Chu Thập
Mỗi năm, cứ đến mùa chay
của Kitô giáo th́ tôi lại nghiệm ra một điều: càng kiêng cữ th́ càng
thèm! Cuộc sống không chỉ đơn giản chỉ có “ba cái lăng nhăng nó
quấy ta” như cụ Tú Xương đă phải “xưng thú” với bà tú. Như sóng
biển khơi trùng trùng điệp điệp, trừ được cái này th́ cái khác lại
trồi lên.
Đa số
những kiêng cữ của tôi đều gắn liền với sức khỏe. V́ muốn sống khỏe,
sống lâu và nhứt là để khỏi phải trở thành gánh nặng cho người thân
và xă hội, tôi thấy ḿnh thành công một cách dễ dàng trong việc đối
đầu với những cái “lăng nhăng”. Cũng may, nhờ tiến bộ của khoa học,
tôi được giải tỏa khỏi nhiều sự thèm khát mà lâu nay tôi cứ phải ḱm
hăm. Chẳng hạn như trứng gà. Trước đây tôi cứ phải “đấu tranh tư
tưởng” mỗi khi nh́n thấy trứng. Nay những khám phá mới lại bảo rằng
tôi có quyền ăn “thả giàn” mà chẳng phải sợ “mỡ máu” (cholesterol
xấu) gia tăng dẫn đến các bệnh về tim mạch. Khi biết có “quyền” th́
tự dưng không cần ăn “phụ trội” tôi vẫn thấy bớt thèm.
Mới
đây, trên báo mạng “Calitoday”, tôi lại được giải thoát thêm khỏi
một mặc cảm khác khi đọc được một bài viết về ích lợi của rượu bia.
Từ hơn 20 năm nay, cũng v́ lư do sức khỏe, tôi đă thề thốt bỏ rượu
bia và tôi đă thành công. Nhưng ư chí của tôi đă không thể đè bẹp
được sự thèm khát trong tôi. Thấy bạn bè chén chú chén anh mà tôi
thấy nóng ran cả người. Nhấp vài giọt vẫn thấy ngon và có khi c̣n
ngon hơn cả cái thời c̣n sung sức. Nhưng nghĩ đến những tác hại của
rượu chè, tôi lại đành nh́n bạn bè để cười trừ và xin được “tha”
cho.
Bài
báo mà tôi đọc được trên Calitoday viết rằng nếu uống chừng mực th́
rượu bia mới có ích lợi cho sức khỏe. Theo bài báo, những nghiên cứu
mới cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ
một đến 2 lon bia mỗi ngày, nhứt là bia làm bằng lúa mạch. Kết quả
nghiên cứu cũng chứng minh rằng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm đi
31 phần trăm nơi những người uống bia chừng mực, trong khi nguy cơ
này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Cũng
theo kết quả nghiên cứu, bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành
sạn thận đến 40 phần trăm, bởi v́ calcium trong bia sẽ giúp cho
xương được cứng hơn và không gây sạn trong thận.
Điều
đáng chú ư là bài báo khẳng định rằng bia có tác dụng chống lăo hóa.
Dựa vào một thống kê so sánh 11 ngàn phụ nữ lớn tuổi th́ những vị
uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn đến 18 tháng tuổi so với
những người không uống bia.
Ngoài
ra, lại càng là một tin mừng hơn khi bài báo viết rằng bia giúp giảm
nguy cơ bị ung thư, tiểu đường, tăng trưởng chất bổ trong cơ thể,
giúp chống liệt năo, giảm bệnh cao huyết áp và nhứt là gia tăng tuổi
thọ...
Theo
bài báo, kết quả trên đây dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu
tại Hoa kỳ cũng như nhiều nước Âu châu. (x. Calitoday 23/3/2012)
Thời
buổi khoa học này, người ta luôn “nói có sách mách có chứng”. Tôi
tin tưởng ở những kết quả nghiên cứu khoa học. Nhưng tôi cũng thú
nhận rằng gần đây, tôi bắt đầu ngờ vực về tính thuyết phục của khoa
học. Chỉ riêng về bệnh tật và thuốc chữa trị, hôm nay người ta bảo
thế này, ngày mai người ta lại nói ngược lại. Những lư thuyết khoa
học đă từng ngự trị cả thế kỷ nay lại bị lung lay. Đừng nói ǵ đến
thuyết tiến hóa mà cho tới nay nhiều nhà khoa học tên tuổi vẫn chưa
chịu chấp nhận (x. John Ashton, in six days, why scientists choose
to believe in creation), ngay cả thuyết tương đối của người được bầu
là nhà khoa học vĩ đại nhứt của thế kỷ 20 là Albert Einstein nay
cũng bị đặt lại vấn đề (x. Lê Tất Điều, Ngày tàn của một ảo ảnh,
Việt luận, 24/2/2012). Tưởng vững như bàn thạch và sẽ vĩnh viễn ngự
trị trong không gian khoa học và cách suy nghĩ của con người, nay
thuyết này xem ra đang bị đào thải. Sở dĩ có chuyện “động trời” này
là v́ mới đây Tổ chức Nghiên Cứu Hạt Nhân Âu Châu gọi tắt là CERN
(European Organization for Nuclear Research) có trụ sở gần Geneve,
Thụy sĩ, đă chứng minh được rằng những hạt vi mô “Neutrinos” đă có
thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Như vậy “lệnh cấm tuyệt đối” của
Einstein không cho bất cứ vật thể nào trong vũ trụ được phép vượt
qua tốc độ của ánh sáng đă bị đánh đổ và do đó thuyết tương đối được
xây dựng trên “lệnh cấm” này cũng bị lung lay.
Các
lư thuyết khoa học xem ra cũng giống như sóng biển. Lư thuyết này
xuất hiện, chi phối cách suy nghĩ và nghiên cứu khoa học một thời
gian rồi...chết. Lư thuyết kia lại trồi lên và đảo lộn những lư
thuyết đến trước. Vũ trụ vật chất vẫn măi măi là một bí ẩn mà trí
khôn con người xem ra không thể nào múc cạn.
Cái
thế giới thuần vật chất là vũ trụ vẫn măi là một bí ẩn đă đành, mà
cái tiểu vũ trụ vừa là vật chất vừa là tinh thần là con người lại
càng phức tạp và không ngừng vượt khỏi tầm tay với của chính trí
khôn con người hơn. Khoa học càng tiến bộ th́ châm ngôn “dủ học dủ
ngu” lại càng đúng. Thành ra, tự cho ḿnh có thể chọc thủng được bức
màn bí ẩn của con người và giản lược mọi sinh hoạt của con người vào
chiều kích khoa học là một thái độ ngạo mạn, nếu không muốn nói là
ngu xuẩn.
Tôi
có ư nghĩ ấy khi đọc được bài tiểu luận của chuyên gia tâm thần học
Tanveer Ahmed được đăng trên báo The Sydney Morning Herald số gần
đây. Theo tác giả, ngày nay, những nỗ lực t́m kiếm những nguyên nhân
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đều đặt nền tảng trên ư niệm
cho rằng kinh tế học cũng là một bộ môn khoa học giống như vật lư và
sinh hóa học, nghĩa là cũng có thể cân lường, đong đếm...Cái nh́n
này cũng lại xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sinh hoạt của con
người cuối cùng đều giản lược vào hoạt động trong năo bộ. Người ta
cho rằng từ t́nh yêu, ư thức, đến ư thơ, niềm tin tôn giáo, cuộc
sống xă hội... xét cho cùng cũng chỉ là một chuỗi những hoạt động
của “gen” và các tế bào năo. Giản lược những cảm xúc và tâm t́nh cao
quư nhứt trong con người thành những bản năng hoàn toàn như nơi thú
vật tưởng là chuyện “cường điệu” nhưng lại là cái nh́n trổi vượt về
con người trong đầu thế kỷ 21 này. Phim ảnh, báo chí không ngừng cổ
vơ cho quan niệm xem mọi sinh hoạt của con người đều được quyết định
từ trong bào thai. Không thiếu cái giọng điệu cho rằng “cứ 4 đứa trẻ
sinh ra th́ có một đứa mang sẵn trong người cái “gen” không chung
thủy”; có những người “bẩm sinh” là kẻ giết người (natural born
killer)...Có sống đạo đức được cũng là do “gen” di truyền. Mà có
phạm tội ác th́ cũng chỉ là do bẩm sinh. Phân tách cho đến cùng,
trong con người chẳng có tự do và trách nhiệm ǵ cả!
Sở dĩ
có cái nh́n giản lược như thế là v́ một phần do ảnh hưởng của thuyết
tiến hóa, do những khám phá về hệ “gen” di truyền trong con người.
Trong 2 hoặc 3 thập niên vừa qua, cuộc nghiên cứu về năo bộ và tác
động của năo bộ đối với cách hành xử của con người đă trở thành một
trong những ngành nghiên cứu hàng đầu. Chúng ta biết rằng trong năo
bộ có trên 100 tỷ tế bào thần kinh và mỗi một tế bào lại liên kết
với hàng ngàn tế bào bên cạnh. Chúng ta cũng biết đến nhiều trung
tâm chức năng khác nhau trong năo bộ, mỗi trung tâm có trách nhiệm
và bổn phận khác nhau.Thần kinh học là ngành có nhiều khám phá kỳ
thú nhứt. Không có một tuần lễ qua đi mà các nhà khoa học không loan
báo một khám phá mới liên quan đến thần kinh hệ. Chính v́ vậy mà
hiện nay nhiều sinh hoạt khác của con người cũng bắt đầu gắn liền
với hai chữ “thần kinh”. Muốn làm những quyết định kinh tế tốt th́
cần phải quan tâm đến hoạt động của năo bộ. Ngay cả một số triết gia
cũng liên kết hai chữ “đạo đức” với thần kinh hệ.
Tưởng
hai chữ “thần kinh” chỉ giới hạn trong giới hàn lâm và nghiên cứu.
Nay người ta cũng áp dụng nó vào việc soạn thảo các chính sách chính
trị, kinh tế và xă hội. Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới đă
thành lập nguyên một bộ chuyên áp dụng những hiểu biết của khoa thần
kinh học vào việc soạn thảo các chính sách. Tại Anh quốc, một trong
những việc đầu tiên mà thủ tướng David Cameron thực hiện khi lên cầm
quyền là thiết lập Đơn vị nhận thức về hành xử (Behavioural Insight
Unit), tức một nhóm chuyên gia đặc trách về việc soạn thảo chính
sách dựa trên những khám phá của môn thần kinh học. Tại Hoa kỳ, tổng
thống Barack Obama dường như cũng chạy theo khuynh hướng ấy để đề ra
các chính sách về xă hội.
Theo
ông Ahmed, nỗ lực không ngừng để t́m hiểu và đào sâu bản chất con
người là điều đáng ca ngợi. Nhưng sẽ là điều nông nổi khi xử dụng
khoa thần kinh học và thuyết tiến hóa để t́m hiểu sự sống con người
hay đề ra chính sách xă hội.
Tác
giả viết rằng những ai muốn xử dụng khoa học để giải quyết những vấn
đề thực sự của con người thường phải giản lược chúng thành những vấn
đề “kỹ thuật”, nghĩa là như một bài toán mà giải đáp đều có thể t́m
thấy nếu theo đúng một quy tŕnh.
Tác
giả kết luận: “Khi tiến tŕnh này được áp dụng cho con người, dù
là trong kinh tế, sức khỏe tâm thần hay những ứng dụng thời thượng
của khoa thần kinh học, th́ kết quả không thể tránh khỏi là con
người bị xem như đi thụt lùi.” (x. The Sydney Morning Herald,
10-11/3/2012)
Dĩ
nhiên, “thụt lùi” từ con người xuống hàng súc vật. Sau năm 75, người
Việt nam chứng kiến cái bước “thụt lùi” ấy rơ rệt và đau đớn hơn ai
hết. Câu nói đầy mỉa mai “người xuống làm súc vật để cho súc vật
lên làm người” hẳn đă diễn tả được cái thực trạng ấy một cách bi
thảm. Những kẻ tự cho ḿnh có sứ mệnh “giải phóng” đă dựa vào thuyết
tiến hóa được tiếp thu một cách ngu xuẩn và chủ nghĩa vô thần được
tuyên xưng một cách cuồng tín để tước đoạt nhân phẩm của người đồng
bào ruột thịt của ḿnh. Kết quả của bước “thụt lùi” ấy là ǵ nếu
không phải là điều mà tác giả Hà sĩ Phu gọi là “cuộc tổng khủng
hoảng về nhân cách”, luân thường đạo lư bị bứng khỏi ḷng người, ư
thức về thiện ác hoàn toàn bị xóa bỏ, tính tham lam và độc ác được
khuyến khích đến mức tối đa...Những người trong nước c̣n có chút ư
thức về thiện ác cứ phải gào lên đến khàn cổ để báo động về t́nh
trạng “tụt hậu nhân cách”, “xuống cấp đạo đức”...Quả thực, cái phần
“người” trong “con người” hầu như đă bị xóa sạch để nhường chỗ cho
phần “con”, tức thú tính.
Ở
những ngày trước kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư “Đen”, làm sao mà tôi
không nghĩ đến cái “lỗ hổng đạo đức” ấy trong xă hội Việt nam hiện
nay. Bởi v́ nó không chỉ là cái “lỗ” nữa nó đă trở thành một “vực
sâu không đáy” nuốt trôi đi không biết bao nhiêu tư cách con người.
Riêng
tôi, sống những ngày “chay tịnh” để chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi
cảm thấy phải ư thức hơn về “nhân phẩm”, tức tư cách con người của
ḿnh. Tôi tin như Kinh Tin Kính rằng con người vẫn măi măi là một
“huyền nhiệm” mà chẳng có “thước đo” nào có thể vừa và cũng chẳng có
bộ môn khoa học nào có thể khám phá và hiểu cho đến cùng. Với tôi,
cũng chẳng có khám phá khoa học nào quan trọng cho bằng sự kiện nhân
cách, địa vị và phẩm giá con người được tôn trọng và ghi chép trong
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhân cách hay phẩm giá cao cả của tôi
mang lại cho tôi tự do và đồng thời cũng đ̣i hỏi tôi phải có trách
nhiệm. Với tôi, mục đích của chay tịnh, tức tiết độ trong cách ăn
uống, phục sức và nhứt là suy nghĩ và đối nhân xử thế, là để giúp
tôi quư trọng chính ḿnh, được sống có tự do và trách nhiệm hơn, bởi
v́ sống là tiến tới chứ không phải “thụt lùi” trong nhân cách.
Đến tuổi này, liệu có “muộn màng” để thấy rằng được
làm Người là một Ân sủng?
Chu Thập