CON ĐƯỜNG SỐNG CỦA DÂN TỘC

____________________________________________________________________________________________________ 

 Lê Quế Lâm

Mỗi thời đại chúng ta phải dựa vào những cái ǵ là ước lệ chung trên trường ngoại giao. Đọc lại lịch sử, chúng ta thấy tổ tiên ta đă khéo léo, biết lúc cương lúc nhu, làm như chịu cái quyền của láng giềng phương Bắc về mặt lư thuyết, nhưng trên thực tế không bao giờ để họ trực tiếp đô hộ chúng ta. Ngày nay, trái lại, đă có các công ước quốc tế, đă có Liên Hiệp Quốc, và năm 2007, VN được bầu làm hội viên không thường trực Hội đồng Bảo An. Về mặt ngoại giao, chúng ta đă có hai điểm thắng so với ngày xưa.

Trả lời câu hỏi: “Kịch bản có thể dễ xảy ra là TQ sẽ chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa? Làm cách nào để ngăn chận?” Giáo sư Thúc trả lời: Chính v́ thế mà tôi rất mừng là sự trở lại Á châu, nhất là ở vùng Đông Nam Á, của đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ (HK). Tôi cảm thấy là HK đang có tham vọng - một tham vọng chính đáng chứ không vô lư. Đó là thiết lập một trật tự mới cho toàn cầu và trong trật tự mới đó, HK sẽ chú tâm đặc biệt hơn đến vùng Thái B́nh Dương và cả ĐNÁ, cho rằng đó là vùng sẽ đóng vai tṛ then chốt trong tương lai”.

Phóng viên RFI đặt vấn đề: “Phải chăng do sự ràng buộc giữa hai đảng Cộng sản, giới lănh đạo VN bị bó tay trong việc bảo vệ chủ quyền lănh thổ?” Giáo sư Thúc cho biết: Tôi đă nh́n thấy từ lâu hiểm họa Bắc thuộc. Họ không cần chiếm đóng, mà lợi dụng chủ nghĩa Mác Lê, họ viện lư do liên đới giữa các đảng Cộng sản, để tự coi họ là CS đàn anh và VN là CS đàn em. V́ sợ hăi Đảng CS đàn anh, giới lănh đạo VN, ngoài mặt luôn dựa vào những nguyên tắc luật lệ quốc tế để phản đối TQ, nhưng bên trong chỉ phản ứng lấy lệ và luôn phục tùng đảng CS/TQ. Chính v́ thế mà tôi đă từng đề nghị phải cắt đứt dây xích ràng buộc Đảng CSVN vào Đảng CSTQ. Họ dựa vào Đảng CSVN để nắm toàn dân VN, v́ đảng CS nắm độc quyền toàn trị trên đất nước VN. Theo Gs Thúc, để chấm dứt sự ràng buộc với Cộng sản TQ, “Đảng CSVN trước tiên phải trả lại quyền làm chủ thật sự cho nhân dân, chứ không phải chỉ thay đổi một số luật lệ. Họ có thể sửa đổi Hiến pháp, đưa ra một số luật lệ về bầu cử, về chính đảng, nhưng sẽ chỉ là h́nh thức. Dân chủ phải là trong tinh thần, trong tác phong. Từ những người cầm đầu cho đến nhân dân, ai cũng phải có tinh thần dân chủ. Phải có ư chí dân chủ, th́ lúc bấy giờ mới thực hiện được một chế độ dân chủ thực sự. Bây giờ không phải là thời buổi mà nhân dân xem những người cầm đầu là phụ mẫu của ḿnh nữa. Những người cầm đầu là do dân bầu ra, đại diện cho nhân dân, được dân giao nhiệm vụ quản trị đất nước. Nhưng họ phải chịu trách nhiệm của họ. Nhân dân vẫn là làm chủ và làm chủ thật sự”.

Giáo sư Thúc khẳng định: “khi tôi nói nhân dân là nói toàn thể nhân dân, không chỉ người sống ở quốc nội. Đừng quên rằng có đến 3 triệu người hiện đang sống ở hải ngoại. Họ là dân Việt Nam, th́ trước hết họ có bổn phận và có quyền yêu nước. Tại sao lại có những người coi yêu nước là độc quyền dành cho một phe đảng? Đừng quên rằng chính nhờ tinh thần dân tộc, mà đất nước ta mới tồn tại cho đến ngày hôm nay. T́nh thần dân tộc ấy dựa trên ư chí sống chung, dựa trên ư thức trách nhiệm, dựa trên cái kư ức của cả một quá tŕnh tranh đấu qua bao thế kỷ. Tôi cũng là một người sống ở hải ngoại, cho nên tôi vẫn coi tôi là dân Việt. Chúng ta sống vào một thời đại có những tiến bộ rất ngoạn mục về kỹ thuật truyền thông. Ở đâu tôi cũng vẫn theo dơi được t́nh h́nh chính trị trong nước, góp ư kiến và nếu cần, đưa những ư kiến ấy về nước để gây nên những phong trào trong nước. Tôi không bao giờ phân biệt trí thức với nhân dân, mà chúng ta đều là những công dân giống nhau. Những người được gán cho là “trí thức” ấy, chẳng qua có thể là họ am hiểu t́nh h́nh hơn. Ở ngoại quốc này, nếu theo dơi thông tin th́ có thể biết rơ t́nh h́nh thế giới, c̣n trái lại những người trong nước, dù có bằng cấp đến đâu đi nữa, mà không được thông tin đều đặn th́ vẫn không am hiểu t́nh h́nh thế giới, mà ngay cả t́nh h́nh trong nước cũng chưa chắc là nắm rơ”.
 
Chính v́ thế mà những người ở hải ngoại, dù có bằng cấp hay không bằng cấp, nhưng một khi đă am hiểu t́nh h́nh th́ phải dám dấn thân. Nói rằng gởi thư ngỏ đến giới lănh đạo VN về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc, có nghĩa là khuất phục Đảng CSVN, th́ chẳng qua đó chỉ là để biện minh cho việc không dám dấn thân. Một khi đă hiểu rơ t́nh h́nh, th́ phải ư thức cái trách nhiệm của ḿnh, mà trách nhiệm lắm khi phải xung phong đi, phải dấn thân đi, phải nhảy xuống vũng bùn đi. Người ta c̣n có thể hy sinh được tính mạng, c̣n ḿnh chỉ sợ những lời chỉ trích mà không dám làm, th́ có phải là có lỗi với dân tộc hay không?”


Tiếp theo đài RFI, ngày 21/3/2012 Đài VOA lại phỏng vấn Gs VQT về một giải pháp thích hợp cho VN. Việt Nam sẽ giữ vị thế nào trong trật tự thế giới mới đang thành h́nh, khi mà TQ ngày càng đóng vai tṛ quan trọng hơn trên sân khấu thế giới, và giữa lúc HK đang tăng cường nỗ lực để xây dựng một liên minh khu vực nhằm kiềm hăm TQ qua chính sách trở lại Châu Á? Giáo sư nhận định: “Nước VN hiện nay đang đứng vào một khúc quanh lịch sử. Nếu không khéo léo th́ có thể dân tộc và đất nước Việt Nam một lần nữa lại lâm vào cái cảnh bị hai thế lực ngoại bang tranh giành trên đất ḿnh, rồi lợi dụng người VN để mà đánh nhau để bảo vệ các quyền lợi của họ. VN đă qua cái cảnh ngộ đó trong bao nhiêu năm nay rồi, đất nước đă bị tàn phá nhiều rồi, dân tộc đă bị tang tóc đau khổ nhiều lắm rồi... Chính v́ thế chúng ta phải tỉnh táo...Toàn thể công dân ở trong nước cũng như ngoài nước có trách nhiệm làm thế nào, đừng để đất nước một lần nữa lâm vào cảnh chiến tranh, huynh đệ tương tàn, rồi đất nước bị tàn phá mà rốt cuộc chỉ có ngoại bang được lợi mà thôi.”.

TQ đang phát triển mạnh và có tham vọng bành trướng, VN không thể để cho cường quốc phương Bắc làm mưa làm gió. Điều quan trọng là người Việt phải làm sao làm chủ được vận mạng của ḿnh, đừng để đất nước rơi lại vào t́nh trạng bị động như trong quá khứ”. Phóng viên Hoài Hương của VOA đặt câu hỏi “Các điều kiện thực tế có cho phép VN làm điều đó hay không? Gs Thúc trả lời: "Ta không phải là một cường quốc về quân sự, nhưng ta đủ sức để ngăn chặn không cho một ngoại bang nào chiếm đóng nước chúng ta. Họ có thể tàn phá chúng ta. Họ có thể đánh bại quân đội chúng ta, nhưng... chúng ta có một điều mà không ai có thể tiêu diệt được hết. Đó là t́nh nghĩa dân tộc, là ư chí muốn độc lập, cái quyền tự quyết mà ḿnh phải tha thiết bảo vệ. Vậy th́ không ai có thể chiếm đóng đất nước chúng ta, biến chúng ta thành nô lệ.”

Ông tŕnh bày tiếp: không giống như thời xưa, VN bây giờ có một số lợi khí ngoại giao trong tay, VN có thể vận động quốc tế và sát cánh với các nước lân bang để chống chủ nghĩa bành trướng. Ông giải thích: "Chúng ta có thể khai thác vị trí về địa lư của chúng ta, là một cửa ngơ để xâm nhập vào nội địa Trung Hoa. Cái quan trọng của VN là ở chỗ đó. Nếu VN đi với một cường quốc Tây phương, như HK, để trở thành một cứ điểm hầu xâm nhập TQ th́ tất nhiên sẽ khiến Bắc Kinh lo ngại lắm, nhưng nếu TQ xâm nhập VN th́ các nước Tây phương sẵn sàng giúp VN để lợi dụng địa thế chiến lược của VN.” Tuy vậy, Gs Thúc khuyến cáo chớ nên đi vào con đường đó, bởi v́ đó có thể là một thảm họa cho VN. Ông chủ trương VN phải giữ quyền chủ động bằng cách đứng giữa các thế lực khu vực: “V́ thế tôi đă đề nghị nếu VN bảo vệ được quy chế trung lập vĩnh viễn theo quốc tế công pháp, th́ trước hết là cam kết của chúng ta không thể để cho bất cứ một ngoại bang nào dùng đất nước chúng ta làm bàn đạp để xâm lăng một nước khác.” Ông tin rằng giải pháp trung lập có thể mang lại cho quốc gia quyền toàn vẹn lănh thổ mà không bên nào được xâm phạm: “Phải bảo vệ nền trung lập pháp lư đó, và thứ hai là quyền tự do giao thương với bất cứ nước nào, trong trường hợp đó nếu một nước nào xâm lăng nước ta, ta có thể trông cậy vào sự tiếp tay của các ngoại bang để bảo vệ nền độc lập của ḿnh, đồng thời chúng ta cam kết sẽ không đứng về một phe nào nếu xảy ra một sự xung đột trên trường quốc tế.”

Phóng viên VOA nêu câu hỏi: “Thực tế là VN vẫn nằm dưới quyền lănh đạo của Đảng Cộng sản,VN, vốn có quan hệ mật thiết với Đảng Cộng sản TQ. Giới phân tích nhận định rằng hàng ngũ lănh đạo hàng đầu VN hiện nay hầu hết đều thân TQ, trong các điều kiện đó, nhiều người lo sợ về cái gọi là “hiểm họa Bắc thuộc mới”. Liệu hiểm họa này có thực hay không? Gs Thúc cho biết: “Hiểm họa Bắc thuộc đó vẫn có nếu chúng ta cứ nhắm mắt theo đúng cái chủ nghĩa Mác-Lênin, là nền tảng lư thuyết của cộng sản, đặt sự liên đới của giai cấp vô sản toàn thế giới lên trên cả các quyền lợi quốc gia, họ không công nhận sự khác biệt giữa các quốc gia, mà trái lại, họ cho rằng giai cấp vô sản toàn thế giới là một khối, phải liên đới với nhau.”. Thực ra, trên thực tế lư thuyết cộng sản không c̣n nữa và t́nh liên đới giữa giai cấp vô sản quốc tế cũng không c̣n. Ông đơn cử một ví dụ: “Khi những ngư dân ở Quảng Ngăi đi đánh cá mà bị tàu hải giám TQ đến đánh đuổi, cướp đoạt tài sản, rồi bắt giam th́ tôi xin hỏi rằng như thế là TQ đă đặt cái nghĩa liên đới cộng sản 16 chữ vàng 4 chữ tốt đó, th́ họ có đặt cái nghĩa liên đới đó lên trên quyền lợi quốc gia không? Họ đă lợi dụng chủ nghĩa cộng sản, chiêu bài cộng sản để mà ru ngủ, để mà ràng buộc Đảng CSVN. Chúng ta những người dân VN phải t́m cách để bảo vệ chủ quyền của chúng ta, không ai có thể ru ngủ chúng ta, đánh lừa thế giới dựa trên chiêu bài liên đới cộng sản để mà biến chúng ta thành một quận huyện của TQ. Khi tôi đ̣i hỏi trung lập là tôi muốn nhắc nhở (giới lănh đạo VN) như thế đó, phải trông cậy vào sức mạnh của ḿnh đă, dù yếu th́ yếu, nhưng chúng ta phải cố gắng để tự giải phóng.”

Câu phỏng vấn cuối cùng của đài VOA: “Trong các điều kiện đất nước c̣n bị đe dọa và đứng trước nguy cơ có thể mất thêm đất thêm biển, giữa lúc cái hố chia rẽ về ư thức hệ, về chính kiến giữa các tập thể người Việt c̣n rất sâu, hầu như không tài nào lấp được, liệu Giáo sư có hoài nghi, có ưu tư cho tiền đồ dân tộc? Giáo sư VQT trả lời “Bản tính của tôi lạc quan, thế nên tôi tin rằng tiền đồ của nước VN nó tươi sáng lắm. Nếu tôi hoài nghi những người lưu vong ở hải ngoại hay là những người cộng sản đang cầm quyền trong nước, th́ không bao giờ tôi đưa ra những chủ trương như chủ trương trung lập, người ta sẽ cho là tôi viển vông, không tưởng, nhưng chính v́ tôi tin tưởng ở tiền đồ của đất nước, tôi tin ở mệnh nước. Tôi tin rằng tương lai của VN, do thế địa lư và do ư chí của người dân Việt chúng ta ai nấy cũng đều yêu nước...Thế th́, nếu hoàn cảnh đất nước mà thuận lợi, th́ tôi tin rằng không thiếu ǵ những người sẽ trở lại quê hương, xây dựng lại đất nước, mà ngay những người trong nước lúc đó người ta sẽ nh́n rơ hơn, để hănh diện hơn về tương lai của dân tộc, người ta không an phận để chỉ thụ hưởng thôi, mà trái lại người ta sẽ t́m cách để xây dựng lại đất nước, để cho VN ngày mai đây cũng sẽ phú cường, hiện đại như các nước láng giềng ở ĐNÁ.”

 *

Giáo sư Vũ Quốc Thúc đă chứng kiến các bước thăng trầm của lịch sử, phục vụ đất nước từ thời Chính phủ Trần Trọng Kim 1945 cho đến ngày nay, nhờ đó ông tin tưởng ở mệnh nước và tiền đồ tươi sáng của đất nước. Cá nhân tôi, vào quân đội được phân công làm công tác nghiên cứu cuộc chiến VN, tôi cũng tin ở vận nước sẽ đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang. Năm 1987, đúng hai năm sau khi định cư ở Úc, tôi đă hoàn thành quyển nghiên cứu tổng kết cuộc chiến VN trong bối cảnh chiến tranh lạnh, tựa đề Việt Nam: Thắng và Bại, Mất và C̣n. Tôi tin tưởng: CSVN thắng, chủ nghĩa CS sẽ mất -thắng sẽ dẫn đến bại. Người Quốc gia bại nhưng lư tưởng đấu tranh của họ c̣n, sẽ giúp dân tộc hồi sinh.

Nh́n lại lịch sử, sau khi HK đă rút khỏi miền Nam VN, ngày 30/4/1975 bộ đội CS Bắc Việt tiến vào Dinh Độc Lập buộc những người yêu chuộng ḥa b́nh và ḥa giải ḥa hợp dân tộc phải đầu hàng. Bốn năm sau đó là các diễn tiến: CSVN đổi tên nước thành Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam và kư hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với LX; Hà Nội đưa quân sang Nam Vang lật đổ chế độ Pol Pot; Đặng Tiểu B́nh viếng thăm HK để b́nh thường hóa bang giao Mỹ-Trung, đồng thời kêu gọi Tây phương hợp tác với TQ thành lập liên minh chống bá quyền LX; Trung Cộng xua quân tấn công VN...Những sự kiện trên đă báo hiệu giai đoạn thoái trào của chủ nghĩa CS. Một thập niên sau, nó đă sụp đổ hoàn toàn, chủ nghĩa CS đă bại ngay tại quê hương của Marx và Lenin. Ngoài ra, CSVN c̣n mất niềm tin ở người đồng chí vĩ đại TQ, khi họ cho xuất bản tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” (10/1979) và ghi vào Hiến pháp 1980, coi bọn bá quyền TQ là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN. Đó là ư nghĩa của vế thứ nhứt -thắng, bại và mất, để thức tỉnh giới lănh đạo CSVN.

Vế thứ hai -bại và c̣n, tôi xin ghi lại cảm nghĩ của nhà văn Dương Thu Hương về ngày 30/4/1975: “Khi tham dự cuộc chiến chống Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến chống xâm lược...Nhưng sau khi vào Sài G̣n, th́ tôi biết rằng một cuộc chiến khác lại nẩy nở trong tôi. Lúc bấy giờ khi người khác vui sướng nhất th́ tôi hiểu rằng tôi hoàn toàn sai lạc. Theo tôi, đây là cuộc chiến tranh giữa hai phe và người VN đă chia ra thành hai đội quân đánh thuê cho hai phe và dù ǵ chăng nữa th́ cái mô h́nh xă hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô h́nh của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng th́ thực ra chúng tôi đă chiến đấu cho một mô h́nh xă hội man rợ. Gần đây nhất, trong bài viết “nh́n lại 31 năm trước” của Nguyễn khắc Toàn phổ biến trong nhiều website đă viết “Bi kịch lớn nhất của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc “chiến tranh huynh đệ tương tàn” đă tốn biết bao núi xương sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng, dân chủ tự do và một nền kinh tế thị trường đă từng tồn tại ở Miền Nam VN trước 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu tranh để được đi lại đúng con đường này”.

Lúc đầu tôi dự định đặt tên sách là “Quá khứ bi thảm, tương lai huy hoàng”, song tựa đề này có vẻ lạc quan, đầy ảo tưởng khi CSVN đă toàn thắng. Vả lại, từ quá khứ đến tương lai không đơn giản như khi rời khỏi đất nước là đă giă từ quá khứ bi thảm, đến được bến bờ tự do là bắt đầu tương lai huy hoàng. Đối với lịch sử dân tộc, đó là một đoạn đường dài. Trong giai đoạn chuyển tiếp, trước khi lịch sử lật sang trang mới vàng son, phải luận bàn về lẽ thắng bại, mất c̣n trước đă. Do đó ấn phẩm năm 1987 mang tựa đề Việt Nam: Thắng và Bại, Mất và C̣n. Tuy nhiên, tựa đề Mất và C̣n có thể khiến người đọc hiểu lầm, cho đây là lập luận của kẻ bại trận nay muốn phục thù. Đó không phải là ư định của tác giả, v́ thế tôi quyết định không phổ biến tác phẩm này. Sáu năm sau, quyển Việt Nam Thắng và Bại chính thức ra mắt độc giả năm 1993, nói lên quá khứ bi thảm của dân tộc. Ngày nay vận nước đă xoay chiều, có đủ dữ kiện cho thấy Việt Nam: Mất và C̣n, và tương lai huy hoàng của đất nước.

 *

Trước hết, tôi tŕnh bày sơ lược về mối bang giao Việt Nam-Trung Quốc. Trong 10 thế kỷ qua, tiền nhân ta đă giành được độc lập cho đất nước, đặt thủ đô ở Thăng Long. Trong thời gian dài đó, chủ quyền đất nước đă được minh định mỗi khi kẻ thù phương Bắc gây hấn...Như bốn câu thơ của Lư Thường Kiệt vang vọng trong đêm khuya trên sông Như Nguyệt (sông Cầu) năm 1077 làm kinh hồn giặc Tống:

“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư”.

(Nước Nam th́ vua nước Nam ở, điều đó đă được định rơ trong sổ Trời. Cớ sao nghịch tặc lại sang xâm chiến? Bọn bây sẽ thấy, phải chuốc lấy thất bại)

Hai thế kỷ sau, vị thế hai nước đă được phân định rơ ràng, nhưng Bắc phương lại gây sự, khiến Đại Việt phải ra quân “điếu phạt” như lời Nguyễn Trăi trong B́nh Ngô Đại Cáo:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước v́ đại nghĩa.

Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hóa đă lâu.

Non nước cơi bờ đă chia, phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Ngô Đinh Lư Trần, bao đời xây nền độc lập,

Cùng Hán Đường Tống Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương”.

Trong suốt thời kỳ tự chủ, nước Tàu không xâm chiếm được một tất đất nào của tổ tiên để lại. Chỉ có 4 lần chúng gây hấn, một phần do chính chúng ta cầu viện, nhưng đều bị quân dân Đại Việt đánh bại. Đến giữa thế kỷ 19, VN và Trung Hoa đều bị các cường quốc thực dân xâm chiếm. Ảnh hưởng phương Bắc suy tàn dần từ khi Pháp chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa và đặt ách bảo hộ ở Trung và Bắc Kỳ năm 1883. Triều đ́nh Măn Thanh nhân dịp đó cho quân tràn sang Bắc Kỳ phối hợp với quân triều đ́nh Huế đánh phá quân Pháp. Sự can thiệp của Tàu bị Pháp dẹp tan, đưa đến ḥa ước kư tại Thiên Tân ngày 11/5/1884 và ḥa ước Giáp thân ngày 6/6/1884: Trung Hoa thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở VN. Ảnh hưởng phong kiến Trung Hoa hoàn toàn chấm dứt tại VN năm 1884. Chiếc ấn mạ vàng của vua Càn Long gởi cho vua Gia Long năm 1803 đă bị hủy bỏ. VN sẽ độc lập hoàn toàn khi chủ nghĩa thực dân cáo chung.

Trong Thế chiến II, Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đă hợp tác với Tam cường Đồng minh (Anh Mỹ Nga) đánh bại Nhật. Phần đất Bắc vĩ tuyến 16 của VN nằm trong mặt trận Hoa Nam của Tưởng, nên khi quân TH vào giải giới Nhật, họ có ư muốn giúp những nhà cách mạng VN xây dựng chính quyền thân Trung Hoa. Giữa tháng 9/1945, 18 vạn quân Tưởng do Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy vào Hà Nội. Lúc bấy giờ ông HCM đă thành lập chính phủ lâm thời nên Tiêu Văn đề nghị ông HCM cải tổ chính phủ, dành nhiều bộ và chức vụ cho hai lực lượng cách mạng từ bên Tàu về là Việt Cách của Nguyễn Hải Thần và Việt Quốc của Nguyễn Tường Tam. Ngày 19/11/1945 ba lực lượng Việt Minh, Việt Cách và Việt Quốc đồng ư chấm dứt xung đột, thành lập chính phủ thống nhất quốc gia. Chính phủ liên hiệp ra đời ngày 2/3/1946. Trước đó, ngày 28/2/1946 Meyrier -Đại sứ Pháp và Tống Tử Văn đại diện TH kư hiệp ước Trùng Khánh: Pháp giao hoàn các lănh thổ TH mà triều đ́nh nhà Thanh đă nhường cho Pháp hồi thế kỷ trước. Đổi lại, quân Pháp sẽ thay thế quân TH ở bắc vĩ tuyến 16.

Đầu tháng 3/1946, đại diện Pháp là Sainteny đến Hà Nội thảo luận việc thay thế quân TH và tương lai chính trị VN. Hai bên đă kư Thỏa ước 6/3/1946: Pháp công nhận nước VNDCCH là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đầu tháng Sáu 1946, theo lời mời của chính phủ Pháp, ông HCM đến Paris để thảo luận tiếp việc trao trả độc lập và thống nhất VN. Cuộc đàm phán ở Fontainebleau diễn ra trong thời gian ba tháng, ông HCM về nước, sau đó phát động Toàn quốc kháng chiến chống Pháp (19/12/1946). Thất bại với ông HCM, Pháp thương lượng với cựu hoàng Bảo Đại, đưa đến Hiệp ước Elysée được Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol kư ngày 9/3/1949: Pháp chính thức công nhận VN là một quốc gia độc lập và thống nhất. Quốc gia VN chính thức ra đời ngày 1/7/1949, cùng thời điểm với Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện. Quốc gia VN độc lập thống nhất vừa ra đời, Mao Trạch Đông chiến thắng ở Hoa Lục, thành lập nước CHNDTH và ba tháng sau công nhận nước VNDCCH (18/1/1950). Bốn ngày sau, ông HCM đến Bắc Kinh xin viện trợ quân sự cho Việt Minh, Mao đồng ư đặt hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây thành hậu phương lớn yểm trợ CSVN.

Sách “Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc” do Mao viết năm 1939, được tái bản tháng 6/1949, có đoạn viết: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước Đế quốc đă cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận lănh thổ của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan...Anh chiếm Miến Điện, Butan, Nê-pan và Hương Cảng. Pháp chiếm An Nam...”. Nay mưu đồ của Mao giúp CSVN đánh Pháp là để thu hồi phần đất đă bị Pháp “chiếm mất” hồi thế kỷ trước. Sách “Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại”, xuất bản ở Bắc kinh năm 1954 có bản đồ vẽ lănh thổ TQ bao gồm cả nhiều nước chung quanh, kể cả ĐNÁ và vùng biển Đông. Đầu tháng 8/1958, BK đưa ra bản tuyên cáo lănh hải 12 hải lư với bản đồ đính kèm ghi nhận lănh hải TQ bao gồm biển Nam hải (biển Đông) trong đó có các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có một nước nào trong khu vực chấp nhận bản tuyên cáo của TC, chỉ trừ VNDCCH. Ngày 14/8/1958 TT Phạm Văn Đồng đă kư công hàm gởi TT Chu Ân Lai công nhận bản tuyên cáo lănh hải của TC với kỳ vọng, BK sẽ trả ơn, giúp Hà Nội “giải phóng” MNVN.

Ư đồ bành trướng của TQ đă lộ rơ trong câu nói của Mao Trạch Đông trong cuộc đàm phán với đại biểu Đảng Lao Động VN (tiền thân Đảng CSVN) ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Châu Á”. Tháng 9/1963 trong cuộc tiếp xúc với đại biểu bốn đảng cộng sản VN, TQ, Nam Dương và Lào tại Quảng Đông, TT Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi th́ lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng lao động VN mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á”.

Trước t́nh thế đó, từ đầu thập niên 1950, HK đă ủng hộ Pháp để ngăn chận TC tràn xuống ĐNÁ. Cuối tháng 4/1954, hội nghị Genève được triệu tập để kết thúc chiến tranh ĐD. Ngoại trưởng HK Foster Dulles coi chiến tranh ĐD làm nguy hại cho nền ḥa b́nh và an ninh của toàn vùng ĐNÁ và Tây bộ Thái B́nh Dương nên “cần phải chấm dứt mau lẹ nhưng với điều kiện là phải bảo đảm tự do và công lư cho tất cả các dân tộc ở khu vực này”. Dulles nhấn mạnh “Nếu Bắc Kinh mưu định giúp Việt Minh can thiệp vào chiến tranh ĐD làm cho hội nghị thất bại th́ TC sẽ nhận một lời cảnh cáo rất cương quyết của Hoa Kỳ”. V́ mưu đồ thu hồi các lănh thổ đă mất, TQ đă bị Mỹ phản ứng mạnh trong cuộc chiến Triều Tiên (1950-53). Rút kinh nhiệm đó, Bắc Kinh ép CSVN phải kư hiệp định Genève 1954. Từ tháng 5/1954 song song với những lời đe dọa dùng sức mạnh can thiệp để thúc đẩy cuộc đàm phán sớm kết thúc, Dulles chỉ chú tâm vào việc thành lập Minh ước Pḥng thủ ĐNÁ (SEATO). Ông nhấn mạnh: “ĐNÁ là vùng then chốt trong chiến lược của các cường quốc Tây phương…Trong trường hợp Pháp và TC đi đến một thỏa thuận chia cắt ĐD th́ Minh ước Pḥng thủ ĐNÁ sẽ được thành lập”. Dulles hy vọng tổ chức quân sự này sẽ ngăn chận được mưu đồ bành trướng của TC, bảo vệ ḥa b́nh và an ninh ở ĐNÁ, v́ mục tiêu của Mỹ là tránh tham chiến ở đây.

 Đầu năm 1965, MN tự do đứng bên vực của sự sụp đổ. V́ mục tiêu chiến lược ngăn chận TC, HK không c̣n sự lựa chọn nào khác, đành phải đưa quân vào MNVN, cách xa nước Mỹ nửa ṿng trái đất, để đương đầu với một địch thủ bất cân xứng về mọi mặt. Hiệu quả tức khắc là cuộc đảo chính của tướng Suharto ở Nam Dương, tiêu diệt nửa triệu đảng viên CS thân Mao. Từ đó, ṿng vây ngăn chận TQ tràn xuống ĐNÁ đă h́nh thành. Nhật, Mă Lai, Singapore, Úc và Tân Tân Tây Lan đều là thân hữu của Mỹ, các quốc gia c̣n lại được sự lănh đạo của các thống chế, tướng lănh thân Mỹ. Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Pak Chung Hee ở Đại Hàn, Ferdinand Marcos ở Phi Luật Tân, Suharto ở Nam Dương, Kittykachorn ở Thái Lan, Lon Nol ở Cam Bốt và Nguyễn Văn Thiệu ở Nam VN. Đối với VN, HK không dùng sức mạnh để tiêu diệt CS. Họ chỉ tạo điều kiện giúp nhân dân VN thoát khỏi chế độ độc tài CS bằng quyền tự quyết của người dân. HK không hành động đơn phương mà thương thảo với ba bên VN tại bàn đàm phán Paris, đồng thời từng bước rút hết quân Mỹ khỏi VN. Trong bối cảnh đó, TQ chỉ c̣n con đường phải nói chuyện và hợp tác với Mỹ. Tháng 2/1972, TT Nixon đến Bắc Kinh, được Mao tiếp đón nồng nhiệt. HK đă bắt nhịp cầu nói chuyện với hai đàn anh của CSVN để chấm dứt chiến tranh bằng một hiệp định ḥa b́nh không có kẻ thắng người bại, chỉ có nhân dân VN là kẻ chiến thắng duy nhất.

 Sau khi HĐ Paris 1973 ra đời, quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam VN, nơi đây sẽ thực hiện việc ḥa giải, ḥa hợp dân tộc, xây dựng thể chế dân chủ qua cuộc tuyển cử tự do để tiến đến thống nhất đất nước trong ḥa b́nh. HK chấm dứt chiến tranh, mở ra thời kỳ ḥa b́nh, hợp tác mọi bên đều có lợi, không riêng cho VN mà cả với hai thế lực lớn từng đối nghịch với ḿnh là LX và TC. Năm nước khối ASEAN lúc bấy giờ là Singapore, Mă Lai, Nam Dương, Thái Lan và Phi Luật Tân tuyên bố đi theo con đường trung lập, biến ĐNÁ thành “khu vực ḥa b́nh, tự do, trung lập, phồn vinh và ổn định”. Nhờ đó, trong nhiều thập niên qua, nhiều nước như Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore phát triển thành những con rồng kinh tế ở Á Châu. Riêng TQ, nhờ có Đặng Tiểu B́nh khôn ngoan, nương theo thế cờ của Mỹ, vừa giúp Mỹ (kết thúc chiến tranh lạnh) vừa nhờ Mỹ (canh tân, hiện đại hóa) mà TQ ngày nay trở thành cường quốc kinh tế, vượt qua Nhật, chỉ đứng sau HK.

Trong khi các nước Đông Á đều phát triển, c̣n VN từ sau 1980, bị sa lầy trong cuộc chiến ở Campuchia, bị quốc tế cấm vận, kinh tế kiệt quệ, chỗ dựa LX đă suy yếu. CSVN phải chủ trương đổi mới để sống c̣n. Năm 1990, CSVN xin nối lại bang giao với TC, theo gương Đặng Tiểu B́nh thực hiện kinh tế thị trường, định hướng xă hội chủ nghĩa. Hà Nội kỳ vọng tôn TC làm minh chủ, TC sẽ đối xử với VN trong t́nh đồng chí anh em. Nhưng nh́n lại cung cách đối xử của Bắc Kinh đối với Hà Nội trong 22 năm qua (1990-2012) cho thấy cách hành xử của họ cũng tương tự những ǵ mà tài liệu “Sự thật về quan hệ VN-TQ trong 30 năm qua” công bố năm 1979 đă ghi ở trang 109: “Phía Trung Quốc vẫn giữ thái độ nước lớn trong cuộc đàm phán về những vấn đề thuộc quan hệ giữa hai nước, vẫn ngang nhiên đe dọa cho VN một bài học nữa”. Điển h́nh là hai hiệp ước về biên giới trên bộ và trên biển kư kết hồi cuối năm 1999 và 2000, trong đó TQ đă giành được nhiều đất, nhiều biển so với các hiệp ước biên giới mà Pháp nhân danh VN kư với triều đ́nh Măn Thanh năm 1887. C̣n Trường Sa và Hoàng Sa th́ Bắc Kinh khẳng định thuộc chủ quyền của họ. Họ viện dẫn ngày 4/8/1958 khi TQ đưa ra bản tuyên cáo lănh hải 12 hải lư với bản đồ đính kèm ghi nhận lănh hải thuộc TQ bao gồm biển Nam hải trong đó có các đảo Tây Sa và Nam Sa. Ngày 14/8/1958 TT Phạm Văn Đồng kư văn thư gởi TT Chu Ân Lai, công nhận bản tuyên cáo lănh hải. Từ đó đến nay, phía VN chưa bao giờ phản đối văn kiện này. Như vậy VN đă công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai đảo Tây Sa (hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) thuộc TQ.

Từ đó, TQ vẽ ra bản đồ h́nh lưỡi ḅ, chiếm trọn 80% biển Đông và tuyên bố đây là vùng “quyền lợi cốt lơi của họ”. Mưu đồ của TQ là muốn chia đôi ảnh hưởng với HK trong khu vực Á châu/Thái b́nh Dương, sau khi đă hợp tác với Mỹ kết thúc chiến tranh lạnh. Tương tự LX đă chia đôi ảnh hưởng với HK ở châu Âu sau khi đánh bại Đức Quốc Xă, kết thúc Thế chiến II. HK không chấp nhận ư đồ này, họ quyết định trở lại Đông Á. Ngoại trưởng HK –bà Hillary Clinton tuyên bố: Mỹ chống lại bất cứ quốc gia nào xử dụng vũ lực ở Biển Đông, v́ lẽ HK cũng như các quốc gia khác có quyền lợi thiết yếu về tự do lưu thông trên các thủy lộ và tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển Đông. HK ủng hộ việc quốc tế hóa các tranh chấp về hải phận và ủng hộ các nước muốn giải quyết các tranh chấp bằng thương thuyết dựa trên cơ sở công ước của LHQ về luật biển. Nhớ lại, bốn thập niên trước, HK đă ngăn chận được mưu đồ bá quyền của TQ, tạo sự ổn định cho khu vực ĐNÁ để các nước trong vùng phát triển kinh tế phồn vinh. Ngày nay, biển Đông “dậy sóng” HK trở lại ĐNÁ kềm chế sự bành trướng của TQ bằng cách đưa nước này vào khuôn khổ “hợp tác quốc pḥng” giữa các thế lực lớn Nga, Ấn, Mỹ, Nhật và TC, để bảo vệ sự ổn định hầu giúp các nước Đông Á phát triển kinh tế vững mạnh trong thế kỷ 21.

 Trong các cường lực trên, đối với TC, chỉ có HK là không có tranh chấp về lănh thổ với họ. Từ mấy thập niên qua, HK đă giúp TC hiện đại hóa, nền kinh tế đă vững mạnh, không phải để chèn ép, ức hiếp các nước nhỏ mà là hợp tác với Mỹ viện trợ giúp các nước đang phát triển, không những về kinh tế mà cả dân chủ tự do. HK đă nuôi dưỡng TQ th́ họ cũng có thể làm TQ sụp đổ như Liên Bang Xô Viết hoặc Liên bang Nam Tư, nếu TQ tạo ra sự xung đột, căng thẳng trong khu vực, thách thức quyền lực của HK. Nửa thế kỷ trước, sau khi Stalin chết, lănh tụ Xô Viết Khruschev với chủ trương xét lại, chung sống ḥa b́nh với Mỹ đă xây dựng mối ḥa dịu Nga Mỹ để thi đua phát triển với Mỹ...Nhưng bị Brezhnev và Kosygin lật đổ, đưa LX trở lại t́nh trạng căng thẳng với HK qua cuộc chiến VN để bành trướng chủ nghĩa CS. Breznhev ra sức tăng cường sức mạnh quân sự để áp lực HK, vừa để củng cố khối CS. Hậu quả là LX kiệt quệ, lănh tụ Gorbachev phải đề ra kế hoạch glasnot (cải tổ) và perestroika (tái thiết) để cứu văn sự sống c̣n của LX. Kế hoạch cải cách của Gorbachev gặp sự chống đối của những thành viên cực đoan bảo thủ. Họ đảo chánh Gorbachev, ra lịnh KGB bao vây Quốc hội để triệt hạ các phần tử cải cách, nhưng người dân LX đă thức tỉnh, họ e ngại sự mù quáng của bọn lănh đạo cực đoan bảo thủ sẽ đưa đất nước vào con đường sai lầm cũ. KGB không đàn áp người dân ủng hộ phe cải cách, chế độ Sô viết phải sụp đổ.

Mới đây tại TQ, sau khi thủ tướng Ôn Gia Bảo báo động một thảm họa lịch sử như Cách mạng văn hóa có thể tái diễn, nếu cải cách chính trị không thực hiện song hành với cải cách kinh tế. Ngay sau đó Bạc Hy Lai, Bí thư thành ủy Trùng Khánh - một người luôn đề cao tư tưởng Mao, bị cách chức. Mao đă phát động cuộc Cách mạng văn hóa nhằm triệt hạ những lănh tụ đảng có tư tưởng hữu khuynh như Chủ tịch Nhà nước Lưu Thiếu Kỳ, Tổng bí thư Đảng Đặng Tiểu B́nh...Giới lănh đạo Bắc Kinh lo sợ tư tưởng tả khuynh của Mao tái sinh sẽ phá nát những thành tựu kinh tế, đưa TQ trở lại thời kỳ hỗn loạn 1966-1976. Để duy tŕ sự tồn tại và phát triển, TQ đành phải chịu sự điều động và hợp tác với Mỹ, nếu không sẽ tiêu vong như LX. Tướng Lưu Á Châu, thuộc một viện nghiên cứu chiến lược ở Bắc Kinh c̣n đề cao thể chế chính trị và chế độ liên bang của HK là mẫu mực lư tưởng.

Về phần VN, năm 1949 ông Hồ Chí Minh đă tự nguyện đến Bắc Kinh cầu viện Mao giúp CSVN đánh Pháp. Ông biết rơ Mao sẽ thôn tính VN và dùng VN làm bàn đạp tiến xuống ĐNÁ v́ ông ta cho đó là những nước phụ thuộc TQ đă bị bọn đế quốc xâm chiếm. HK không thể đồng t́nh trước tham vọng bành trướng của TQ. Sáu vạn thanh niên Mỹ đă hy sinh ở VN để ngăn chận mưu đồ bất chính này. HK đă đến VN không phải để giúp Tổng thống Thiệu hoặc để tiêu diệt CSVN mà chỉ v́ lợi ích của nhân dân. HK đă họp mặt với CSVN, Mặt trận Giải phóng MN và VNCH trong thời gian 5 năm tại Paris. HK đă đi t́m sự hợp tác với LX và TC để kết thúc chiến tranh VN. Điều 1 HĐ Paris 1973 đă ghi rơ: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lănh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đă công nhận”.

Ngoài mục tiêu dân chủ tự do, HĐ Paris 1973 c̣n hàm chứa nội dung trung lập, ḥa hợp và ḥa giải dân tộc. Các nước cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân VN là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Theo truyền thống, HK c̣n sử dụng sự phồn vinh của ḿnh để xây dựng lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, bao gồm cả những nước từng là kẻ thù của Mỹ.

HK đă hoàn tất vai tṛ của ḿnh. Bốn năm sau khi HK rút khỏi VN, năm 1979 Hà Nội công bố tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”. Qua văn kiện này cho thấy CSVN đă thấy rơ bộ mặt thật của đàn anh vĩ đại TQ. V́ vậy Tổng bí thư Lê Duẩn đă kư hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Breznhev. Tuy nhiên đây cũng không phải là một sự lựa chọn thích hợp. Từ năm 1989, các nước Đông Âu đều đ̣i ly khai khỏi quĩ đạo LX, khiến lănh tụ Xô viết Gorbachev phải tuyên bố công khai tại Helsinski ngày 25/10/1989: “Chủ thuyết Breznhev đă cáo chung, bất cứ quốc gia nào cũng có quyền quyết định vận mạng riêng của họ”.

Sau khi LX sụp đổ, CSVN quay về hợp tác toàn diện với TQ cũng là sự lựa chọn của các lănh tụ Đảng CSVN chớ không thể hiện quyền tự quyết của nhân dân VN. Nh́n lại các diễn tiến lịch sử, tôi tin tưởng ở vận nước đă được sắp bày hoàn toàn thuận lợi cho dân tộc. TQ không áp lực buộc VN phải theo họ, đó là do quyết định của các lănh tụ Đảng CSVN, th́ cũng chính họ phải quyết định “cắt đứt dây xích ràng buộc Đảng CS Việt Nam vào Đảng CS Trung Quốc. Đảng CSVN trước tiên phải trả lại quyền làm chủ thực sự cho nhân dân” như đề nghị của Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Giải pháp trung lập cũng là sự lựa chọn thích hợp cho hoàn cảnh đất nước, đáng lẽ đă được áp dụng từ lâu v́ đó là mục tiêu của HK và các cường quốc khác. VN chọn con đường trung lập sẽ hóa giải mọi hận thù và nghi kỵ với TQ và HK, cùng nhau xây dựng một khu vực Á Châu Thái B́nh Dương ḥa b́nh, thịnh vượng và phát triển. Đó là giải pháp thích hợp nhất cho VN và là con đường sống của dân tộc.

 Lê Quế Lâm

 

 

Home