Tôi
là người không có khiếu về nhạc. Một mớ nhạc lư bị nhồi nhét vào đầu
thời trung học và học lóm từ bạn bè chỉ vừa đủ để tôi có thể xướng
âm và hát u ơ vào câu cho vui. Trừ thánh ca là loại nhạc mà tôi
thường xuyên hát trong nhà thờ và hát với tất cả tâm t́nh, tôi chẳng
thuộc được một bài t́nh ca nào cho trọn. Có cố gắng cách mấy, tôi
cũng chỉ nhớ được một câu đầu hoặc một vài câu tâm đắc. Sở thích âm
nhạc của tôi cũng lên xuống theo tuổi tác và thời kỳ.
Vào tuổi thanh niên, dĩ nhiên,
tôi thích hát nhạc t́nh, bất kể là t́nh ca nhạc trẻ hay nhạc “sến”.
Ở cái tuổi ṃ mẫm đi t́m một lư tưởng, tôi cũng đă say mê ca khúc
của Lê Hựu Hà: “Tôi muốn ḿnh t́m đến thiên
nhiên,
Tôi
muốn sống như loài hoa hiền.
Tôi
muốn làm một thứ cỏ cây.
Vui
trong gió và không ưu phiền.
Tôi
muốn mọi người biết thương nhau.
Không
oán ghét không gây hận sầu.
Tôi
muốn đời hết nghĩa thương đau.
Tôi
muốn thấy t́nh yêu ban đầu...
Tôi
muốn thành loài thú đi hoang.
Tôi
muốn sống như loài chim ngàn.
Tôi
muốn cười vào những khoe khoang.
Tôi
muốn khóc thương đời điêu tàn...”
Lạ thật, có lẽ đây là ca khúc
duy nhất vẫn c̣n in đậm trong trí nhớ kém cỏi của tôi. Ngày nay, khi
chăm sóc cây cối, hoa cỏ, ao cá hay gia cầm, tôi vẫn thấy những lời
khuyên ư vị của nhạc sĩ Lê Hựu Hà như những con sóng nhẹ nhàng cuộn
lên, giục tôi cứ măi yêu đời, dù có lúc phải“hăy cố yêu người mà
sống, lâu rồi đời ḿnh cũng qua” (Bài không tên số 5 của Vũ
Thành An).
Đầu thập niên 80, bắt đầu kiếp
ly hương trong trại tiếp cư, đêm ngày tôi chỉ biết nằm ôm cái máy
cassette để nghe Nguyệt Ánh thương khóc “Sài
g̣n ơi, ta mất người như người đă mất tên”.
Những năm Việt nam bắt đầu mở
cửa, thấy người ta nườm nượp kéo nhau về thăm nhà, nỗi nhớ quê hương
trong tôi lại càng thúc bách hơn. Dạo đó, tôi đă hát theo ca sĩ Nini
đến gần như thuộc ḷng ca khúc của Linh Giang:
“Tôi muốn làm cánh chim trời.
Bay về quê cũ thăm
quê hương tôi.
Nơi đó, tôi có bạn
bè.
Có gịng sông cũ
có lũy tre xanh.
Tôi muốn thành
cánh chim trời.
Bay về quê cũ thăm
quê hương tôi.
Nơi đó tôi có mẹ
già.
Có người yêu dấu
có trời Việt nam”.
Tôi gần như muốn khóc khi hát theo:
“Quê hương ơi,
Tôi đă khóc khi
chiều về,
Mơ thật nhiều ôm
muộn phiền cho kiếp người.
Quê hương ơi,
Tôi sẽ chết trên
quê người,
Không bạn bè không
một người thân bên ḿnh...”
Ở vào cái tuổi không c̣n mộng mơ, lăng mạn hay t́nh
tứ nữa, tôi lại thấy t́nh cảm quê hương ngày càng đậm đà hơn. Bất cứ
điều ǵ gợi nhớ quê hương cũng đều có thể tạo ra cảm xúc trong tôi.
Chẳng hạn như dạo năm 2006, khi nhạc sĩ người Bỉ Marc Lavoine sáng
tác bài “Bonjour Viet Nam” (Thân Chào Việt nam) và được cô
gái Bỉ gốc Việt Phạm Quỳnh Anh, tŕnh bày, tôi nghe đến gần như
thuộc ḷng từng lời trong ca khúc. Người nhạc sĩ ngoại quốc này đă
diễn tả đúng tâm trạng của một người Việt nam sinh ở hải ngoại, ước
mong được một lần về thăm quê cha đất tổ để “được nh́n bằng đôi mắt
của ḿnh, được trở về cội nguồn” của ḿnh, chứ không chỉ biết qua
phim ảnh. Làm sao không cảm động khi nghe cô gái Bỉ gốc Việt bày tỏ:
“Ước
mong về thăm đất nước tôi.
Mong sao quê hương
dang tay đón tôi.
Tôi sẽ thăm những
ḍng sông, đồng quê xanh mát Việt nam. Ước mong về thăm chốn thiêng.
Mong sao quê hương
dang tay đón tôi.
Mong ước đến ngày
về thăm.
Ḷng tôi yêu mến
Việt nam.
Ḷng tôi vang
tiếng Việt nam.
Ḷng tôi xin chào
Việt nam.”
Quả thật, t́nh tự “quê hương” nào cũng có sức làm bật
lên trong tôi những bồi hồi xúc động. Có khi là sự phẫn nộ. Chẳng
hạn như gần đây, khi nhạc sĩ Việt Khang trong nước sáng tác ca khúc
“Anh là ai?” để phản đối việc nhà nước cộng sản Việt nam
không những cấm, đàn áp dă man mà con bắt giam tù những ai tham gia
biểu t́nh chống Cộng sản Trung quốc cướp đất, cướp biển...t́nh yêu
quê hương trong tôi sôi sục đến độ biến thành phẫn nộ. Nghe tiếng
hát của người nhạc sĩ trẻ và hay tin chính anh cũng bị giam tù v́
sáng tác ca khúc này, có chai ĺ và “vô cảm” đến đâu, có trái tim
nào mà không biết phẫn nộ.
Tôi đă nghe chính Việt Khang diễn tả tâm t́nh của anh.
Tôi đă nghe nhiều ca sĩ Việt nam hải ngoại hát lên ca khúc. Tôi cũng
đă nghe ca sĩ Pháp Antoine Figali tŕnh bày. Nhưng tôi đă xúc động
và cười ra nước mắt khi nghe tiếng hát của một cậu bé trai 2 tuổi
trên YouTube. Chắc chắn YouTube này đă được thực hiện ở hải ngoại.
Nếu ở trong cái nước cộng ḥa XHCN Việt nam th́ người thân hay có lẽ
chính cậu bé này cũng bị tù rục xương thôi. Trong YouTube, người ta
thấy cậu bé hát theo một cuốn băng ghi sẵn. Có lúc cậu bé cũng ṿ
đầu, bứt tóc và gào thét như thể để bày tỏ những cảm xúc và sự phẫn
nộ của ḿnh.
Tuổi thơ quả là tuổi đặt những câu hỏi và thường là
những câu hỏi mà người lớn hoặc không thể trả lời, không muốn trả
lời hoặc muốn tránh né. Trên môi miệng của trẻ thơ, “Anh là ai,
sao đánh tôi không một chút nương tay” quả là một câu hỏi nhức
nhối. Câu hỏi ấy nhức nhối là bởi v́ xuất phát từ chính hiện thân
của sự trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên, lương thiện và của chính
lương tri con người.
Dĩ nhiên, câu hỏi ấy trước tiên được đặt ra cho những
người công an trong chế độ cộng sản Việt nam. Trong bài b́nh luận
với tựa đề “Chế độ lấy ghế che mặt”, đăng trên báo Người Việt hôm 17
tháng 2 vừa qua, nhà báo Ngô Nhân Dụng đă ghi lại “cảnh một anh
công an ch́m nâng chiếc ghế lên mặt khi kỹ sư Đỗ Nam Hải đưa tay
chụp h́nh khiến người coi phải động ḷng trắc ẩn. Nó chứng tỏ người
công an này biết xấu hổ”. Theo ông,
“ghế là đồ dùng để ngồi lên, đem ghế che mặt là vạn bất đắc dĩ, cũng
không khác ǵ lấy cái đũng quần mà che lên mặt. Mạnh Tử coi tính
biết xấu hổ là một dấu hiệu của tính Thiện bẩm sinh trong mỗi người.
Biết xấu hổ là một trong bốn đầu mối của các đức tính Nhân Nghĩa Lễ
Trí”.
Ở Việt nam ngày nay, có lẽ cũng c̣n có những người
công an biết xấu hổ như anh công an ch́m lấy ghế che mặt trên đây.
Thật ra, họ cũng chỉ là những công cụ của chế độ. Có người v́ một
chút bă vinh hoa. Có người v́ chén cơm manh áo. Họ cũng là những con
người đáng thương. V́ chấp nhận làm công cụ cho chế độ mà đành phải
ra tay đàn áp, hăm hại những người đồng bào ruột thịt của ḿnh. Thời
buổi mà có lẽ chẳng có chế độ nào c̣n có đủ phù phép để kiểm soát
hoàn toàn hệ thống Internet, chắc chắc tiếng gào thét của cậu bé 2
tuổi trong YouTube đă về tới Việt nam và cũng đă được chính những
người công an lắng nghe. Mong họ cũng c̣n có đủ tỉnh táo để cho
tiếng gào thét ấy đi sâu vào lương tri và nhận biết ḿnh là ai đối
với người đồng bào ruột thịt của ḿnh.
Liệu tiếng gào thét của cậu bé 2 tuổi trên đây có
thấu đến tai của những “thượng đế” nắm quyền sinh sát trong đất nước
Việt nam ngày nay không? Tôi tin chắc là họ đă nghe được tiếng gào
thét ấy.
“Xin hỏi anh là ai, sao bắt
tôi, tôi làm điều ǵ sai.
Xin hỏi anh là ai,
sao đánh tôi, chẳng một chút nương tay.
Xin hỏi anh là ai,
không cho tôi xuống đường để tỏ bày?”
Nhưng câu hỏi như thế không phải chỉ dành cho những người công an ra
tay hành hạ đồng bào ruột thịt của ḿnh như những cái máy, mà chính
là được nhắn gởi đến những ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn
Dũng...và cái nhóm 13 người trong ban bí thư Trung ương Đảng, những
người đang tự cho ḿnh có quyền sinh sát đối với cả dân tộc.
Vua Louis XIV của Pháp vào thế kỷ thứ 17, người
thường được hay tự mệnh danh là “ông vua mặt trời” (Roi soleil) đă
từng vỗ ngực tuyên bố: “Nhà nước là chính Ta” (l’Etat c’est moi).
Ông dám tuyên bố như thế v́ cho rằng quyền lực của ông do Thượng Đế
ủy thác. Do đó, hễ ông muốn là Trời muốn. Mà đă Trời muốn th́ thần
dân phải cúi đầu vâng phục, ngay cả khi phải gánh chịu bất công và
cái chết.
Ở thế kỷ 21, trong khi hầu hết các nước trên thế giới
đều theo thể chế dân chủ, những ông vua cộng sản Việt nam có lẽ vẫn
c̣n muốn sống ở thế kỷ 17 khi không ngừng đưa ra những lời tuyên bố
tương tự. Chính v́ “tổ quốc là Đảng, Nhà nước là Đảng”, mà Đảng là
một nhóm nhỏ những người thu tóm mọi quyền lực và của cải trong tay,
cho nên người dân bị đối xử chẳng khác nào đàn cừu trong tay của
thiểu số đó. Tựu trung, Đảng chẳng khác ǵ một thứ “Thượng Đế” của
cả dân tộc.
“Anh là ai?”
Giả như những Nguyễn Phú Trọng, những Nguyễn Tấn Dũng...biết lắng
nghe tiếng gào thét của cậu bé 2 tuổi, để cho tiếng nói của lương
thiện, của lương tri, của Tính Thiện bẩm sinh trong trái tim được
dâng trào, th́ có lẽ họ sẽ không c̣n tiếp tục đối xử với người đồng
bào của ḿnh như thế nữa.
Đă làm người th́ một lúc nào đó trong đời, ai cũng
phải tự hỏi: “Tôi là ai?” trong tương quan với người đồng bào
và đồng loại của ḿnh. “Tôi là ai?” để xem người khác như thú
vật, cỏ cây? “Tôi là ai?” để chối bỏ những quyền cơ bản nhất
của người khác, để chà đạp phẩm giá của người khác? “Tôi là ai?”
để thu tóm mọi quyền lực, của cải và có thể tỏ ra vô cảm, vô tâm
trước nỗi khổ đau của người đồng loại? “Tôi là ai?” để có thể
ngồi trên nỗi khổ đau của người khác mà vui hưởng cuộc sống?
Cách chúng ta trên hai mươi mấy thế kỷ, ở mặt tiền
của Đền thờ thần Apollo ở Delphi, người Hy lạp đă biết nhắc nhở
những người qua đường: “Hăy tự biết ḿnh”. Lời khuyên này đă
trở thành khởi đầu của minh triết đối với nhiều nhà hiền triết Hy
lạp và quyết tâm thay đổi cuộc sống của nhiều người. Trong các thứ
hiểu biết, th́ biết ḿnh vẫn là điều quan trọng nhất. Ngay cả biết
ḿnh ngu dốt cũng đă là một sự hiểu biết cao siêu nhất.
Nhưng có lẽ tôi sẽ không biết tôi là ai nếu không đặt
ḿnh vào tương quan với người khác.
Trong cuốn sách “Wer bin Ich? Wenn ja, dann wieviel?
Eine kleine Reise in die Philosophie” (Tôi là ai? Nếu đúng là tôi,
th́ có mấy tôi? Một cuộc du ngoạn vào Triết học, bản dịch của Phạm
Hồng Lam), tác giả người Đức Richard David Precht, kể lại rằng trong
một đài phát thanh mà ông thỉnh thoảng đến cộng tác, có một bà giữ
cửa luôn có vẻ mặt hốc hác. Bà nổi tiếng về thái độ bất thân thiện
của ḿnh. Thay v́ tỏ ra vui vẻ và dễ tính, bà làm cho mọi người khó
chịu v́ tính bướng bỉnh của bà. Nhưng ông Precht nói rằng mỗi khi
thấy đứa con trai nhỏ của ông th́ bà hoàn toàn thay đổi thái độ. Mắt
bà long lanh, khuôn mặt bà rạng rỡ. Bà ôm lấy đứa bé hôn lấy hôn để.
Xem ra không ǵ có thể cản được niềm vui của bà khi nh́n thấy đứa bé.
Khi ông và đứa bé ra về, hạnh phúc vẫn c̣n tràn ngập trong con người
bà. Theo ông, người đàn bà này hẳn phải là một người rất cô đơn, v́
không có bạn bè và người quen xung quanh.
Tác giả liên tưởng tới triết
gia Pháp Jean Jacques Rousseau. Ông triết gia sống vào giữa thế kỷ
18 này cho rằng con người tự bản chất hoàn toàn là tốt, nhưng bị văn
minh, khoa học và xă hội làm cho ra đồi bại. Có lẽ do chủ trương đó
mà ông sinh con đẻ cái một cách bừa băi, bỏ rơi chúng hay đưa chúng
vào các viện mồ côi và tự giam ḿnh trong một lâu đài để gậm nhấm cô
đơn, thất vọng, buồn phiền và cay đắng.
Theo tác giả, “sẵn sàng trao
đổi với người khác và lo lắng cho người khác là lối thoát ra khỏi sự
tự giới hạn của ḿnh. Làm một cái ǵ cho tha nhân là điều quan trọng
cho tâm linh của ḿnh. Chẳng hạn đi t́m một món quà đẹp và thấy ra
được niềm vui của người nhận quà, người đó đồng thời cũng đang tặng
quà cho chính ḿnh”.
“Anh là ai?”
Câu hỏi của Việt Khang có lẽ không chỉ dành cho những người cộng sản
Việt nam. Tôi cảm thấy chính ḿnh cũng bị tra vấn. Tôi sẽ là ǵ? Tôi
có c̣n là con người không, tôi có c̣n là tôi không nếu tôi không
nh́n nhận, tôn trọng, yêu thương và sống cho người khác?
Tự nhiên, tôi nghe vang vọng
đâu đó lời kêu gọi của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà:
“Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét
không gây hận sầu.”
Chu Thập