|
Con Nai Tơ & Tôi (Thành kính tặng nữ văn hào M.K.Rawlings, USA và Nhà văn Trương Bảo Sơn, Montreal, Canada)
Mùa hè 2007, trong lúc tôi sửa soạn hành trang, dự tính làm một chuyến Mỹ du mới, th́ nhận được cú phone từ Norway của cô Trương Kim Anh, cho biết Ông Cụ (nhà văn Trương Bảo Sơn, 93 tuổi) vừa bị té nặng, đang điều trị trong bệnh viện ở Montreal, Canada và như thế, cô phải tức tốc qua Canada để chăm sóc cha già. Sợ người cha thân yêu có mệnh hệ nào chăng, cô có ư định đánh máy và cho in lại cuốn “Con Nai Tơ”, một dịch phẩm xuất sắc của Ông Cụ, từ nửa thế kỷ trước đây, dịch từ tác phẩm "The Yearling" của nữ văn hào Mỹ Marjorie Kinnan Rawlings. Lư do: ấn phẩm này h́nh như hiện nay đă tuyệt bản, không c̣n t́m thấy ở bất cứ nơi đâu nữa và riêng Kim Anh, cô muốn dâng tặng Bố một món quà văn nghệ trước ngày Ông Cụ thanh thản đi về cơi vĩnh hằng. Thấy đây là một cơ may được đọc lại một tác phẩm mà ḿnh đă từng say mê, yêu thích, đúng nửa thế kỷ trước, 1957, thuở tôi c̣n là một cậu học tṛ nhỏ ở những năm đầu bậc Trung học, tôi vui vẻ nhận lời đánh máy cuốn truyện để cô có được nhiều th́ giờ chăm sóc cho Ông Cụ hơn. Từ Canada, Trương Kim Anh gửi Cuốn Con Nai Tơ gần như xơ xác, tả tơi… đến Nashville, Tennesee cho tôi - lúc đó tôi đang rong chơi dông dài trên đất Mỹ. Tôi cảm động đón cuốn sách cũ nát như đón một người bạn thân, cách biệt quá lâu, nay mới có dịp trùng phùng! Sau khi trở lại Úc Châu vào cuối tháng 9/2007, tôi đă cặm cụi ṛng ră hơn một tháng trời mới hoàn tất việc đánh máy và nhiều lần bỏ công rà soát toàn bộ cuốn Con Nai Tơ vừa đánh máy xong, trước khi ghi vào đĩa và gửi qua Na Uy cho Kim Anh. Dĩ nhiên tôi đă làm việc, đă đọc lại và đă đánh máy cuốn Con Nai Tơ trong một niềm cảm xúc dâng trào nóng hổi, với một chân t́nh tràn đầy, nguyên sơ như tự thuở nào. Thật vậy, từ những năm đầu bậc tiểu học, tôi đă làm quen với khá nhiều truyện cổ tích (Tấm Cám, Thạch Sanh - Lư Thông…); truyện thơ vè (Thơ Mụ Đội, Phạm Công Cúc Hoa, Lư Công…); truyện tranh (Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Chiêu Quân cống Hồ, Bạch Viên Tôn Các…). Khi lớn hơn một chút, khoảng 9,10 tuổi, tôi lại đâm ra say mê truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Phong Thần, Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Đường, Bắc Tống, Nhạc Phi diễn nghĩa… Vào những năm đầu ở bậc trung học, tôi lại mê đọc truyện trinh thám (Mai Hương &Lê Phong, Gói thuốc lá, Bên đường Thiên lôi…; Đoan Hùng, Dao bay, Người Nhạn trắng, Người Nhạn trắng tại Hồng biệt thự…). Lớn lên một chút nữa, tôi lại ham mê truyện kiếm hiệp, truyện phiêu lưu (Long h́nh Quái khách, Ba chàng Ngự Lâm Pháo thủ, Vàng và Máu, Rô Bin Sơn phiêu lưu kư…) cũng như tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn… nhưng rồi cuối năm 1957, khi đang ngồi lớp Đệ lục (Lớp 7 bây giờ) tôi may mắn vớ được cuốn “Con Nai Tơ” trong một thư viện nhỏ gần nhà. Ngay từ những trang đầu tiên, tôi đă bị h́nh ảnh các nhân vật Cu Tư, Diều Rơm, ông bà Ba Xu, chú Lư, bà Tó, bà Ngọc Thanh, anh em nhà Phó Lém; những địa danh xa lạ: Hồ Do Dự, sông Xanh Don, thị trấn Vu Lư Hạ, Phú Lư, xứ Canh Tắc Ky, Ca lệ Ninh, thành phố Đắc Sơn Ninh, Bô Sĩ Tốn… và những cảnh sắc thiên nhiên đặc biệt quyến rũ: những cây hoa móc tím, những cây mộc liên, những cây anh đào dại, những cây sồi…; những loài vật lạ lùng như chim táp muỗi, gấu thọt, con phụ thử, con gấu chuột, đàn sói rừng đói khát ào ào tới tấn công trang trại ông Ba Xu như một cơn lốc và rút đi như những vệt khói, những bóng ma; mẹ con đàn beo dữ tợn, gầy trơ xương sau mùa mưa băo, lụt lội, cả bầy ong bay đi t́m mật hoa… và nhất là điệu múa ly kỳ, diễm ảo, thần tiên, đầy huyền hoặc của bầy hạc trắng, bên bờ đầm nước, dưới bóng chiều tà… đă hấp dẫn, lôi cuốn tôi làm mắt tôi không rời những trang sách ra được nữa! Tôi ngấu nghiến đọc, quên ăn, quên ngủ, quên chơi, quên học, quên cả thời gian và không gian… Đi học về, vừa buông cặp sách vở, tôi rút ngay cuốn truyện ra ngồi đọc trước nhà; bố la, th́ lui vào nhà trong; bố mắng, th́ chạy tuốt ra bờ sông đằng sau nhà, ngồi ngay dưới gốc cây phượng vĩ, đọc cho đến tối mịt tối mờ mới chịu vào nhà… t́m lục nồi cơm nguội ăn tối! Tôi mê đọc đến nỗi bố tôi nhiều lần hăm dọa là sẽ tịch thu, sẽ xé nát cuốn truyện hoặc sẽ đến yêu cầu cô quản thủ thư viện tự hậu, không được cho tôi mượn sách nữa! Đây là lần đầu tiên trong đời tôi làm quen với tiểu thuyết, văn học Hoa Kỳ! Và tôi đă bị tác phẩm này cám dỗ, cuốn hút từ trang đầu đến trang cuối: tôi cũng có những giấc mơ giống như Cu Tư, tha thiết muốn có một con vật nào đó của riêng ḿnh. Nhưng là dân phố thị, tôi đâu dám mơ đến những nai tơ, chim ưng, gấu chuột hay phụ thử… tôi chỉ nghĩ đến những con sóc nho nhỏ, những con nhồng, con sáo, con chào mào, thậm chí chim sẻ là cùng… Cũng như Cu Tư, một ngày mùa xuân, đầu tháng tư, bỏ làm cỏ lúa, vắt sữa, bổ củi… đi rong chơi trong rừng, ngắm đàn cá lội trong suối, mê mải làm cối xay chạy bằng ḍng nước… tôi cũng đă từng trốn học, thơ thẩn đạp xe đạp 5, 10 km… rồi một ḿnh lang thang đi lên những ngọn đồi ở Phước Môn, Như Lệ… để t́m hái sim chín, hái trái thông xanh, lượm những trái thông khô, hoặc ngă ḿnh nằm trên những cành si già bên bờ đập Phước Môn, mơ màng nh́n bóng chiều băng lăng, nhuộm vàng đồi núi, rực rỡ cuối trời xa thẳm… Tôi đă bắt gặp Cu Tư như gặp một người bạn tri kỷ đồng trang lứa, chia sẻ cùng nhau những giấc mơ bé nhỏ của tuổi thơ, cũng mơ mộng ham chơi hơn ham việc; cũng muốn khám phá những h́nh bóng mơ hồ, ẩn hiện bí mật của những người lính Y Pha Nho sau rặng mộc liên; cũng từng có những giấc mơ thấy ḿnh bay bổng cánh chim bằng lướt gió, như Diều Rơm: tôi đă có lần dùng chiếc dù của bố tôi, leo lên chạc ba cây phượng vĩ sau nhà, cao cỡ 3 thước, định nhảy xuống! Nếu không bị người đi đường phát hiện và la lên cho bố, mẹ tôi chạy ra ngăn cản, th́ có lẽ biết đâu, tôi đă có một thân h́nh gẫy gập, vặn vẹo… không khác Diều Rơm là mấy! Và, như Cu Tư, tôi cũng thấy cái cối xay làm bằng cành anh đào dại và lá cọ… quay băng băng trên ḍng suối là một điều thần tiên, kỳ diệu khó nói nên lời, mà mỗi khi nh́n thấy nó, ḷng cảm thấy lâng lâng, thảng thích, ngất ngây như say rượu! Tôi thấy tôi không khác ǵ Cu Tư, cũng từng say mưa, say nắng, say mầu sắc, say hương hoa, say đồng cỏ, say rừng rậm, say núi đồi và say cả bầu trời tháng tư ấm áp, vo ve tiếng đàn ong kêu nhau bay đi t́m nụ hoa, tiếng dế gáy vang dưới bụi cỏ, tiếng chim hót, gù nhau trong bụi cây, tiếng suối chảy róc rách, trong trẻo như xa, như gần… Là học tṛ phố thị, tôi không thể nào được như Cu Tư, có nhiều dịp theo Ba và anh em nhà Phó Lém đi phiêu lưu, thám hiểm rừng thông, đồng cỏ, ḍng sông, hồ nước, băi hoang, và đi săn gấu, săn nai, săn báo, săn chồn, săn gà tây, săn cá sấu, săn gấu thọt… nhưng tôi cũng đă từng nhiều phen cùng lũ bạn lang thang suốt ngày tháng hạ, đi bắt dế, bắn chim, câu cá, t́m tổ ong mật… bơi qua sông hái trộm ổi, bẻ trộm bắp, đào trộm khoai lang, dưa hấu… của người ta, không phải v́ tham ăn hay muốn phá làng phá xóm, mà thực sự, chỉ là để chứng tỏ với nhau rằng: chúng ta đây cũng là những tay ch́, những tay gan dạ, những tay anh hùng sông nước… ngang dọc vẫy vùng! T́nh cảm Cu Tư dành cho Nai Tơ, dành cho Thơ Thơ là một thứ t́nh cảm bạn bè bất diệt. Tôi nghĩ, nếu Cu Tư có thêm nhiều anh chị em, chắc Cu Tư sẽ không dành cho Thơ Thơ nhiều t́nh thương yêu thiết tha như thế. Cu Tư lớn lên giữa “Đảo Thông Xanh”, giữa thiên nhiên như con nai, con hoăng, con sóc, con thỏ… Ngoài Diều Rơm và Chú Lư, mà thật rất lâu, thỉnh thoảng Cu Tư mới có dịp gặp gỡ, chuyện tṛ, Cu Tư không c̣n ai là bạn bè nữa! Cu Tư đă dành tất cả tâm hồn nhạy cảm, dịu dàng và cao thượng cho chú Nai Tơ mất mẹ: trong một đêm định mệnh, mẹ nai của chú đă bị giết để cứu sống ba Cu Tư khỏi nọc độc rắn hổ đất, giữa mưa gió băo bùng… Tuy nhiên, tôi cũng đă cùng khóc với Cu Tư khi thấy ông bà Ba Xu t́m cách hủy diệt Nai Tơ, chỉ v́ phải chọn lựa giữa ḷng yêu thương loài vật với thực tế phũ phàng của cuộc sống! Thơ Thơ phải sống đúng với bản năng thú rừng của ḿnh, nó thản nhiên tung ḿnh bay qua hàng rào, vô tư gặm lúa non, ăn mầm cây thuốc lá, chén sạch liễn sữa hay ngốn những chùm nho ngọt, nhai những trái dâu chín mọng, nhá những củ khoai lang thơm tho… như tất cả những ông bà, cha mẹ, anh chị, họ hàng… của Thơ Thơ đă từng làm. Thơ Thơ hoàn toàn không có lỗi lầm ǵ! Nhưng tôi cũng hiểu rằng Cu Tư không c̣n cách chọn lựa nào khác hơn là phải bắn phát súng cuối cùng vào cổ Nai Tơ. Tiếng nổ ấy có lẽ đă xé nát trái tim Cu Tư, làm tuôn chảy những ḍng nước mắt thơ ngây của Cu Tư, nhưng chính tiếng nổ đó báo hiệu một thời điểm trưởng thành, như tiếng sấm đầu báo hiệu mùa Xuân, và rằng sau mấy ngày bỏ nhà đi lang thang, đói rét, chèo một chiếc thuyền rách nát đi trong tuyệt vọng, hướng tới một chân trời viễn mơ, mờ mịt, Cu Tư rồi phải trở về; Cu Tư rồi sẽ trở thành một chàng trai rừng ruộng rắn rỏi, sống can trường, ngay thẳng và nhân hậu như Diều Rơm, như ông bà Ba Xu, như chú Lư, như bác sĩ Sơn, như bà Tó, bà Ngọc Thanh, như Bắc, như Cối… dám chấp nhận, đương đầu và chiến thắng vẻ vang những nghịch cảnh éo le… mà một người đàn ông đúng nghĩa phải chấp nhận: “đành phải chịu với số phận và cứ sống, chứ sao!” Qua tác phẩm, nhiều khi tôi ngồi mơ mộng được kết bạn với Cu Tư, Diều Rơm, Chú Lư… ngay cả với bọn Phó Lém nữa - dĩ nhiên chỉ khi nào họ sống giang hồ mă thượng - được cùng Cu Tư lang thang trong rừng thông, ŕnh xem những người lính Y Pha Nho với những chiếc áo choàng đỏ, cưỡi ngựa ô, thấp thoáng đằng sau mấy cây mộc liên! Hoặc cùng chú Lư phiêu du giữa biển Trung Hoa, biển Địa Trung Hải, giữa các đại dương mênh mông… rồi mang về cho cô bạn gái, cho mẹ, cho Cu Tư những tặng vật nho nhỏ, xinh xắn c̣n thơm mùi biển, mùi nắng, mùi gió; c̣n mặn ṃi hơi muối & c̣n đẫm đầy mùi mồ hôi, ḥa lẫn mùí ẩm thấp ảm đạm, chết chóc của những chuyến vượt biển giữa những cơn băo tố hăi hùng… Tôi c̣n muốn cùng Cu Tư ghé thăm trại chăn nuôi thú hoang của Diều Rơm, người bạn nhỏ tuy xấu xí, tật nguyền nhưng có một tấm ḷng nhân hậu, để ngắm mấy con phụ thử, con chim ưng, con chuột rừng, con sóc xám, để nâng niu mấy con gấu chuột hoặc lắng nghe con chim chào mào què, vẫn đứng hót lảnh lót trong góc một chiếc lồng cũ… và theo tôi, không có ǵ gây nên mối xúc động dữ dội trong ta, có thể làm cho ta bao lần rơi nước mắt, khi chợt bàng hoàng nghe tiếng rít năo nề của con gấu chuột lẻ loi, chậm chạp ḅ đi t́m bạn Diều Rơm trên nấm mồ mới đắp! Xét trên một b́nh diện khác, tôi xin chân thành biết ơn nhà văn Trương Bảo Sơn cùng với tác giả M.K.Rawlings v́ cuốn “Con Nai Tơ” thực sự là ngôi trường, là vị thầy tận tâm và hữu ích, đă dạy cho tôi một cách sâu sắc và bền bỉ những bài học đầu đời đầy tính nhân bản về ḷng yêu thương cha - mẹ, gia đ́nh, bè bạn; ḷng yêu thương loài vật; ḷng yêu thương lẽ phải, cái đẹp, ḷng yêu thương đất nước - thiên nhiên - sông núi - cây cỏ - con người và nhất là niềm tin yêu vào cuộc sống luôn rộng mở, luôn trao tặng những nụ cười, những vỗ về an ủi cho những người chân thật, cao thượng, đầy nhân ái, biết mỉm cười, biết tha thứ, biết hy sinh và biết phấn đấu trước bao nghịch cảnh éo le, cay đắng… Hơn thế nữa, tác phẩm “Con Nai Tơ” đă từng được các hăng phim lớn của Hoa Kỳ dàn dựng thành bộ phim mang cùng tên: “The Yearling” trong những thập niên 50, 60… trước đây và đă được tŕnh chiếu nhiều lần khắp nơi trong hàng chục năm trường... Được biết, tác phẩm cũng như bộ phim đă được đưa vào chương tŕnh giáo dục học đường ở nhiều nước trên thế ǵới. Vài năm trước đây, bộ phim The Yearling đă được Đài truyền h́nh SBS của Úc chiếu lại, được mọi giới khán giả khắp nước Úc, đặc biệt là các em thiếu nhi, rất ưa thích, hoan nghênh. Viết “Con Nai Tơ & Tôi” với tôi, chính là một cách biểu hiện ḷng biết ơn chân thành và sâu sắc đó đến với tác giả đă quá văng M.K. Rawlings, đến với dịch giả, nhà văn lăo thành Trương Bảo Sơn, theo tôi, có một ngọn bút rất mực tài hoa với phong cách dịch thuật già dặn, quyến rũ, ít thấy trên văn đàn VN hơn nửa thế kỷ trước; người đă chuyển dịch thành công không những Con Nai Tơ, mà c̣n nhiều tác phẩm lừng danh của nền văn học thế giới như “Một Bản Đàn, T́nh Nghĩa Vợ Chồng (của L. Tolstoi), Phố Chính (của Sinclair Lewis), Gió Đông – Gió Tây (Pearl Buck), Ngư Ông và Biển cả (E. Hemingway), Trà Đạo, Viên Ngọc Trai, Chiếc Lá Cuối Cùng… và một số chương trong cuốn “Đỉnh Gió Hú” (của Emily Bronte), dịch tiếp di cảo dịch thuật của Nhất Linh, Phượng Giang xuất bản, Sài g̣n 1974, mà khi tái bản ở hải ngoại năm 2007, hậu duệ của nhà văn Nhất Linh, ông Nguyễn Tường Thiết, không biết vô t́nh hay hữu ư, đă lạnh lùng thản nhiên gạt bỏ phần công sức đóng góp của dịch giả Trương Bảo Sơn, người bạn văn, người chiến hữu thân thiết của Nhất Linh, v́ cho rằng không thể nào t́m ra ấn bản cũ (?) nên ông ta đành phải tự ḿnh bỏ công sức dịch thêm cho trọn cuốn sách! Nhưng có một điều mà chắc chắn ai cũng nhận ra là, với tư cách một người trông coi Nhà xuất bản Phượng Giang thập niên 70, th́ dù ấn bản Cuốn Đỉnh Gió Hú cũ đă đành trôi nổi theo cơn binh lửa, nước mất nhà tan 1975, nhưng tại sao ông Nguyễn giữ được bản thảo phần dịch của cụ thân sinh mà chỉ đánh mất riêng bản thảo phần dịch của nhà văn Trương Bảo Sơn? Phương chi, trong ấn bản mới 2007 tại Mỹ, ông Nguyễn cũng không nêu rơ cho độc giả biết là nhà văn Nhất Linh đă dịch những chương nào và ông đă hy sinh th́ giờ và bỏ công sức dịch thêm những chương nào? Từ đó, chỉ cần một phép tính trừ đơn giản, phải chăng người đọc sẽ dễ dàng nhận ra công lao dịch thuật của nhà văn Trương Bảo Sơn trong cuốn Đỉnh Gió Hú xuất bản 1974! Tôi chỉ nói đến điều này như là phản ảnh trung thực một sự kiện, một hoạt động văn học thuần túy trong lănh vực dịch thuật, và nêu lên công trạng của dịch giả Trương Bảo Sơn, hơn nửa thế kỷ qua, một cách công bằng, chứ không hàm ư phê phán hay lên án bất cứ ai. Đến nay, tuổi đời chồng chất đă tới nửa lục tuần, mái tóc đă nhuốm mầu sương tuyết và gió bụi thời gian, nhưng nhiều lần trong đêm, tôi như vẫn c̣n nghe văng vẳng đâu đây tiếng Cu Tư gọi Thơ Thơ dịu dàng, tha thiết, ân cần; và tôi như c̣n mường tượng thấy thấp thoáng sau mấy cây mộc liên nở đầy hoa, dưới mấy rặng thông già xanh lục, ŕ rào đón gió chiều lên, dưới mấy gốc sồi cổ thụ, tán x̣e rộng như những chiếc dù khổng lồ xám bạc, phía xa xa, sau hồ nước loang loáng mây trời, hoặc đâu đó bên bờ suối ngàn đời tấu lên khúc nhạc róc rách, êm đềm, trong trẻo, lúc nào cũng có h́nh ảnh “một đứa trẻ và một con mang đương chạy bên nhau… xa dần… rồi khuất xa măi măi” Nguyễn Thủy Nam, South Australia Thơ: Kính tặng Nhà văn lăo thành Trương Bảo Sơn
Vơ giỏi vũ sư nhường tài, Văn hay thi bá trong ngoài nghe danh. Thời trai chí cả tung hoành, Đánh Tây, đuổi Nhật tuổi xanh rạng ngời. Gia vong Quốc biến đổi dời, Gẫm trong thế sự cơ trời vần xoay. Anh hùng lỡ vận khoanh tay, Nghĩa tinh non nước đêm ngày khôn nguôi. Tuổi đời nay ngoại tám mươi Nh́n lên tượng Phật nụ cười viên dung.
Dương Thị Huệ, Bergen, Norway, 18 - 03 – 1998
Tiểu Sử Nhà văn Trương Bảo Sơn Trương Bảo Sơn tên thật là Trương Cam B́nh sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916 tại Hà Nội. Ông hoạt động cách mạng dưới danh xưng Trương Bảo Sơn và văn hóa với bút hiện Bảo Sơn. Ông c̣n mấy bút hiệu nữa như Cẩm B́nh, Ngọc San, Trường Sơn nhưng ít dùng. Sinh trưởng trong một gia đ́nh thanh bạch, nhà văn Bảo Sơn bắt đầu bằng nghề dạy học, rồi viết văn, làm báo. Viết văn, ông dịch truyện ngoại quốc nhiều hơn là sáng tác. Về văn hóa và cách mạng, có thể tóm tắt nhũng hoạt động của ông như sau: A) Văn hóa: * Biên tập viên Nhật báo Việt Nam, Chính Nghĩa tại Hà Nội 1946. * Hội viên hội Văn bút (Pen Quốc tế) 1957. * Cộng tác với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, tổ chức những Nhà xuất bản Phượng Giang, Đời Nay, Quốc Bảo, xuất bản Giai phẩm Văn Hóa Ngày nay. * Chủ nhiệm Giai phẩm Tân Phong 1959. * Giám đốc chính trị Tạp chí Đông Phương 1965. * Soạn giả Sách giáo khoa Anh ngữ và dịch giả nhiều sách và truyện hay thế giới. * Năm 1988 ông cùng Nguyễn Khắc Ngữ và Đỗ Quư Toàn sáng lập Hội Văn bút Việt Nam Hải ngoại, trung tâm Quebec. * Viết cho các tạp chí Văn nghệ Tiền phong (Mỹ), Lửa Việt, Vượt Biển, Nắng Mới… (Canada), Độc Lập (Đức) và các Đặc san tại Montréal, Trung tâm Người Việt cao niên Rồng Vàng, SAIM. Ông thường xuyên hoạt động trong Hội Văn bút, Cộng đồng Người Việt Tự do, Trung tâm Giúp Người Vượt biển, Trung tâm dịch vụ xă hội Giúp Người cao niên tại Montréal và Hướng dẫn tập Taichi cho các bạn Cao niên Người Việt và Canada. B) Hoạt động Cách mạng: Ngoài những hoạt động văn hóa kể trên, Bảo Sơn c̣n là một Nhà Cách mạng: * Gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng từ năm 1940 để chống thực dân Pháp. * Từ năm 1945 - 1946 ông cùng các đồng chí thành lập Đệ Tam Chiến khu Việt Quốc chống Cộng và giữ chức vụ Bí thư của Chiến khu này. * Trưởng Phái đoàn Việt Quốc ḥa giải với Việt Minh tại Vĩnh Yên năm 1946, sau khi Chính phủ Liên hiệp Quốc - Cộng được thành lập. * Từ cuối năm 1946 đến 1952, ông lưu vong ra hải ngoại (Trung Hoa rồi Hương Cảng) tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Tường Tam tại Thượng Hải. * Năm 1960, ông cùng Nguyễn Tường Tam tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Đoàn Kết, tham gia Ngày 11 - 11 - 1960 bị bắt tù 3 năm và bị Ṭa án Quân sự kết án 5 năm lưu đày ra Côn Đảo năm 1963, nhưng được tự do sau vụ đảo chánh 1 - 11 - 1963. * Năm 1964 ông đứng ra thành lập và làm Tổng Thư Kư Quốc Dân Đảng, biệt bộ Nguyễn Tường Tam, làm Tổng Thư Kư Hội Bảo vệ Nhân quyền và Dân quyền, tổ chức Phong trào chống Hiến chương Vũng Tàu và Độc tài Quân phiệt. * Năm 1978 ông vượt biển tới Pulau Bidong (Malaysia) và định cư tại Montréal, Canada từ 1979. C) Tác phẩm: 1) Những lỗi thông thường về Anh văn (Nxb Quốc Bảo 1954) 2) T́nh nghĩa Vợ Chồng (dịch) (Nxb Phượng Giang 1961, tái bản lần thứ tư 1968) 3) Con Nai Tơ (dịch) (Nxb Phượng Giang 1957 và Tín Đức tái bản lần thứ 3 1966) 4) Chiếc Lá Cuối cùng (dịch) (Nxb Phượng Giang, tái bản lần thứ 2 1957) 5) Mặc cho Gió dập Tuyết vùi (dịch) (Nxb Quốc Bảo 1960) 6) Một Bản Đàn (dịch) (Nxb Đời Nay 1961) 7) Ngược ḍng Thời gian (Tuyển tập Truyện ngắn Quốc tế - dịch) (Nxb Đời Nay 1962) 8) Gió Đông Gió Tây (dịch) (Nxb Bốn Phương 1968) 9) Viên Ngọc Trai (dịch) (Nxb Thứ Tư Tuần san 1967) 10) Trà Đạo (dịch) (Nxb Lá Bối 1967) 11) Cuộc đời Bác Sĩ Arrowsmith (dịch) 1970. 12) Ngư Ông và Biển cả (dịch) 13) Đỉnh Gío Hú (dịch tiếp Di cảo của Nhất Linh – 1970) (Nxb Phượng Giang 1974) |