xây dựng thể chế dân chủ tự do. Sau đó sẽ hiệp thương với MB để thống nhất đất nước. Đọc quyển HSM/DĐL tôi cứ ưu tư, thắc mắc. Sách đề cập nhiều đến HĐ Paris 1973, và qua dẫn chứng trên cho thấy Dinh Độc Lập không hiểu rơ HĐ Paris 1973. Vậy phải chăng, đó là cái bí mật của Dinh Độc lập, được GS bật mí? Chớ nội dung mấy chục lá thư của tổng thống HK gởi TT Thiệu không có ǵ bí mật cả. Nhờ TS Hưng, tôi có được toàn bộ những lá thư đó. Đó là những lời khuyến cáo, thuyết phục, hứa hẹn riêng tư của ông Nixon với ông Thiệu, chỉ v́ quyền lợi hỗ tương của hai cá nhân đó mà thôi. Không có ǵ gọi là dấu diếm, phản bội ai cả. Trong một dịp khác, chúng tôi sẽ nói rơ nội dung từng bức thư một, nó được TT Nixon gởi cho TT Thiệu trong bối cảnh lịch sử, để độc giả có thể biết được lịch sử cuộc chiến trong giai đoạn 1972-1975. Dù nhận định sai HĐ Paris 1973, nhưng không ai trách TS Nguyễn Tiến Hưng, v́ đó không phải là lănh vực chuyên môn của một TS Kinh tế. Chỉ trách người đă cung cấp cho ông những sự kiện sai lạc. Không phải một mà c̣n nhiều chỗ sai nữa, rơ ràng là cố ư, chẳng hạn như sự kiện xảy ra ngày 25/10/1972, cố t́nh đổi lại thành ngày 17/10/1972 để có cơ sở lên án Kissinger là kẻ gian trá, thiếu thành thật. Không ai có thể thay đổi lịch sử được, lịch sử rất trung thực. Không chứng minh được Kissinger gian trá, thiếu thành thật… Nhưng người ta lại thấy TT Thiệu là kẻ nói dối và người viết là một trí thức nhưng thiếu tính trung thực. Tháng 10/1968, ông Thiệu đă làm hỏng kế hoạch ḥa b́nh của TT Johnson, giúp Nixon thắng cử, song lại chuốc lấy cái “oán” của đảng Dân chủ Mỹ. Chính quyền Nixon đă trả ân cho ông, với một HĐ Paris 1973. Đúng bốn năm sau, ông lại tạo cái “oán” với những người đă giúp ông. Tuần tới, chúng tôi sẽ tŕnh bày những tranh căi gay gắt giữa Kissinger với TT Thiệu và cách hành xử “bất lịch sự” của Hoàng Đức Nhă đối với phái đoàn ngoại giao và tướng lănh Mỹ do cố vấn An ninh quốc gia TT Hoa Kỳ hướng dẫn sang Sài g̣n tham khảo với chính quyền VNCH về bản dự thảo Hiệp định Paris.
Chú thích: 1- Public Papers of the Presidents – Lyndon B. Johnson 1965, Government Printing Office, Wahington, DC, 1966, PP. 394/399. 2- Phạm Văn Đồng, Thắng lợi vĩ đại, Tương lai huy hoàng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, Tr 170/172. 3- Lyndon B. Johnson, The Vantage Point: Perspectives of the Presidency, Redwood Press Ltd, London, 1972, PP.592/595. 4- Phạm Văn Đồng, V́ sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, Tr. 9. 5- Quang Huy, Chiến lược toàn cầu của Cộng sản và cuộc chiến tranh Việt Nam, Báo Chuông Sàig̣n, Úc Châu, 18/12/1987. 6- Bùi Diễm, Gọng kèm lịch sử, Chương 28: Vụ Anna Chennault. 7- Richard M. Nixon, Memoirs, Sidgwick & Jackson, London, P. 391. 8- Bài nói chuyện của LĐT Lê đức Thọ với Bộ đội Pḥng không-Không quân BV tháng 3/1973 (Tài liệu CS, lưu trữ tại Trung tâm Khai thác Tài liệu/Bộ TTM/QLVNCH 9- Richard M. Nixon, No More Vietnam, Arbor House, NY, 1985, PP. 152-53. Nguyễn tiến Hưng và J.L Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, Nxb C & Promotions, Los Angeles, 1987, Tr. 149-156.
|