Sắp
tới, Úc Đại Lợi sẽ có hai vụ kiện ly kỳ.
Trước
hết là vụ kiện và những tranh tụng xoay quanh thuế Hầm mỏ. Được biết
tối thứ Hai 19 tháng 3 vừa qua, Thượng viện Úc đă thông qua dự luật
thuế Hầm mỏ. Chính phủ Gillard xem đây như một chiến thắng lớn và
hứa hẹn sẽ chia đều cái bánh béo bở trị giá cả 11 tỷ Úc kim từ việc
khai thác hầm mỏ cho mọi người dân. Nhưng trước khi luật thuế Hầm mỏ
có hiệu lực vào giữa năm tới, chính phủ liên bang sẽ phải đương đầu
với một cuộc chiến pháp lư cam go. Một mặt, các công ty khai thác
hầm mỏ, cụ thể là “Fortescue Metals”, công ty khai thác quặng sắt
lớn thứ ba tại Úc, cho biết sẽ kiện lên Tối Cao Pháp Viện. Ngoài ra,
các tiểu bang giàu hầm mỏ do Tự Do lănh đạo cũng không để cho chính
phủ Liên bang được yên. Chính phủ tiểu bang New South Wales, dù có
bị chính phủ Liên bang đe dọa trừng phạt, vẫn tuyên bố sẽ gia tăng
tiền huê hồng. Thủ hiến Colin Barnett của tiểu bang Tây Úc khẳng
định sẽ ủng hộ bất cứ hành động pháp lư nào chống lại thuế hầm mỏ.
Dĩ nhiên, Liên Đảng Đối lập cũng sẽ không bỏ lỡ cơ hội để tấn công
chính phủ. Một trong những lập luận được phe chống thuế hầm mỏ đưa
ra là thuế này vi phạm điều 114 của Hiến Pháp Úc Đại Lợi, theo đó
chính phủ Liên Bang không được phép đánh thuế trên tài sản của tiểu
bang.
Vụ kiện thứ
hai hiện cũng đang được dư luận trong và ngoài Úc theo dơi kỹ là vụ
tranh tụng trong gia đ́nh bà Gina Rinehart, cự phú hầm mỏ hiện được
xem là người giàu có nhất nước và có triển vọng sẽ trở thành người
giàu có nhất hành tinh.
Tạm gác qua
thuế hầm mỏ, câu chuyện thời sự tuần này xin được dành để bàn về
chuyện tranh giành trong gia đ́nh bà Rinehart, bởi v́ câu chuyện
cũng có thể gợi lên một số suy nghĩ về vấn đề giáo dục và các mối
quan hệ trong gia đ́nh, thường được người Việt Nam tóm tắt trong câu
nói “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.
Không ai giàu
ba họ
Được
thừa hưởng gia tài là một chuyện, mà ǵn giữ và phát huy gia tài là
một chuyện khác. Gia tài, vốn là kết quả của công lao mồ hôi nước
mắt cha mẹ để lại, nếu không được con cái tiếp tục bồi đắp cũng bằng
công sức, th́ không chóng th́ chày cũng sẽ hao ṃn và tiêu tán. Nếu
con cái không bảo tồn và phát huy được gia tài để lại th́ lỗi cũng
một phần do cha mẹ v́ không giáo dục con cái đầy đủ.
Một người thừa
kế một gia tài kết xù tại Úc, xin được giấu tên, đă nói với báo The
Australian rằng Úc Đại Lợi đang có một nhóm ngày càng lớn “những đứa
con được thừa hưởng quỹ kư thác gia đ́nh” và những đứa con này chỉ
“giỏi” có mỗi một điều là “hưởng được vàng bạc của gia đ́nh” mà thôi.
Người thừa kế giàu có này giải thích rằng có rất nhiều con cái của
những gia đ́nh giàu có chỉ biết ngày đêm hưởng thụ và sống không có
mục đích. Lư do là v́ cha mẹ họ, do quá bận làm giàu cho nên không
c̣n th́ giờ dành cho con cái. Không thiếu trường hợp cha mẹ phải
“trả tiền” cho con cái để chúng khỏi xía vào công việc làm ăn của
ḿnh.
Số người giàu
từ đời cha đến đời con và đời cháu không phải là số nhiều. Đa số đều
rơi vào chuyện tranh giành xâu xé nhau.
Năm 1990, đế
quốc truyền thông “Warwick Faifax” của gia đ́nh Warwick suưt phá sản
nếu không kịp thời được cứu văn bằng cách đẩy các thành viên gia
đ́nh ra khỏi ban điều hành. Warwick con phải chạy sang Mỹ làm ăn mới
có thể trưởng thành hơn.
Quan hệ giữa
cha con ông Richard Pratt, triệu phú phất lên nhờ nghề tái chế thùng
các tông, xấu đến nỗi người con đành phải sang Hoa kỳ để không phải
đi theo con đường của cha ḿnh. Một người trong gia đ́nh ông Pratt
cho biết ông đă từng bảo con ḿnh là một thằng ngốc. Thật ra, sau
khi sang Mỹ, Anthony Pratt đă làm ăn phát tài, nhờ cá tính và nỗ lực
riêng chứ không nhờ dựa cậy vào uy thế và sự giúp đỡ của cha ḿnh.
Nhưng chọn một con đường khác và tự lực cánh sinh như trường hợp con
cái ông Warwick và ông Pratt không phải là nhiều.
Ông John
Symond, người sáng lập công ty “Home Loans”, đă tự tay xây dựng được
một tài sản trị giá 600 triệu Úc kim. Ông nói rằng con cái ông phải
làm việc mới mong t́m thấy mục đích cho cuộc sống và rèn luyện được
nhân cách. Theo ông, chỉ nhờ làm việc, con cái mới nhận ra vai tṛ
của chúng trong công việc của gia đ́nh. Chính v́ thế mà ông đă để
cho người con trai 28 tuổi của ḿnh tham gia vào công việc của ông.
Theo giáo sư
Sandy Rea, một chuyên gia tâm lư thuộc trường đại học Melbourne, cha
mẹ giàu có nào bỏ tiền ra để cho con cái vui chơi hầu có th́ giờ để
kinh doanh, đều không tránh khỏi những hậu quả rắc rối về sau.
Chuyên gia này nói rằng cha mẹ cần phải theo dơi sự phát triển của
con cái; con cái cần phải tập tính cương quyết và tự chủ khi gặp khó
khăn. Cho con cái mọi sự mà không gần gũi với chúng, điều đó không
những hạ giảm sự tin tưởng của chúng mà c̣n khiến chúng khinh thường
cha mẹ.
Câu chuyện gia
đ́nh Hancock
Câu
chuyện gia đ́nh Hancock là một điển h́nh.
Trước khi qua
đời, ông Lang Hancock, cự phú hầm mỏ, đă để lại di chúc trong đó ông
cho thành lập một Quỹ tín thác gia đ́nh để bảo đảm tương lai cho 4
đứa cháu ngoại của ông, tức con của bà Gina Ginehart. Cũng theo di
chúc, bà Gina được chỉ định làm người điều hành duy nhất của Quỹ tín
thác cho đến ngày đứa cháu út của ông là Ginia Rinehart được 25 tuổi.
Đúng vào kỳ hạn này th́ 4 người cháu ngoại của ông Hancock đương
nhiên được quyền chia đều quỹ tín thác và như vậy mỗi người đều tức
khắc trở thành tỷ phú. Nhưng dạo tháng 9 năm ngoái, bà Ginehart
tuyên bố rằng 3 người con lớn của bà là John Langley Hancock, Bianca
Rinehart và Hope Rinehart Welker “rơ ràng chưa đủ khả năng” để điều
hành quỹ tín thác gia đ́nh. Theo bà, ba người này “không có kỹ năng,
kiến thức, kinh nghiệm, phán đoán hay tinh thần trách nhiệm để quản
lư Quỹ”. Đây là lư do khiến cho 3 người con này quyết định đưa mẹ
ḿnh ra ṭa để giải quyết vấn đề.
Quan hệ giữa
bà Ginehart và con cái bà cũng phản ảnh mối quan hệ không mấy tốt
đẹp giữa bà và cha bà, ông Lang Hancock. Trước kia, bà luôn xem cha
ḿnh như thần tượng. Năm 12 tuổi, trong một cuộc phỏng vấn trên đài
BBC, bà mô tả cha ḿnh như một người đàn ông “gần như hoàn hảo”. Tuy
nhiên, mối quan hệ cha con đă trở nên xấu đi khi ông Hancock quyết
định cưới người phụ nữ giúp việc người Phi Luật Tân tên là Rose
Lacson. Mối quan hệ tồi tệ đến nỗi trong một lá thư viết cho con gái,
ông Hancock viết rằng ông chỉ muốn nhớ h́nh ảnh của một đứa con gái
dễ thương, có khả năng và hấp dẫn chứ không phải một người đàn bà
“tham lam, thù vặt”. Trong thư trả lời, bà Ginehart không ngần ngại
gọi người kế mẫu của ḿnh là “một con điếm Phi”.
Năm 18 tuổi,
bà Ginehart đă làm cho cha ḿnh thất vọng khi lấy một thanh niên
người Anh tên là Greg Milton, được ông mướn coi kho của gia đ́nh.
Năm 1979, sau khi hai người đă có hai con, bà Ginehart đă chia tay
với ông Milton. Theo một thỏa thuận trong hồ sơ ly dị, ông Milton
đồng ư sẽ không bao giờ công khai hóa chuyện gia đ́nh cũ và kể từ đó
cũng không bao giờ gặp lại con cái.
Cuộc hôn nhân
thứ hai của bà Ginehart với ông Frank Rinehart, một luật sư người Mỹ
lớn hơn bà gần 30 tuổi, lại càng làm cho cha bà thất vọng hơn. Ông
quyết định không dự đám cưới của hai người v́ cho rằng họ đang có âm
mưu loại ông ra khỏi các công ty. Chính v́ vậy mà ông Hancock đă
truất con gái ḿnh khỏi chức giám đốc của các công ty của ông và
ngay cả đe dọa đưa bà ra ṭa v́ tội xen vào chuyện làm ăn của ông.
Bà Rinehart
cũng tố cáo cha ḿnh đủ điều và đe dọa sẽ kiện ông v́ mờ ám trong
chuyện sổ sách. Trong một lá thư viết cho cha, bà chửi ông là người
“dối trá, hăm dọa và xuyên tạc”.
Cha con chỉ
làm ḥa với nhau khi ông Hancock sắp qua đời. Nhưng chuyện tranh
giành, ăn thua đủ trong gia đ́nh dường như đă thấm vào trong máu của
ḍng họ Hancock.
Mẹ nào con nấy
Bà
Rinehart luôn cho rằng sự nghiệp hiện nay là do tay bà làm nên và bà
là người đă cứu văn cho đế quốc của ông Hancock khỏi bị sụp đổ sau
khi ông qua đời. Bà nói rằng hầu hết tài sản ông để lại đều được
dùng để trả nợ hay để trả cho các phí tổn về kiện tụng. Tiền mặt th́
không bao nhiêu, các ngân phiếu “lủng” lại đầy trong các ngăn kéo.
Trong thập niên đầu sau khi ông Hancock qua đời, thuế tài nguyên chỉ
vừa đủ để trả nợ.
Thật ra, theo
kư giả Tim Treadgold, người chuyên theo dơi sinh hoạt của gia đ́nh
Hancock, những lời huênh hoang trên đây của bà Rinehart hoàn toàn
không đúng với sự thật. Bởi lẽ một mặt bà vẫn nh́n nhận rằng cha bà
là cha đẻ của kỹ nghệ khai thác quặng sắt của Úc Đại Lợi, mặt khác,
bà lại bảo rằng ông gần như đưa sự nghiệp gia đ́nh đến chỗ phá sản.
Ngoài ra, các
tài liệu được trưng dẫn tại ṭa án cho thấy chưa có người nào trong
3 người con lớn của bà được giao cho những công việc lâu dài, mà chỉ
giữ những vai tṛ ngắn hạn mà thôi.
Bà Rinehart
cho rằng phá sản có thể là điều tốt cho con cái bà, bởi v́ nhờ đó họ
mới chịu làm việc và nh́n lại cái lối sống nhung lụa của họ. Bà nói
rằng 3 người con lớn này không chịu nghe lời khuyên của các bạn bè
trong gia đ́nh để bung ra làm ăn, mà chỉ muốn ngồi đó để hưởng nhà
cao cửa rộng và mọi thứ tiện nghi giàu sang khác. Bà đe dọa rằng nếu
con cái bà lấy tiền trong quỹ tín thác ra th́ họ sẽ phải đóng hàng
trăm triệu lợi thuế lợi nhuận và như vậy quỹ có thể bị khánh tận.
Các điện thư
trao đổi giữa bà Rinehart và 3 người con lớn của bà cho thấy không
hề có chút tôn trọng nào giữa mẹ con.
Ông John
Hancock, năm nay 36 tuổi, tưởng sẽ là người đứng ra điều hành công
việc của gia đ́nh. Nhưng theo một quan sát viên, John Hancock phải
“bước qua xác mẹ ḿnh” may ra mới có thể được giao cho vai tṛ lănh
đạo trong đế quốc quặng sắt này. Trong một điện thư, bà Rinehart
viết cho người con trai duy nhất: “Hăy ngưng ngay cái tṛ ngu dại.
Anh luôn cho rằng anh muốn nắm vai tṛ lănh đạo, nhưng tiếc thay,
trong quá khứ anh đă từng làm những quyết định sai lầm”.
Thật ra, bà
Rinehart chưa bao giờ giao cho con trai ḿnh một trách nhiệm lớn lao
nào cả. Ông chỉ làm việc bán thời gian cho công ty “Hancock
Prospecting” cho đến khi bị cho nghỉ việc cách đây một thập niên. Kể
từ đó ông chỉ sống nhờ lợi tức từ quỹ tín thác và những vay mượn từ
công ty của gia đ́nh với những điều kiện rất nặng nề. Chẳng hạn,
theo một hợp đồng được kư năm 2005, ông phải cay đắng nhận một số
tiền là 398 ngàn Úc kim và được xử dụng các ngôi nhà sang trọng tại
Sydney và Perth với điều kiện là ông không được hé môi cho giới
truyền thông biết chuyện gia đ́nh.
Các cuộc
thương lượng trong nội bộ có thể cho phép ông Hancock được có việc
làm trong công ty của gia đ́nh và hưởng được nhiều lợi tức, nhưng
vẫn phải chấp nhận một điều kiện nghiệt ngă là không được x́ ra bất
cứ điều ǵ với giới truyền thông. Trong khi đó, nếu được chia phần
từ Quỹ tín thác gia đ́nh th́ ông đă có thể bỏ túi cả tỷ Úc kim. Đây
chính là lư do khiến ông và hai người con gái lớn của bà Rinehart
đành phải lôi bà ra ṭa.
Quyết ăn thua
đủ
Khi
một gia đ́nh giàu có lôi nhau ra ṭa th́ chỉ có chuyện “từ chết đến
bị thương” mà thôi. Án phí và tiền luật sư trong một vụ kiện cáo như
thế là điều có lẽ không thể tưởng tượng được. Bà Rinehart t́m cách
thuyết phục con cái bà nên bỏ vụ kiện bởi v́ theo bà họ không có
“phương tiện” để đeo đuổi vụ kiện. Ngoài ra, vấn đề lại rắc rối thêm
là bởi v́ cổ phần của quỹ tín thác không thể được xử dụng để thế
chấp cho bất cứ sự vay mượn nào từ ngân hàng hay có thể mang ra bán
cho một người ngoài gia đ́nh.
Ông Tad
Watroba, giám đốc của công ty Hancock Prospecting, cho biết bà
Rinehart và người con gái út của bà là cô Ginia Rinehart cho biết họ
muốn nhờ người đứng ra làm trung gian để giải quyết chuyện “tranh
chấp gia đ́nh” thay v́ đưa nhau ra ṭa. Theo ông Watroba, nếu bên
nguyên cáo đồng ư như thế, th́ gia đ́nh Rinehart sẽ tránh được bao
nhiêu phí tổn không cần thiết trong vụ kiện.
Tuy nhiên, ông
John Hancock nói rằng chuyện đưa nhau ra ṭa là điều cần thiết để
chấm dứt vai tṛ là “người điều hành duy nhất” của Quỹ mà bà
Rinehart muốn bám vào. Theo ông, đây là điều chỉ có thể giải quyết
trong ṭa mà thôi.
Về phần bà
Rinehart, bà hy vọng rằng thuế lợi nhuận kếch xù do việc xé lẻ quỹ
tín thác và nguy cơ khánh tận của quỹ sẽ thuyết phục 3 người con của
bà nghĩ lại. Ông Wartroba cũng nói đến những nguy cơ về an ninh mà 3
người con lớn của bà Rinehart phải đương đầu một khi các tài liệu
được ṭa cho công bố. Nhưng bà Hope Rinehart Welker, một trong 3
người con lớn của bà Rinehart, nói rằng họ buộc ḷng phải đưa nội vụ
ra ṭa bởi v́ không c̣n một chọn lựa nào khác.
Tựu trung,
giềng mối dẫn đến thảm kịch của gia đ́nh tỷ phú Rinehart vẫn là ḷng
tham. Gia đ́nh giàu có này đă có tất cả, trừ t́nh nghĩa gia đ́nh mà
tiền của không thể mua được.
Đoàn Thi