Chủ nghĩa lót đường – một loại “mọt tư tưởng” đe dọa đến sự hưng vong dân tộc Việt

______________________________________________________________________________________________
 

Triết Minh (Vietnam Freedom Institute)

   Phần lớn người Việt Nam có thói quen không mấy tốt đẹp hoặc giả nó từng là nếp ứng xử tốt đẹp nhưng qua thời gian, qua những đổi thay lịch sử, nó dần biến thái, trở thành một quái trạng, khiến con người chịu sống chung với nó và xem đó là điều đương nhiên trong đời sống, biến họ từ một con người có đủ nhân quyền thành một loại hiện hữu cam phận, lép vế và nhược tiểu. Quái trạng sinh sôi, phát triển thành bầy “mọt tư tưởng”, thành 1 thứ chủ nghĩa – Chủ Nghĩa Lót Đường. Và một khi nó đă thành nếp trong tâm thức, người ta không c̣n nhận thấy được sự nguy hiểm của nó, ngộ nhận đó là tính chất tốt, thậm chí xem nó là một phần căn phận của ḿnh. Không có ǵ nguy hiểm và vong thân hơn cách nghĩ này!

 Bắt đầu từ câu chuyện nhỏ nhất khi dắt xe máy đi ra khỏi ngơ, việc đầu tiên của một người ngồi lên xe là có đủ tự tin ḿnh điều khiển được chiếc xe, có đầy đủ bằng lái, nón bảo hiểm, giấy bảo hiểm và những thứ linh tinh khác để lưu thông. Nhưng tâm lư chung (tôi muốn nhấn mạnh chữ “chung” này!) của người đi ra đường là sợ công an giao thông. Hễ cứ thấy bóng áo vàng loáng thoáng đâu đó là tự dưng thấy gáy hơi lạnh, mặt hơi tái, tay hơi tê… bởi thận co bóp không được b́nh thường. Và nếu như hôm đó may mắn, không bị công an gọi th́ thôi, chứ nếu bị thổi c̣i, nhất định người lái xe sẽ lén lút móc ví nhét một tờ tiền 50.000 đồng hoặc 100.000 đồng kẹp vào giữa giấy tờ xe và nhẹ nhàng, pha chút e dè, khiêm cung đưa cho đồng chí công an với ánh mắt đầy vẻ van lơn “ xin anh vui vẻ nhận chút tiền mọn này cho em đi làm kẻo trễ việc… coi như là chút quà lót đường của em!”. Và về phía đồng chí công an giao thông, nhẹ nhàng dùng hai ngón tay trỏ và giữa kẹp lấy tờ bạc nhét vào đai nịt quân phục. Hành động này diễn ra trong tích tắc, như không hề có ǵ xảy ra kèm với lời nhắc: “lần sau nhớ đi đúng luật nghe!”. Người lái xe “dạ” một tiếng nhẹ nhàng và đi một cách thỏa măn, cầu an cho dù anh ta không hề biết ḿnh đă sai phạm tội ǵ. Nhưng dù sao đó cũng là khoản lót đường. Và điều này diễn ra nhiều hơn cơm bữa ở Việt Nam.

 Những sinh viên khi ra trường, đi xin việc cũng không tránh khỏi khoản này. Nhức nhối hơn có lẽ là những sinh viên nghành Sư phạm – những thầy, cô giáo trong tương lai. Phần lớn khi họ đi xin việc, họ không đến trực tiếp cơ quan để gặp vị thủ trưởng mà t́m cách bắt dây liên lạc với những người thân thủ trưởng (trong trường hợp này là Hiệu trưởng nhà trường) hoặc những tay c̣ việc làm để dựa dẫm t́nh cảm, bôi trơn thủ tục và dễ bề lót đường. Và khi đă chung đủ một khoản tiền theo yêu cầu ngầm của Hiệu trưởng, nhận một lời hứa, cô cậu sinh viên này mới dám bén mảng tới cơ quan chính thức nộp hồ sơ xin việc, phỏng vấn và… đi dạy.

 Đương nhiên là không phải sinh viên nào cũng có cách xin việc như vừa kể trên, cũng có người do ḷng tự trọng, do yêu nghề, do không chấp nhận cái xấu, họ đă nộp đơn xin việc một cách đường đường chính chính. Nhưng xác suất xin được việc làm, có chỗ làm việc ổn định của những sinh viên “ngoại lệ” này là rất thấp, nguy cơ thất nghiệp và chán chường của họ rất cao. Hoặc giả họ là những sinh viên ưu tú, có số điểm tốt nghiệp cao tuyệt đối, cơ quan nhận người làm việc không biết thoái thác vào đâu (nhưng trong một khóa học có được bao nhiêu sinh viên như vậy, đó là chưa nói đến chuyện khi nhận bằng tốt nghiệp xong họ quyết định ra nước ngoài học tiếp hoặc làm việc cho các cơ quan nước ngoài…).

 Và, về phần những người đi đường, vẫn có nhiều người không chấp nhận sự mờ ám của công an giao thông, họ có thể phản đối, đấu lư. Nhưng phần thua chắc chắn thuộc về họ, v́ trong đời này không có thứ ǵ là không mang một khuyết điểm nào đấy. Gặp trường hợp không chịu lót đường, việc đầu tiên đồng chí công an sẽ hỏi giấy tờ xe, bằng lái, bảo hiểm, nếu người lái xe có đầy đủ, đồng chí sẽ hỏi tiếp thẻ chứng minh nhân dân, nếu vẫn có, đồng chí chuyển sang khám xe, khám từ đèn pha, đèn xi nhanh, đèn đuôi, mọi thứ đèn có gắn trong xe… Nếu vẫn đạt yêu cầu th́ đồng chí chuyển sang khám khung sườn, khám vỏ nhựa, màu xe… Đồng chí sẽ khám cho đến bao giờ ra lỗi, viết biên lai phạt. Rất hiếm những trường hợp bị công an giao thông khám xe mà không t́m ra lỗi! Trường hợp hiếm lắm th́ các đồng chí mới không t́m thấy lỗi, nhưng đợi các đồng chí khám xong là là mất toi buổi làm việc. Trong trường hợp có người nhà bị bệnh, cần đi đâu gấp th́ c̣n thấm thía “lẽ hơn thiệt” nhiều hơn nữa. Không có cách lựa chọn nào tốt hơn là… lót đường!

 Hai trường hợp vừa kể trên là hai ví dụ đơn cử dễ nh́n thấy, dễ nhận biết nhất. Thực ra trong xă hội Việt Nam hành vi lót đường diễn ra khắp mọi ngơ ngách, cơ quan, từ địa phương cho đến trung ương. Nơi nào có cơ quan nhà nước, nơi đó diễn ra chuyện lót đường. Một loại “văn hóa lót đường” được h́nh thành và h́nh tướng của nó tùy thuộc vào tính chất, mức độ và khả năng vận hành của cơ quan đó. Và dường như người ta đă xem đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống! Khai sinh cho trẻ em ra đời cũng phải lót đường để cho đứa bé mau ăn, chóng lớn!

 Khi ngồi lại tĩnh tâm mà suy tư đôi chút về vấn đề này, thử ngược ḍng lịch sử, dường như thứ văn hóa lót đường này đă có từ lâu lắm rồi, từ khi đồng tiền xuất hiện, thậm chí c̣n trước đó nữa… Vào thời phong kiến, các hoạn quan – Thái giám là người trung chuyển của đường dây đút lót, đến thời hiện đại, những tên lưu manh, mất chất lọt vào bộ máy nhà nước và thao túng đường dây này, hễ nơi nào có chúng là có văn hóa lót đường. Và, đến giai đoạn gần đây nhất, giai đoạn chúng ta đang sống, chuyện lót đường trở thành một nếp ứng xử không thể thiếu. Vậy đâu là nguyên nhân?

 Khó mà trả lời chính xác được đâu là nguyên nhân, v́ cái thứ hành vi ứng xử ấy đă ăn sâu vào máu huyết của người Việt lâu lắm rồi, nó thành truyền thống, thành tập quán tự bao giờ không biết. Chỉ biết là trong xă hội hiện nay, dưới triều đại Cộng sản Hồ Chí Minh nó đạt đến “cực điểm tinh hoa”, vượt đến tŕnh độ bán nước… Vấn đề là nên triệt tiêu nó hay là để nó tồn tại và trong trường hợp nào th́ nó tồn tại, phát triển, trong trường hợp nào th́ nó bị triệt tiêu, tính độc hại của nó như thế nào?

 Phải nói rằng văn hóa lót đường chỉ diễn ra và tồn tại ở những nước kém phát triển về mọi mặt, ở những nước mà tệ nạn tham nhũng c̣n quá cao, văn hóa ứng xử quá thấp và tŕnh độ lập pháp của nhà nước chưa tiến bộ, thậm chí là đang ở mức mông muội!

 Tôi c̣n nhớ những năm Việt Nam đang c̣n chế độ bao cấp, cứ mỗi lần tới ḱ nhận lương thực, mẹ tôi – một giáo viên nghèo – cứ đâm lo lắng không biết ḿnh có ra đúng giờ phát gạo hay không, ḱ này Đảng cho ḿnh ăn bao nhiêu gạo, độn bao nhiêu khoai ḿ, bắp, khoai lang… Và muốn nhận được gạo trong ngày, phải dậy sớm lúc 4 giờ sáng, nộp sổ, xếp hàng đợi cho đến lúc nhân viên lương thực dơng dạc đọc tên ḿnh th́ vội vàng cuống quưt mang bao bị đến ch́a ra hứng gạo. Nếu bữa đó “bà lương thực” vui vẻ th́ được gạo ngon, độn ít, không may bữa đó”bà” không vui là gạo cân bị thiếu, độn toàn sắn khoai và… mọt. Dần dần, sau những lần lấy làm lạ, mẹ tôi mới hiểu ra v́ sao gạo người khác lại trắng và ngon, gạo của ḿnh có lúc bị mốc và độn đầy những thứ nuốt không vào. Có lẽ v́ thương con ḿnh, không chịu nổi cảnh nh́n đứa con nhỏ nhai cơm như nhai giẻ rách nên mẹ tôi bắt đầu lân la làm quen với bà lương thực. Sau vài lần quà cáp (không phải là ít) và nói cười với nhau khá ư là t́nh chị t́nh em, nhà tôi được ăn gạo đường hoàng tí chút…

 Có thể nói thời bao cấp của toàn bộ Việt nam (1976 – 1986) là giai đoạn phát triển rực rỡ của văn hóa lót đường. Và cái vệt ấy kéo dài đến thời kinh tế mở (1986 – nay). Ở giai đoạn này, nó chuyển sang một h́nh thái khác tinh vi hơn, có nề nếp và thông lệ hơn… Nếu như ở thời bao cấp người ta v́ củ khoai, kí gạo, kí thịt mà lót đường, mà tâm t́nh Nghệ Tĩnh với nhau th́ bây giờ những thứ đó xưa rồi, người ta v́ sự yên thân, v́ những tham vọng địa vị, v́ những tham vọng chính trị… mà lót đường. Mức độ lo lót lớn gấp nhiều lần, khả năng chi phối của việc lo lót cũng phát triển đến độ khổng lồ…

 Trở lại câu chuyện của những người đi đường và sinh viên ra trường xin việc làm. Xét một cách công tâm th́ họ chỉ mới là nạn nhân đầu tiên, nhịp cầu đầu tiên của văn hóa lót đường mà thôi. V́ để được ra đứng đường, các đồng chí công an c̣n phải lót cho cấp trên của họ và sau khi nhận lót từ những người đi đường, họ phải về lót lên cấp trên, rồi cấp trên lại lót cho cấp trên nữa, đến cấp cao nhất th́ mới dừng, nhưng cũng chưa hẳn dừng (?). Những sinh viên mới ra trường hoặc những thành phần khác trong xă hội Việt nam đều chịu chung qui luật này.

 Sở dĩ có dấu hỏi trong ngoặc ở đoạn trên là v́ đó là một dấu hỏi nhức nhối, một dấu hỏi chạm đến lương tri, danh dự và sự mất c̣n, hưng vong của một dân tộc, một quốc gia. Tại sao tôi nói cấp cao nhất trong nội bộ Đảng Cộng sản lại c̣n phải lót đường? V́ thực ra, đây mới là kẻ lót đường nhiều nhất, tàn bạo nhất. Họ có thể đem tài sản nhân dân ra để lót cho những kẻ biết điểm yếu của họ nhằm che miệng thế gian, nhằm duy tŕ quyền lực để tiếp tục thao túng, nhũng nhiễu, hạch sách… Và nguy hiểm nhất là để duy tŕ một chế độ độc tài, những người lănh đạo đảng Cộng sản đă mang cả lănh thổ quốc gia, mang cả phần đất mấy ngàn năm thấm máu xương tổ tiên, ông bà ra trao cho ngoại bang để thiết lập sức mạnh phe trục, thiết lập chỗ đứng trên trường chính trị, để duy tŕ sự độc tài và tiếp tục hành hạ nhân dân bằng thứ văn hóa lót đường của họ.

 Những phần lănh thổ biên giới Việt Trung đi về đâu? Những cụm đảo Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu đi về đâu? Có bao nhiêu máu ông cha, máu anh em, máu thế hệ hiện tại đă đổ xuống để bảo vệ biên giới, bảo vệ hải đảo? Cái giá họ nhận được là ǵ? Một công hàm ngớ ngẩn và phản động dân tộc của Phạm Văn Đồng kí năm 1958 đă thay thế cho lời van xin, quị lụy, thay thế cho vật cống triều của chế độ Cộng sản Việt nam dâng lên Cộng sản Trung Quốc để lót đường cho việc Cộng sản Trung Quốc công nhận Cộng sản Việt Nam là anh em, là đồng chí. Và tiếp nhiều năm sau đó, nhiều lớp lănh đạo lại tiếp tục dâng lănh thổ cho Trung Quốc làm vật lót đường trên xa lộ chính trị của ḿnh. Rồi đây lănh thổ Việt nam sẽ c̣n được bao nhiêu để bảo đảm cho sự tồn tại của chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam? Có bao nhiêu phần lănh thổ để đủ cho Nhà nước Cộng sản độc tài mang ra lót đường? Và đất nước này sẽ đi về đâu?

 Câu trả lời nằm ở chỗ những người có trách nhiệm với sự hưng vong dân tộc, hưng vong quốc gia phải có thái độ ǵ, phải có quyết định ǵ và sáng suốt nhận ra đâu là kẻ thù, đâu là kẻ phản bội dân tộc! Một đứa con bán đứng cha mẹ ḿnh th́ tội nặng gấp nhiều lần kẻ không có quan hệ huyết thống. Một người Việt, một tập thể, một tập hợp chính trị người Việt mà mang lănh thổ quốc gia ra bán đứng cho ngoại ban th́ tội nặng không thể bỏ qua. Và nếu tập thể, tập hợp chính trị đó c̣n tồn tại ngày nào th́ nhân dân phải c̣ng lưng chịu khổ ngày đó.

 Làm sao để văn hóa lót đường được triệt tiêu? Làm sao để nhận thức người Việt được mở mang? Làm sao để bầu khí quyển văn minh Việt Nam được trong sạch, mọi người tôn trọng nhau, mỗi người biết tự trọng, đời sống ấm no, ḷng người thanh thản, đất nước vẹn toàn? Câu trả lời nằm ngay trong ư thức tự do, ư thức độc lập, ư thức dân chủ, ư thức yêu quê hương, ư thức ǵn giữ, bảo tồn những ǵ ông cha đă đem máu xương đổi lấy để lại cho ta… Và muốn thực hiện được điều này, không có ǵ khác ngoài một sự thay đổi chế độ. Người ta không thể thay máu tốt vào một cơ thể nhiễm ung thư để cho nó hồi sinh, và người ta cũng không thể áp đặt một hệ thống đạo đức tốt đẹp vào chế độ Cộng sản độc tài để hy vọng nó tốt hơn, dân chủ hơn, thanh sạch hơn một khi bản chất của nó là phản động!

 Và xin chúng ta nhớ dùm một điều máu huyết này, đợi đến khi nào mới thay đổi, đất đai không thể ph́nh nở ra trong thời gian chờ đợi để bù vào khoản thất thoát do những kẻ độc tài mang ra đổi lấy quyền lực, đổi lấy sức mạnh cho họ. Và ngày nào c̣n chế độ độc tài cùng với thứ văn hóa lót đường man rợ của họ th́ sự b́nh yên, chủ quyền dân tộc Việt Nam c̣n bị đe dọa, nhân dân c̣n mất tự do. Đến bao giờ?!

 

Home