HALLOWEEN
và câu
chuyện tôi đi hát cho đám ma
_____________________________________________________________________________________
Chân-Quê

Người dân nước Úc
không mừng Lễ Halloween như bên Mỹ, Mễ-Tây-Cơ và một số nước ở Âu-Châu.
Chúng tôi gửi bài viết này đến quư độc giả v́ có những chuyện thật liên quan
đến các bạn chúng tôi ở Sydney-Úc Châu.
Ngày Lễ Halloween
nguyên thủy đă có cách đây 2000 năm; do một giống người thượng-cổ tên là
“The Celts”. Họ sống ở một vùng miền bắc nước Pháp; ngày nay là nước
Ái-Nhĩ-Lan (Ireland) - Thuộc Liên-Hiệp-Anh (United Kingdom).
“Celts” mừng Tết đầu năm vào ngày 1, tháng
11 Dương-Lịch. Thời điểm này đánh dấu cuối mùa gặt hái. Bóng tối cùng sự
lạnh lẽo của mùa Đông bắt đầu bao trùm không-gian, vạn vật. Đồng thời nó
cũng liên-hệ đến sự chết chóc của loài người.
“Celts” tin tưởng rằng trong đêm trước
ngày đầu năm (tức là 31, tháng 10); những ngăn cách giữa thế-giới của sự
SỐNG và cái CHẾT bắt đầu mờ nhạt. Vào đêm này “Celts” làm Lễ mừng “Samhain”
– phát-âm là “Sow-in” - (tên của một vị Thần Chết-Chóc) v́ họ tin rằng trong
đêm ấy, những hồn ma sẽ trở lại trái đất. Đó là lư do gây ảnh-hưởng hư-hại
cho các mùa gặt hái của nông-dân. Tuy vậy, sự trở lại trái đất của những
âm-binh này lại giúp cho con người dễ bói toán về vận mệnh tương-lai; dễ
“cầu cơ” linh-ứng, giúp cho họ định hướng trong suốt mùa đông dài lạnh lẽo.
Đây là những điều “Mê-Tín, Dị-Đoan” của
giống người “Celts”.
Để tiến hành cho buổi Lễ mừng “Samhain” họ
đốt lửa thiêng và lấy các nông-sản cùng gia-súc mà Tế-Thần. Trong suốt đêm
này họ mặc đồ hóa-trang bằng da thú, mang mặt nạ h́nh thú vật, nhảy múa bên
đống lửa và xem bói cho nhau. Khi buổi Lễ chấm dứt họ bắt buộc phải đốt lại
ngọn lửa thiêng đă tàn; hầu mong hơi ấm của lửa sẽ giúp họ ấm-áp suốt mùa
đông buốt giá.
Vào năm 43(A.D) sau Công-Nguyên– (A.D tạm
dịch là kỷ-nguyên của Thiên-Chúa). Người La-Mă (Romans) đă thống-trị đa số
người “Celts” trong khoảng thời gian là 400 năm. Họ phối hợp hai buổi Lễ
nguyên-thủy của người La-Mă với ngày Lễ mừng “Samhain” của người “Celts.”:
* Buổi Lễ thứ nhất gọi là: “Feralia”; rơi
vào ngày cuối tháng 10. Nhằm tung hô, ca ngợi Thần CHẾT.
* Buổi lễ thứ hai nhằm vinh-danh Thần
Pomona (Thần Cây-Trái). Trái Táo (Apple) tượng trưng cho vị Thần này mà
chúng ta thường thấy biểu hiện ấy trong ngày Lễ Halloween bây giờ. C̣n trái
Bí đỏ (Pumkin) tượng trưng cho mùa màng.
Khoảng năm 800 Dương-Lịch; Ki-Tô-Giáo đă
bắt đầu bành trướng tại vùng của người “Celts”. Cho đến thế-kỷ thứ 17; Đức
Giáo-Hoàng Boniface Đệ Tứ (IV) đă chuẩn chọn ngày 1, tháng 11 Dương-Lịch
hàng năm làm ngày “All-hallows” hay c̣n gọi là: “All-hallowmas”. (lấy từ
tiếng Middle-English: “Alholowmesse), tức là Lễ Kính Các Thánh (All Saint’s
Day).

Người ta cũng tin tưởng rằng mục đích của
Đức Giáo-Hoàng mong muốn được thay thế ngày Lễ “Samhain” (thờ ma-quỷ) của
người thượng-cổ “Celts” vào đêm 31, tháng 10 thành ngày Lễ “All
hallows-eve.”; goi tắt là “Halloween”. Tức là ngày Lễ Vọng Các Thánh. (Chữ
“eve.” nói trên được dùng tương-tự như “Christmas-eve.” (Vọng Giáng-Sinh).
Vào năm 1000 Dương-Lịch; Giáo-Hội chọn
ngày 2, tháng 11 hàng năm là ngày Lễ Cầu Cho Các Đẳng Linh-Hồn “All Soul’s
Day”. Hiện tại các Nhà Thờ vẫn cử hành những ngày Lễ này.
Phong-tục “Trick or Treating” (đi gơ cửa
từng nhà xin kẹo bánh) đă có từ rất lâu trong ngày Lễ Cầu Cho Các Đẳng
Linh-Hồn “All Soul’s Day” tại Anh-Quốc trong các buổi diễn hành. Người ta
phân phát thức-ăn và một loại bánh gọi là “Soul Cakes” (Bánh Linh-Hồn) cho
những người xin ăn. Bánh này tượng trưng cho lời hứa là mọ́ người phải cầu
cho linh-hồn những thân-nhân quá-cố của họ.
Trong ngày Lễ thời bấy giờ người ta cũng
để thức ăn và rượu trước cửa nhà dường như để cúng cho các linh-hồn vất
vưởng; đói khát; không nơi nương tựa - “roaming-spirits”. Hầu mong các hồn
ma không vào quấy phá nhà họ. Để rồi thực tế th́ các trẻ con trong vùng đến
lấy về ăn hết. Tương tự như tục lệ “Cúng Cô Hồn” (Xá-Tội-Vong-Nhân) vào
ngày Rằm tháng Bảy Âm-Lịch của nước Việt-Nam ta.
V́ là ngày Lễ Cầu Cho Các Đẳng Linh-Hồn
“All Soul’s Day”, họ tin rằng các vong-linh, hồn ma sẽ trở về nên khi ra
đường họ phải hóa-trang, mang mặt nạ ma quái; nhờ vậy các hồn ma này không
thể nhận ra họ là người SỐNG mà lầm lẫn với các hồn ma khác của người đă
CHẾT.
Khi nói về Lễ Halloween; không thể không
nói đến mối liên-hệ giữa người SỐNG và người CHẾT.
Theo đạo Phật; có “Luân-Hồi”, có “Đầu
Thai” tùy thuộc lúc c̣n SỐNG; người thiện lành khi CHẾT đi, sẽ vào cơi
Niết-Bàn. Hoặc cũng tùy vào sự Tích-Đức-Tu-Thân trong kiếp làm người để được
đầu thai qua kiếp khác muôn vạn phần tốt đẹp hơn. Kẻ gian ác, hung tàn sẽ
sa ṿng Địa-Ngục có quỷ dữ cưa đầu, ḱm lưỡi. Có vạc dầu lửa bỏng thiêu đốt
nhục h́nh.
Theo đạo Chúa; khi con người CHẾT đi phần
xác từ cát bụi Thiên-Chúa tạo thành sẽ trở về với tro bụi. Nhưng linh-hồn
sẽ tồn tại măi và nước Trời sẽ dành cho những người tốt lành thánh-thiện.
Hỏa-ngục ở ngay cơi hiện-sinh nếu người với người đối xử độc ác, tham lam
hoặc gây khổ cho nhau.
Người vô-thần th́ cho rằng CHẾT là HẾT.
không c̣n ǵ cả: về xác; lẫn hồn.
Cá nhân chúng tôi đă cảm nhận được rất rơ
sự huyền-diệu, linh-thiêng của người quá-cố qua câu chuyện thật sau đây:
Vào trung tuần tháng 9, 2008 vừa qua. Tôi
trở lại California sau một cuộc hành tŕnh dài làm Từ-Thiện; chia xẻ
t́nh-thương đến những người khó nghèo, tất bạt tại Việt-Nam. Chưa kịp quen
lại giờ giấc th́ chúng tôi nhận hung tin một người em bạn vừa từ trần tại
Sydney (Úc Châu). Đây là một người mà chúng tôi vô cùng yêu thương, kính
trọng và quư mến. Xin nói sơ qua về người đă quá-văng:
Quê chàng (người CHẾT) ở tận miền Trung,
vùng Quảng-Tín. Thuở lên sáu, trong một ngày mưa dầm dề trên con đường
làng lầy lội; Chàng được thân-phụ chở trên một chiếc xe đạp thô-sơ, gặp “ổ
gà” hất chàng té xuống đường; đá nhọn đâm xuyên qua lưng. Máu chàng nḥa
trong mưa và nước mắt lẫn bùn lầy; v́ quá kinh hoảng người Cha vội bế xốc
con lên đem vào nhà thương cứu chữa, nên sau này phần xương lưng bị nhô ra ở
ngực biến chàng thành dị tật. Người chàng nhỏ bé; chỉ đứng dưới tầm vai của
tôi (mà tôi th́ không được cao lắm!)
Lúc lớn lên, gia-đ́nh chàng di-cư về sống
ở Bà-Rịa (Vũng-Tàu); người anh ruột của chàng là bạn cùng lớp thời Trung-Học
với phu-quân tôi. Sau biến cố 1975; chồng tôi t́m đường vượt biên, khi rủ
các bạn cùng lớp chẳng ai dám đi cùng. Chỉ có chàng, người nhỏ bé nhất mà
lại can-đảm nhất nhận lời. Sau đó hai anh-em vượt đường bộ lên Pleiku định
xuyên rừng, băng suối trốn qua Cam-Bốt. Đến đêm ngày thứ ba, mệt lả người.
V́ có mang theo hai chiếc vơng nên mắc tạm trên cây ngủ trong rừng chờ hừng
sáng sẽ t́m đường đi tiếp. Khoảng 3 giờ khuya; cả hai đều mang cái cảm giác
có người vỗ vai, th́ thầm: “Về đi! Về nhà đi! Nguy hiểm lắm…” Sương khuya
đổ xuống rợn gai ốc và khi trời tờ mờ sáng, hai anh em mới biết ra là ḿnh
nằm trong một khu nghĩa-trang đầy mồ mả; có những ngôi mộ dường như vừa mới
lấp ngày hôm trước đó. Nh́n xa xa, thấy những đoàn xe Bộ-Đội trang bị súng
ống dường như đang định tấn công qua Cam-Bốt. Nếu đêm qua cả hai không nghỉ
lại mà vượt biên giới, chắc chắn sẽ bị Bộ-Đội bắn chết. Sau đó hai anh-em
t́m đường quay trở lại; không c̣n một đồng teng dính túi. May sao khi đến
đầu chợ Pleiku, có một bà cụ đon đả hỏi: “Hai cậu bé có ǵ bán cho Bà không?
Bà mua cho”. Chỉ c̣n hai chiếc vơng v́ tất cả lương khô, đồ dùng mang theo
hai người đă chôn dấu trong rừng, sợ khi t́m đường về sẽ bị phát giác là kẻ
vượt-biên. Lạ thay! Số tiền bà cụ mua hai chiếc vơng vừa vặn cho hai chiếc
vé xe đ̣ đi về thành-phố. (???)
Những ngày tháng sau đó, phu-quân tôi và
các bạn học sống chung một căn nhà; suốt ngày bàn tính kế-hoạch “kháng-chiến”.
Trong khi một tay chàng (cậu bé tật nguyền); sáng sớm theo chị ra chợ bán
hàng; chiều về mang gạo, thức-ăn, trái cây nuôi những ông anh sức dài, vai
rộng, chẳng làm ăn ǵ cả v́ đang chăm lo việc “quốc-gia; đại-sự”. Tôi c̣n
được nghe kể; chàng có nuôi một con gà để đẻ trứng ăn; vậy mà mấy ông anh nỡ
ḷng giết gà ăn thịt; khi biết ra chàng cũng không giận dữ, chỉ cười và cười,
không trách cứ ai…
Đến năm 1978, chồng tôi lại tự đóng tàu,
làm Thuyền-Trưởng, vượt biển t́m tự-do, lần này có người anh ruột và các bạn
cùng đi; trong đó có chàng được luôn luôn sát cánh bên chồng tôi; không
ngoài mục-đích sang ngoại-quốc v́ ước muốn được chữa lành dị-tật. Chuyến
vượt biển thành-công dù trải qua biết bao gian khổ, đoạn trường.
Chàng qua Úc định cư, lúc đầu ở Melbourne,
sau lên Sydney. Rồi chàng lập gia-đ́nh và có một hoàng-tử vô cùng kháu
khỉnh, khuôn mặt cậu bé đẹp như Thiên-Thần. Trong khi đó th́ phu-quân tôi
được bảo lănh đi Mỹ.
Tôi gặp chàng vào năm 2005 khi chúng tôi
về Úc nghỉ hè. Lần đầu gặp nhau trong một buổi tiệc mừng họp mặt các bạn
vượt biển cùng tàu của chồng tôi; chúng tôi cùng đàn hát đến khuya. Chàng
rất mê ca-nhạc và khoe với tôi là có hai cây guitar thùng rất “chiến”, chàng
hát hồn nhiên, lúc nào cũng tự tin, lạc quan, yêu đời. Những năm gặp chàng
sau đó tôi hát và đàn guitar cho chàng nghe như hai người bạn tri-kỷ. Tôi
cũng vô cùng xúc động khi biết ra chàng không chịu lănh trợ cấp của
Chính-Phủ, (v́ chàng dư tiêu-chuẩn trong điều kiện dị-tật) chàng đi làm suốt
cho đến ngày vào nhập viện v́ không c̣n sức để thở, (do tai-nạn năm xưa, khi
lớn lên phổi chàng quá bé, lúc nào cũng phải mang theo máy dưỡng-khí bên
người).
Lần cuối gặp chàng trong một bệnh-viện ở
Sydney là tháng 7 vừa qua (2008); chàng vẫn cười vui, thanh-thản, nói chuyện
tiếu-lâm, không than van đau đớn ǵ cả; chàng c̣n hứa sẽ hát cho chúng tôi
nghe những t́nh khúc bất tử khi chàng khỏe lại.
Nhận tin chàng: “Bùi Thanh Duy, tên thường
gọi là: Sáu-Thúy; tạ-thế ngày 15, tháng 9, 2008. Hưởng dương 48 tuổi”; từ
email của người bạn gửi qua sáng sớm thứ hai. Thường th́ chồng tôi không bao
giờ “check email” vào ngày đầu tuần v́ công việc rất nhiều ở sở; chẳng hiểu
v́ cớ ǵ hôm ấy anh lại mở email chỉ đúng 17 phút sau khi anh Quốc-Thái
(một người bạn thân) gửi qua từ Úc. Bàng hoàng, nghẹn ngào hay tin, tôi vội
gọi điện thoại để mua hai vé máy bay về Úc. Không thể chắc được là có vé đi
liền và sẽ rất đắt (ít nhất cũng phải hơn năm ngh́n đô cho cả hai). Vậy mà
khi được vé trong tay, đi ngay trong đêm ấy chỉ với giá 1,068 đô cho một
vé. Cũng từ giây phút đó, những chuyện diệu-kỳ bắt đầu xảy đến với chúng
tôi…
Trên đường gần đến cổng phi-trường LAX,
chỉ c̣n hơn một tiếng tới giờ bay. Trước khi chạy vào đường hầm; xe kẹt chỉ
nhích độ 5miles/ một giờ; nối đuôi nhau dậm chân tại chỗ. Chồng tôi luôn
miệng bảo: “chỉ có con đường này đi nhanh nhất thôi!” Tôi sốt ruột rồi bỗng
như nghe tiếng ai th́ thầm “Đi đường khác đi chị!” Đậu chờ độ hơn mười
phút, tôi quyết-định đổi ư không đi vào đường hầm, bấm vội bản đồ (máy GPS)
chỉ đường khác vào phi-trường, nhờ vậy mà chúng tôi không trễ chuyến bay v́
sau đó biết ra do một sự cố quan-trọng, cảnh-sát tràn đầy khu vực cấm xe đi
vào, đến hơn hai tiếng sau mới giải tỏa giao-thông.
Tôi trao ch́a khóa xe lại cho người
nhân-viên làm việc của chồng tôi rồi kéo va-li chạy hộc-tốc vào quầy vé. V́
là “Electronic Ticket” nên thường khi chúng tôi phải tự bấm máy “Computer”
để lấy “boarding-pass”. Lạ thay, có người của hăng máy bay ngoắc chúng tôi
lại. Câu đầu tiên bằng ngoại-ngữ ông ta hỏi: “Quư khách đi đâu mà vội vàng
thế?” Chúng tôi vừa thở, vừa nói: “Sydney, Australia”. Ông ta vui vẻ cười
bảo: “C̣n kịp mà. Không sao đâu”; rồi tôi bỗng rợn gai ốc khi ông ta tiếp
lời: “LIFE is too short!” Hàm ư là “Có ǵ đâu mà vội v́ cuộc SỐNG ngắn
ngủi lắm!” Trong lúc làm thủ-tục để xếp chỗ cho chúng tôi; ông nói: “Chà!
Tiếc quá, chỉ c̣n hai chỗ mà bà th́ ngồi đầu này; ông phải ngồi góc kia.”
Chồng tôi bảo: “ Miễn sao chúng tôi có chỗ bay gấp về để dự đám tang người
em bạn là được rồi!” Ông ta ngập ngừng “À! Thế sao?”… Bấm máy một hồi lâu
ông bảo chúng tôi cho hành-lư lên cân và đưa ra hai “boarding-pass”. Ông
dặn ḍ: “Có hai chỗ rất tốt cho vợ-chồng ngồi gần nhau rồi! Vợ tựa cửa sổ
để nghỉ ngơi và anh sẽ dựa vai vợ mà ngủ nhé! Chúc quư khách đi b́nh-an”.
Ông ta c̣n bắt tay chồng tôi và nói them một câu tiếng Việt “Cảm-Ơn nhiều
lắm!” trước sự ngạc nhiên của chúng tôi.
Trên đường đi vào cổng máy bay, sau khi
làm xong thủ-tục “Check point”; tôi đề-nghị với chồng là tại sao ḿnh không
đóng thêm 750US/cho một vé để lên hạng ghế “Economy-Plus” ngồi cho nó rộng
răi một chút v́ hơn 14 tiếng đường chim bay lận. Chồng tôi biết trước đây
trong những chuyến bay đi nước ngoài tôi thường ngồi ghế “Business hoặc
First-class”; tệ lắm là “Deluxe”. Nên anh bảo: “Thôi! Chịu khó đi em, ḿnh
đi dự đám ma mà!”. Tôi nghe vậy cũng hài ḷng song bước với anh. Khi ngồi
vào ghế trong ḷng máy bay. Anh bỗng ngạc nhiên hỏi tôi: “Ủa? Sao cái ghế
của tụi ḿnh rộng răi quá vậy nè?” Hóa ra chúng tôi đă được xếp ngồi vào
ghế “Economy- Plus” mà không phải đóng thêm một đồng nào (???) Chúng tôi
thích-thú và tin chắc rằng Thanh-Duy (người CHẾT) đă “làm phép lạ” để
ngạc-nhiên chúng tôi.
Máy bay đáp xuống phi-trường Sydney độ
6giờ sáng; anh ruột của chàng và Q. Thái ra đón; mọi người đều kinh-ngạc
là chúng tôi có thể bay được cấp tốc từ Mỹ qua nhanh như thế. Tôi thầm
nghĩ: “chắc chắn là Thanh-Duy (người CHẾT) thu xếp đây!”
Họ đưa chúng tôi về nhà vợ chồng một người
bạn chờ đến buổi trưa phải đi tới nhà Quàn; đây là một dịch-vụ mai táng do
người Việt làm chủ, nằm ngay trong khu phố đông dân-cư Việt-Nam. Chiều hôm
ấy là buổi Lễ Phát Tang do một vị Thượng-Tọa chủ tŕ. Thường th́ tôi thấy
không-gian trong các nhà Quàn thâm-u, lạnh lẽo. Không hiểu sao hôm ấy ấm
cúng lạ thường; giữa khói nhang trầm nghi ngút và tiếng kinh cầu tôi cảm như
có mùi hương thơm rất lạ…
Chồng tôi thấy có đầy đủ tất cả các bạn đi
cùng tàu vượt biển năm xưa; mọi người tay bắt mặt mừng sau bao năm trời gặp
lại. Rồi đứng chung quanh quan-tài chàng mà tưởng-niệm. Chàng nằm đó hai
tay chắp lên ngực, thanh thản im ĺm như đang ngủ rất say.
“Phép lạ” xảy ra khi mọi người thấy
phu-quân tôi làm ḥa lại với người anh ruột (sau bảy năm trời giận hờn không
liên lạc nhau v́ những chuyện đáng tiếc trong quá khứ! - anh là một
Đại-Thương-Gia ở Melbourne cũng vừa bay qua Sydney ngày hôm trước). Ông anh
chồng tôi tướng người cao lớn; hiên-ngang y như tính-t́nh của anh. H́nh như
anh không ngại mất ḷng ai khi trực-diện vấn-đề, dám nói thẳng sự thật. Vậy
mà tôi thấy anh khóc như trẻ thơ khi đứng bên quan-tài chàng; anh nâng-niu
đôi bàn tay chàng băng giá; anh và chồng tôi cùng các bạn đứng trước di-ảnh
chàng tâm-sự vắn dài trong những ngày giờ cuối tiễn đưa.
Sau buổi Lễ Phát Tang th́ quan-tài bắt
buộc phải đóng lại; không được mở ra nữa để đợi hôm sau làm Lễ Di-Quan đến
nghĩa-trang. Bỗng có anh Nhường, một người bạn thân của chàng vừa từ
Brisbane (Queensland) bay xuống trễ; đây cũng là người “tài-công” (chung
chuyến tàu năm xưa của chồng tôi). Anh vô cùng đau khổ v́ không được nh́n
mặt chàng lần cuối; mọi người năn nỉ ông quản-lư nhà Quàn mở nắp quan tài
ra; nhưng ông không dám; bảo là phải liên lạc xin phép Ḥa-Thượng đọc “niệm
chú” sao đó… Chúng tôi thấy ông nỗ lực gọi điện thoại suốt hơn hai mươi
phút mà vẫn không liên lạc được. Chồng tôi bỗng lâm râm khấn nguyện: “
Sáu-Thúy oi! Nếu em có linh-thiêng th́ cho các anh nh́n thấy mặt em lần nữa
đi!” Liền tức th́; ông quản-lư nhà Quàn vừa đi đến quan-tài vừa nói: “Tôi
không cách nào liên lạc được với Ḥa-Thượng, đành phải phá lệ mở nắp
quan-tài ra; đây là một điều cấm kỵ của thủ-tục tang lễ. Thôi vậy chứ biết
sao; để cho anh-em c̣n nh́n mặt nhau lần cuối chứ!” Chúng tôi rối rít
cảm-ơn ông; không khí bỗng trở nên vui tươi v́ mọi người nói cười với chàng
(người CHẾT) khi nhắc lại những kỷ-niệm từ bên Việt-Nam đến khi vượt biển
rồi qua Úc.
Tôi cũng nói đùa: “Ở bên Việt-Nam bây giờ
có phong trào ca-sĩ đi hát show cho đám ma; có cả ban nhạc đàn, trống như
trong pḥng trà vậy. Đây là những ca-nhạc-sĩ chuyên-nghiệp v́ họ hát rất
hay chứ không phải hát dở đâu!” Không ngờ câu nói giỡn của tôi thật
linh-ứng v́ sáng hôm sau (ngày Di-Quan); vừa bước vào nhà Quàn tôi gặp ngay
Phiến-Đan; (cô bạn gái mà tôi đă đùng đùng nổi giận hồi trước v́ không đồng
quan-điểm trong phương cách “Chống Cộng” , tưởng rằng không ǵ hàn gắn lại
t́nh bạn đă rạn nứt) không ngờ cô chạy đến ôm chầm lấy tôi, rồi nói với tôi
rằng: “Đời người ngắn ngủi quá, thôi bỏ hết giận hờn đi nhe!”… Tôi ứa nước
mắt và xin-lỗi bạn hiền. Sau đó chúng tôi nhận thấy bao nhiêu là t́nh bạn
được nối kết lại trong ngày tiễn đưa chàng về cơi vĩnh-hằng. Như lời một
ông anh nói với chúng tôi sau đó: “người CHẾT thật linh-thiêng v́ anh là
một chất keo gắn bó lại những t́nh gia-đ́nh, t́nh bạn đổ vỡ”. Tôi giật ḿnh
khi nhận ra chàng đang tiếp tục “làm phép lạ”…
Thế rồi bất ngờ buổi tiễn đưa hôm ấy bỗng
biến thành một buổi nhạc Thính-Pḥng thật ấm cúng thân t́nh; tôi bỗng dưng
chính-thức là một Ca-Sĩ hát và đàn cho đám ma (điều mà tôi đă trêu đùa trước
đó!) có cả tiếng đệm Keysboard của chồng tôi và anh Thịnh (là tay đánh Bass
chuyên-nghiệp cho các pḥng trà ở Sydney). Cô bạn gái tôi làm M.C, giới
thiệu phu-quân tôi với tư-cách là một Thuyền-Trưởng; một người anh tinh-thần
của chàng, lên chia xẻ những kỷ niệm buồn vui.
Tôi nâng niu ôm cây guitar thùng yêu quư
mà chàng đă khoe với tôi lúc sinh thời. Trước khi hát; tôi nói với mọi
người: “Các anh-chị thấy là cái xác chàng nằm kia chút nữa sẽ đem hỏa táng
để trở về tro bụi; nó không c̣n ǵ nữa v́ hồn chàng đă ĺa khỏi xác; dường
như linh-hồn ấy đă nhập vào di-ảnh này. V́ tôi chưa thấy một bức h́nh nào
lại tươi như thế; đôi mắt biết cười, đôi môi cùng khuôn mặt rạng rỡ. Chàng
đă từ giă cơi đời ô-trọc này; chàng rất vui khi được bay về cơi vĩnh-hằng.
Người ta thường nói SỐNG là người; CHẾT là ma. Tôi không tin như vậy v́ tôi
biết chắc chắn chàng đă trở thành Thiên-Thần; v́ cả một đời chàng là những
chuỗi ngày sống tốt lành, nhân-hậu. Tôi nghe nói hôm cuối cùng trong
bệnh-viện chàng vẫn đem cho tiền một cơ-quan từ-thiện. Thiên-Thần mới có
thể làm phép lạ, như chàng đă và đang làm cho chúng tôi đây…”
Sau đó tôi đến cạnh di-ảnh để hát cho
chàng nghe một liên-khúc:
“… Hạt bụi nào hóa kiếp thân anh; để một
mai anh về làm cát bụi; ôi cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong
chơi…Nắng có hồng bằng đôi môi anh; mưa có buồn bằng đôi mắt anh… Từ lúc đưa
anh về là biết xa ngh́n trùng…” Và rồi tôi ôm lấy quan-tài chàng mà khóc
ngất.
Sau đó, thân bằng quyến thuộc cùng uống
với chàng một ly rượu cuối cùng tiễn đưa (chai rượu đỏ do ông anh chồng tôi
đem đến cúng). Lễ Di-Quan được cử hành trọng thể; vị Ḥa-Thượng và Ban
Hộ-Niệm tụng kinh dẫn đầu, theo sau là cậu bé con trai chàng cầm di-ảnh Bố
đi bên Mẹ với gia-đ́nh anh-chị em bằng hữu; những vành khăn tang trắng trên
đầu; những ṿng hoa tươi quấn quưt theo chàng, xe tang ghé qua hai căn nhà
chàng đă cư-ngụ lúc sinh thời. Hàng cây dừa do chính tay chàng vun trồng
cao ngun ngút dường như đang nghiêng ḿnh theo gió vẫy tiễn đưa. Hơi ấm mùa
Xuân Sydney mơn man ve vuốt trên từng nhánh cây ngọn cỏ vĩnh biệt chàng.
Trước khi rời nghĩa-trang, chúng tôi đến
dặn ḍ con trai chàng. “Rằng: Cha con đă sống hết một đời gương mẫu, ǵờ Cha
đă ra đi, con ráng ngoan ngoăn với Mẹ, nhớ nghe lời các Bác, các D́, học
giỏi và sống tốt lành để nên người ích quốc, lợi dân con nhé!” Cậu bé tṛn
xoe mắt lắng tai nghe và cúi đầu dạ nhỏ. Đi ra chỗ đậu xe, có chiếc lá vàng
bỗng rơi nhẹ trên vai, tôi mở rộng ḷng bàn tay đón lấy và cảm như có tiếng
thở dài lung linh trong nắng ấm.
Sáng sớm hôm sau phải bay về Trang-Trại
của chúng tôi ở Brisbane (Queensland) cùng với người bạn “tài-công”; anh
cũng là một trong những người Việt-Nam đầu tiên về vùng này làm nông trại.
trên đường ra phi-trường chồng tôi bảo: “Lúc sinh thời, Sáu-Thúy hay đùa lắm,
không chừng anh chàng không muốn chúng ta rời Sydney đâu!” Liền ngay lúc đó
có điện thoại của phu-nhân anh “tài-công” gọi vào máy của người bạn (là
người lái xe đưa chúng tôi ra phi-trường), xin được nói chuyện với chồng,
chị nói rằng đúng chính xác 3 giờ sáng (không hơn, không kém) có người gửi
tin nhắn (Text) vào điện thoại cầm tay của chị bảo rằng chúng tôi c̣n bận
với đám ma nên chưa thể về lại Trang-Trại hôm nay. Chồng chị la lớn: “Đâu
có, tụi anh đang trên đường ra phi-trường đây mà.” Chị cũng cho biết đă cố
gắng gọi lại số điện thoại đó nhiều lần mà không ai nhấc máy cả; mà anh th́
không mang điện thoại cầm tay của anh theo, rồi chị c̣n hỏi “ai mà phá
kỳ-cục vậy?” Tôi mỉm cười biết ngay đó là Thanh-Duy (người CHẾT!). Tôi bảo:
“3giờ sáng là giờ Chúa chết, linh lắm…” rồi tôi lâm râm đọc kinh cầu
nguyện cho linh-hồn chàng trong khi mọi người trên xe đều nhíu mày suy nghĩ
(???)
Khi về đến Trang Trại, trong bữa cơm tối,
anh chồng mới chỉ vào cái ghế tôi đang ngồi mà kể rằng: “Thật là lạ lùng,
hôm trước chuẩn bị ra phi trường xuống Sydney đi đám ma, tự dưng tôi thấy
cái áo của Sáu-Thúy tặng tôi cách đây mười lăm năm treo trên cái ghế này”
Rồi anh quay vào nhà bếp hỏi vợ: “Cái áo đó đâu rồi em?” Cô vợ nói: “Em
thấy nó rách ở lưng nên đem bỏ thùng rác rồi!”…. Câu chuyện tưởng chỉ có
thế, nào ngờ sáng hôm sau trong bữa điểm tâm anh chồng hớt hơ, hớt hải chạy
ra pḥng ăn, tay cầm chiếc áo miệng lắp bắp nói không nên lời: “Trời đất ơi!
Nó đây nè!” Chiếc áo nghĩa-t́nh ấy đă được một bàn tay vô h́nh giặt sạch sẽ,
thơm tho và nằm ngay ngắn trong pḥng anh!” (???) Không thể tưởng tượng
được, chị vợ nghe xong tái xanh mặt mày v́ sợ. Phu-quân tôi cười trong khi
tôi quấn lấy chiếc áo ôm trọn trong ṿng tay và xin được giữ làm kỷ-niệm.
Người CHẾT lại tiếp
tục “làm phép lạ” trong hôm rời nước Úc bay về Mỹ: khi ra đến phi-trường,
tôi không có ǵ đ̣i hỏi, thắc-mắc về chỗ ngồi trên máy bay v́ nghĩ rằng
hạnh-phúc quá đủ khi được tiễn đưa chàng về bên kia thế-giới; thực hiện được
câu “Nghĩa Tử Là Nghĩa Tận”, nhất là gặp lại bạn bè, anh-chị em gia-đ́nh đă
hết giận, thôi hờn. Về phần chàng, giờ chắc cũng mỉm cười nơi chín suối.
Đến quầy lấy vé chúng tôi không phải xếp hàng chờ đợi, không phải tự dùng
máy “Computer” làm thủ-tục “check-in”, cũng có một nhân-viên người Úc ngồi
ở quầy ngoắc tay gọi chúng tôi đến. Đưa “Passports” xong ông ta bấm máy rất
lâu và bảo rằng xin chờ đợi v́ máy trở ngại, đứng một hồi tôi để ư bảng tên
ông là “Nick”; chồng tôi bảo nhỏ: “Nick là chữ viết tắt tên của ông Thánh
Nicholas; mà Thánh Nicholas là Ông Già Noel”. Tôi nh́n kỹ khuôn mặt đôn-hậu
nghiêm-trang của ông với hàm râu trắng như tuyết, tôi bỗng nói với chồng
tôi là xin ông lấy cho cái ghế “Economy” ngồi ở ngoài để tôi có thể đi tới,
đi lui trong máy bay cho dễ, không phải đánh thức người khác dậy trong đêm
khuya. Chồng tôi chuyển lời lại, ông ta không nói ǵ cả v́ vé đang in ra.
Sau đó ông chậm răi bảo chúng tôi để hành-lư lên cân; giọng ông run run nói
bằng tiếng Anh: “Rất tiếc là hai ghế đă được sắp xếp. Nhưng mà chỗ ngồi này
sẽ rất thoải-mái cho ông-bà. Xin chúc quư khách thượng lộ b́nh-an.” Chúng
tôi cảm-ơn ông và quay ra đi lên cổng.
Chồng tôi chợt nh́n
vào vé “boarding-pass”, anh sững sờ khi có đóng dấu là “Business-Class”; tôi
cũng đứng chết trân và hoàn toàn không tin vào đôi mắt ḿnh. Tôi lắc đầu
buột miệng bằng tiếng Mỹ: “No way! No way!” (Không thể nào như thế được).
Cho đến lúc vợ chồng chúng tôi vừa ngồi vào ghế máy bay, người tiếp viên
hàng-không ân cần, niềm nở mang nước cam tươi đến ngay, tôi mới nhớ ra là
ḿnh đang khát khô cả cổ. Máy bay cất cánh tôi ngả ghế ra nằm thẳng như
trên giường, dưới lưng lại có máy đấm bóp. Lúc bấy giờ tôi mới tin là chàng
hóa phép như một quà tặng lần nữa cho chúng tôi. Chồng tôi nói đùa: “ Sáu
Thúy trả tiền show đi hát đám ma cho em đó!”
Tôi thấy ḿnh lâng
lâng bay bổng như nhân-vật sống trong các câu truyện thần-thoại, cổ tích
hoang-đường. Tôi nhớ có người bảo rằng những người SỐNG tốt lành khi CHẾT
đi họ rất linh-thiêng, dường như họ được Thượng-Đế cho quyền năng ban xuống
trần-gian những phép nhiệm màu. Chỉ lạ một điều là tôi không hề tham-lam
xin xỏ th́ chàng (người CHẾT) lại cho. Chồng tôi th́ nói anh rất an-tâm khi
nghĩ về cơi vĩnh-hằng, (nơi Thanh-Duy đang ở) điểm cuối cùng mà tất cả mọi
người chúng ta bắt buộc phải đến.
Về lại California
đúng mùa Lễ Halloween, tôi phải viết lại câu chuyện thật này v́ chúng tôi
muốn là chứng-nhân cho sự liên hệ giữa người SỐNG và người đă CHẾT. Không
phải CHẾT là HẾT như suy nghĩ của những người vô-thần, vô tôn-giáo. Tôi
cũng cảm nghiệm ra rằng “Cầu Nguyện” với ḷng thành vô-vị-lợi sẽ t́m được
Sung-túc, An lành. Tha-thứ không oán thù sẽ cởi bỏ những Oan-khiên Hệ-lụy
buộc ràng. Cầm giữ Ích-kỷ cho riêng ḿnh sẽ bị lấy Mất và Cho đi không
chừng mực th́ sẽ được Tặng lại vô biên./.
Chân-Quê
(California-Mùa
Lễ Halloween 2008).

 |