Mỹ xuống, Tàu lên?

________________________________________________________________________________________________ 
 

Trần Hải

 

LTS: Căn cứ vào t́nh h́nh kinh tế ảm đạm của nước Mỹ cùng những thách đố mà siêu cường quốc này đang đối phó trên bàn cờ quốc tế, nhiều chính khách và b́nh luận gia – trong đó có cựu TT Paul Keating -- cho rằng nước Mỹ đă thực sự hết thời, không c̣n tư thế của một “đế quốc” nữa, do đó Úc hăy hướng đến cái phao an ninh và kinh tế mới là Trung Quốc.

Cách đặt vấn đề này có đúng hay không? Đâu là thực chất của sức mạnh Mỹ và sức mạnh Trung Quốc?

Trong bài “Nước Mỹ bi thảm?”trong kỳ trước, tác giả đă tổng hợp những ư kiến bác bỏ thái độ bi quan này, cho rằng đó là một cách đặt vấn đề hoàn toàn sai:

1/ Sự tàn lụi của một đế quốc phải kéo dài hàng chục năm, không chỉ một sớm một chiều, không chỉ một cuộc suy thoái kinh tế;

 2/ Các đế quốc trước đây xây dựng sức mạnh bằng tài nguyên thuộc địa, đă tàn lụi khi hệ thống thuộc địa sụp đổ. Trong khi đó th́ hiện tại Mỹ chủ yếu dựa vào thị trường nội địa, hàng xuất cảng của Mỹ chủ yếu là hàng kỹ thuật cao hay những nhăn hiệu thực phẩm độc nhất vô nhị như McDonald, CocaCola, KFC. .

3/ Bất chấp nạn suy thoái kinh tế, tỷ phần sản lượng quốc gia Mỹ vẫn ở mức 25 phần trăm sản lượng toàn cầu. Con số này đă được duy tŕ trên nửa thế kỷ nay, từ sau Đệ nhị thế chiến đến nay.

4/ Không phải bây giờ nước Mỹ mới bị thách thức về kinh tế và chính trị. Trước đây Mỹ đă đối mặt với những thách thức c̣n nghiêm trọng hơn nhưng đă vững vàng vượt qua.

5/ Nhiều nhà b́nh luận cho rằng “thời hoàng kim” của Mỹ đă qua. Trên thực tế, Mỹ luôn đối đầu với thách thức, luôn đối mặt với các chỉ trích và Mỹ vẫn duy tŕ vai tṛ của ḿnh như một siêu cường. Và đó chính là hiện trạng của nước Mỹ hôm nay.

Trong kỳ này tác giả sẽ bàn tiếp vấn đề và đặt trong mối tương quan quyền lực với Trung Quốc.

 

Mỹ xuống, Tàu lên?

 Trần Hải

   Sự bất lực của Mỹ trong việc giải quyết các cuộc “khủng hoảng” của thế giới mà gần đây nhất là vấn đề hạt nhân tại Iran và Bắc Hàn, rồi sự lúng túng của Mỹ trong việc ứng phó với biến động ở thế giới Ả Rập khiến nhiều nhà b́nh luận như Thomas Friedman đặt dấu hỏi về “uy quyền” của Mỹ, cho rằng cái thời Mỹ “lănh đạo thế giới và buộc các nước khác làm theo ḿnh đă qua rồi”.

Tuy nhiên, theo Robert Kagan th́ nước Mỹ chưa bao giờ có một thời “hoàng kim” như vậy: thời nào cũng có những kẻ bi thảm hoá về sự đi xuống của nước Mỹ như Frieman hôm nay.

Trên thực tế th́ từ lâu Mỹ cũng đă nhiều lần lúng túng, không phải lúc nào cũng có thể “chỉ đạo” các nước khác, kể cả những đồng minh thân cận nhất của ḿnh. Từ lâu, Mỹ đă hoàn toàn không thể tùy ư làm điều ḿnh muốn, hay tùy ư ra lệnh cấm làm điều ḿnh không muốn.

Năm 1949, Mỹ đă cố hết sức nhưng thất bại, không ngăn cản được các đồng minh Châu Âu công nhận nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, trong đó có Anh, là một trong những đồng minh thân cận nhất.

Năm 1954, chính quyền Mỹ đă không đạt được ư định của ḿnh tại Hội nghị Geneva về Việt Nam và không chịu kư các thỏa ước cuối cùng.

Năm 1956 Mỹ cố gắng ngăn cản Anh, Pháp và Do Thái tấn công Ai Cập sau khi nước này quốc hữu hoá và phong toả Kênh đào Suez thế nhưng đă thất bại. Thậm chí ba quốc gia này đă tung quân tấn công Ai Cập mà không thèm báo trước và Mỹ đă phải dùng đủ thứ áp lực mới có thể buộc họ rút quân.

Cũng lúc đó, trong cuộc tranh chấp giữa Đài Loan và Trung Quốc về các quần đảo Kim Môn và Mă Tổ nằm trong cụm quần đảo ở Eo biển Đài Loan, chính quyền Mỹ đă cố hết sức nhưng không đạt được sự ủng hộ của các đồng minh Châu Âu và điều này khiến nguyên ngoại trưởng John Foster Dulles lo ngại rằng NATO “đang bắt đầu tan ră”.

Vào cuối thập niên 1950 Mao Trạch Đông đă hùng hổ tuyên bố rằng Mỹ là một siêu cường quốc đang suy tàn, chỉ c̣n là một con hổ giấy và “lo sợ không dám dây dưa với Thế giới Thứ ba và ngày càng mất khả năng duy tŕ bá quyền đối với các nước tư bản”.

Cuối năm 1957 khi Nga phóng vệ tinh Sputnik th́ nhiều người Mỹ đă chất vấn: phải chăng nước Mỹ đă hết thời. Thế nhưng nước Mỹ đă, bằng nỗ lực của ḿnh, qua mặt người Nga trên lĩnh vực không gian.

Sau đó là thập niên 1970, là thời kỳ nền kinh tế Mỹ đánh mất vị thế hàng đầu áp đảo của ḿnh, khi thặng dư thương mại của Mỹ bắt đầu biến thành thâm hụt thương mại, các chương tŕnh phúc lợi xă hội tăng vọt trong khi dự trữ vàng và tiền tệ của Mỹ cạn kiệt. Lúc đó Henry Kissinger đă than thở rằng nước Mỹ “đă qua đỉnh cao lịch sử của ḿnh giống như quá nhiều nền văn minh trước kia … Mỗi nền văn minh từng tồn tại rốt cuộc rồi cũng sụp đổ. Lịch sử là một câu chuyện về những nỗ lực đă thất bại”.

 

Mỹ mất mặt hơn bao giờ hết?

 Theo nhiều ư kiến th́ việc ngụy tạo bằng chứng để gây chiến ở Iraq rồi sự sa lầy tại Iraq và Afghanistan khiến mước Mỹ mất mặt hơn bao giờ hết, và đây cũng là biểu hiện của sự “hết thời”.

Trên thực tế th́ đây không phải là lần đầu tiên: nước Mỹ đă từng sa vào rất nhiều giai đoạn mất uy tín và mất mặt. Trong thập niên 50 thế giới ghê sợ nước Mỹ v́ phong trào tố cộng do Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy khởi xướng, chủ yếu là cuộc truy lùng giới thiên tả Bộ Ngoại giao và Hollywood. Sau cùng, chính cả Tổng thống Dwight D. Eisenhower cũng lên tiếng gọi những nhà tố cộng quá khích này là “bọn đốt sách”.

Từ 1965 đến 1975 Mỹ đă mất mặt với thế giới v́ nạn kỳ thị chủng tộc mà đỉnh cao là vụ ám sát Mục sư Martin Luther King. Lúc đó Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cho rằng việc này đă thực sự hủy hoại h́nh ảnh tốt đẹp của nước Mỹ trên toàn cầu, đặc biệt là những nước thuộc thế giới Thứ ba.

Kagan viết: “Phần lớn thế giới cũng không mặn mà ǵ với chính sách đối ngoại của Mỹ đặc biệt trong thời kỳ đó. TT Eisenhower mong muốn sẽ có thể ‘khiến một số người ở những quốc gia bị áp bức này yêu mến chúng ta, chứ không phải thù ghét chúng ta’, nhưng những vụ lật đổ Mohammed Mossadegh ở Iran và Jacobo Arbenz ở Guatemala với bàn tay đạo diễn của CIA không giúp ích ǵ. Năm 1957, người biểu t́nh tấn công đoàn xe hộ tống phó tổng thống Mỹ ở Venezuela, hô lớn ‘Nixon, cút về nước!’ ‘Đồ chó, cút đi!’ ‘Chúng tôi không quên Guatemala!’ Năm 1960, Khrushchev hạ nhục Eisenhower bằng cách hủy bỏ một hội nghị thượng đỉnh khi một máy bay do thám của Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Nga. Cuối năm đó, trên đường đi thăm ‘thiện chí Tokyo, Eisenhower buộc phải cho máy bay quay về giữa chừng khi chính quyền Nhật báo động là họ không thể bảo đảm cho an ninh của ông trước những sinh viên biểu t́nh chống ‘đế quốc Mỹ’.

Vân vân, t́nh trạng sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam, các vụ bạo loạn thành thị, vụ ám sát Luther King và Robert Kennedy, rồi vụ tai tiếng chính trị Watergate, rồi thất bại tại cuộc chiến Việt Nam. Lúc đó nhiều người Mỹ cũng đă chất vấn: phải chăng nước Mỹ đă hết thời.

Sau vụ khủng khoảng con tin Tehran năm 1979, khi chính quyền cách mạng Iran bắt giữ toàn bộ nhân viên Toà đại sứ Mỹ tại đây mà Mỹ vẫn phải bó tay, câu hỏi về sự “hết thời” này lại được lập lại.

Có lẽ đây là thời điểm xấu nhất của Mỹ, khi vết thương Việt Nam vẫn chưa lành. Năm 1979 khi Quốc vương Iran bị lật đổ, lực lượng cực đoan của Giáo chủ Ayatollah Khomeini đă bắt năm mươi hai nhà ngoại giao Mỹ làm con tin, giam giữ trong hơn một năm mà Mỹ bó tay, không làm ǵ được. Theo nhiều nhà b́nh luận th́ thông điệp Iran cho thấy Mỹ và phương Tây đang suy tàn, đang ở thế pḥng thủ, và có vẻ như không thể làm được ǵ để bảo vệ những lợi ích của ḿnh nữa, dù là kinh tế hay chính trị.

 Bắp thịt của Mỹ

 Một biến cố mang tính bước ngoặc khác, vào ngày 16. 9. 1985 khi Bộ Thương Mại Mỹ tuyên bố nước Mỹ đă từ một đất nước chủ nợ trở thành một quốc gia con nợ. Lúc đó câu hỏi đó lại lập lại. Tuy nhiên sau những cú sụp đổ sính vính của kỹ nghệ điện toán hay khủng hoảng tài chính, kinh tế Mỹ vẫn là kinh tế Mỹ.

Thung lũng điện tử Silicon Valley, tức San Jose, vẫn tiếp tục là trung tâm của những phát minh siêu kỹ thuật, Wall Street vẫn là trung tâm tài chính; các viện đại học lừng danh như Harvard, Massachusetts Institute Technology và Yale vẫn là những viện đại học hàng đầu thế giới; Hollywood vẫn là kinh đô điện ảnh; các trang Facebook, Google và Twitter vẫn là cái tên quen thuộc nhất của giới trẻ; các pḥng thí nghiệm tại Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới trong kỹ thuật sinh học; các trường y tại Boston, Chicago và Baltimore vẫn dẫn đầu thế giới về nỗ lực chế ngự bệnh tật và Bộ quốc pḥng Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới về các loại vũ khí mới.

Các nhà bi quan chỉ ra con số thống kê, theo đó 3 phần 4 số người lănh bằng tiến sĩ tại các đại học Mỹ là người nước ngoài, trong đó hết 9 phần 10 là sinh viên Trung Quốc. Trên thực tế th́ sau khi tốt nghiệp đa số các tân tiến sĩ này đều t́m cách ở lại Mỹ, và thường là họ ở lại ít nhất 5 năm. Đây cũng là sức mạnh của Mỹ từ thời lập quốc của ḿnh: dung nạp tinh hoa trí tuệ khắp bốn phương.

Đáng nói hơn là năng lực quân sự. Mỹ hiện nay chi gần 600 tỉ Mỹ kim mỗi năm cho quốc pḥng, nhiều hơn những cường quốc khác cộng lại và đó là chưa kể đến ngân sách cho lực lượng tham chiến tại Iraq hay ở Afghanistan đang giảm dần. Tính ra th́ mỗi năm Mỹ chi gần 4 phần trăm GDP cho quốc pḥng và tỉ lệ cao hơn những cường quốc khác.

Nếu xét lùi lại thời gian th́ Mỹ đă giảm chi trong quốc pḥng. Trong đỉnh cao của chiến tranh lạnh ở giữa thập niên 1950, Mỹ chi đến 10 phần trăm GDP cho quốc pḥng và đến cuối thập niên 80 chi khoảng 7 phần trăm.

Tuy nhiên đến nh́n vào khái niệm chiến tranh mới th́ con số chi tiêu cao thấp không đủ để nói lên tính ưu việt thực sự của Mỹ về quân sự. Các lực lượng trên bộ và trên không của Mỹ được trang bị vũ khí tối tân nhất, được huấn luyện kỹ lưỡng nhất và đă thực sự tham chiến trên nhiều chiến trường. Quân đội Mỹ có thể đánh bại bất kỳ đối thủ nào trong một trận đánh đối đầu. Hiện tại Hải quân Mỹ vẫn chiếm ưu thế vượt trội và có thể bố trí ở bất cứ khu vực nào trên thế giới.

Như vậy có thể thấy rằng mỗi lần xảy ra một biến động kinh hoàng là người Mỹ lại chất vấn: phải chăng nước Mỹ đă đến ngày tận thế.

Tuy nhiên nước Mỹ vẫn đứng vững và vượt qua các lời tiên tri ảm đạm. Bất cứ cuộc khủng hỏang nào cũng là một cơ hội và bài học để một hệ thống tự kiểm và tu chỉnh để ḥan thiện hơn. Mỹ đă chịu những cuộc khủng hoảng nặng nề và kéo dài trong những thập niên 1890, 1930, và 1970. Mỗi lần như thế, nước Mỹ hồi phục trong thập niên tiếp theo và lại đạt đến vị thế mạnh hơn so với các cường quốc khác hơn trước thời khủng hoảng. Những thập niên 1910, 1940, và 1980 đều là những cao điểm của sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên toàn cầu.

Về kinh tế th́ đây không phải là lần đầu tiên nước Mỹ trải qua những vấn nạn tài chính như thế. Cuộc đại khủng hỏang 1930 – 1931 làm nước Mỹ thất điên bát đảo nhưng sau đó nước Mỹ đă hồi sinh và không chỉ thừa sức dẫn đầu Đồng Minh trong Đệ nhị thế chiến để ngăn chặn chủ nghĩa phát xít tại Âu châu và quân phiệt tại Á châu mà c̣n vươn lên với nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Mặt khác, nếu sự “đi xuống” của Mỹ được đặt trong bối cảnh đi lên của Trung Quốc, như thế th́ liệu nước này có thể qua mặt Mỹ trong nay mai?

 

Túi tiền và nắm đấm Trung Quốc?

 Năm 2007 Goldman Sachs dự đoán rằng Trung Quốc sẽ có nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2027. Ngày nay nhiều người vẫn trích dẫn kết quả phân tích này nhưng họ quên rằng chính Goldman Sachs đă không thể “phân tích” được tương lai của ḿnh và chỉ vài tháng sau đó: bị sụp đổ và phải nhờ vào tiền giải cứu của chính phủ trong cuộc khủng hoảng tháng Sáu năm 2008.

Giới nâng bi Trung Quốc như Hugh White tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ để chiếm vị trí nền kinh tế lớn nhất thế giới vào một thời điểm nào đó trong hai thập niên đến.

Thế nhưng dù Trung Quốc có vươn lên đỉnh cao này một lần nữa, nuớc này vẫn c̣n tụt hậu khá xa so với cả Mỹ và Châu Âu về GDP b́nh quân đầu người.

Mặt khác, chỉ riêng quy mô của một nền kinh tế phải là một thước đo chính xác về sức mạnh tổng quát trong hệ thống quốc tế.

Vào đầu thế kỷ 19 th́ Trung Quốc đă là nền kinh tế lớn nhất thế giới lúc đó với Thượng Hải là một thành phố lớn nhất thế giới. Căn cứ vào yếu tố này th́ lẽ ra lúc ấy Trung Quốc đă là cường quốc thống lĩnh thế giới chứ không phải bị liệt cường xâu xé một cách nhục nhă.

Năm 1840 GDP của Trung Quốc chiếm 33 phần trăm tổng sản lượng toàn cầu, gấp 6 lần GDP của Anh. Thế mà Trung Quốc lại bị các cường quốc châu Âu xâu xé. Triều Thanh có hơn 1 triệu quân nhưng đă bị lực lượng Anh có 4000 quân đánh tan, phải kư Hiệp ước Nam Kinh (8-1842) chấp nhận đầu hàng.

Năm 1894 dù đă bị các nước phương Tây xâm lược suốt nửa thế kỷ, GDP của Trung Quốc vẫn lớn gấp 9 lần GDP của Nhật, thế mà trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ, Trung Quốc vẫn bị đại bại, bị Nhật chiếm mất 2 đảo Đài Loan, Bành Hồ và c̣n phải bồi thường chiến phí cho Nhật 200 triệu lạng bạc.

Như vậy kinh tế lớn không hẳn là đương nhiên sẽ có nắm đấm mạnh. Cơ cấu kinh tế của Mỹ và Nhật gồm toàn những kỹ nghệ quan trọng như hàng không, không gian, điện toán, kỹ thuật sinh học, đóng tàu, chế tạo máy, nông nghiệp hiện đại. . . Ưu thế quân sự số một thế giới của họ là nhờ vào các ngành đó.

Cấu trúc kinh tế của Trung Quốc th́ không được như vậy cho nên việc trang bị vũ khí luôn bị thua kém. Dù cho giới vơ biền Trung Quốc ḥ hét đến mấy th́ người diều hâu, hiếu chiến nhất cũng phải thừa nhận rằng so với Mỹ th́ họ chẳng phải là cái thá ǵ.

Thậm chí so với Nhật th́ Trung Quốc vẫn chưa chắc vượt nổi. Vào năm 1941 Nhật đă có thể sử dụng hàng không mẫu hạm do ḿnh tự chế tạo để tấn công Trân Châu Cảng, mở đầu cuộc chiến Thái B́nh Dương. C̣n Trung Quốc bây giờ, sau bao tiến bộ vượt bực về kinh tế, đă đưa được người vào không gian, nhưng vẫn không thể tự đóng mẫu hạm mà phải xài hàng “second-hand”, hư lên hư xuống, thậm chí chưa thể tự chế tạo được dây cáo hăm đà cho phản lực cơ trên con tàu này. Nền kỹ nghệ linh hoạt và nhạy bén của Nhật có thể dễ dàng chuyển sang trạng thái hoạt động thời chiến và hàng loạt vũ khí hiện đại sẽ ra đời trong một thời gian ngắn kể cả vũ khí hạt nhân hay hàng không mẫu hạm.

 

[Kỳ sau: Nền tảng của “đế quốc Trung Hoa”]

 

Home