Bốn mươi năm trước, tổng thống HK Richard Nixon đă đến viếng thăm
Trung Quốc từ ngày 21 đến 28/2/2972. Ông tự hào đây là “Tuần lễ thay
đổi cục diện thế giới” (The week that changed the world). Nhắc lại
sự kiện lịch sử này, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có bài viết “Mở cửa
Bắc Kinh, Đóng cửa Sàig̣n”, được báo Sàig̣n Times Úc châu trích
đăng ngày 16/2/2012.
Tác giả cho biết, trong tài liệu mới được giải mật th́ trong buổi
họp làm việc đầu tiên với phía Trung Hoa (TH) tại Bắc Kinh
(22/2/1972) TT Nixon đă nói thẳng thừng ư định của ông là rút quân
hoàn toàn khỏi VN: “Chúng tôi đă tự nguyện rút hết quân mà không
để lại cái “đuôi” nào –như lời Thủ tướng Chu Ân Lai đă nói- và chúng
tôi sẽ có ngưng bắn trên toàn cơi Đông Dương miễn là chúng tôi lấy
lại được tù binh. Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự
quyết định lấy mọi việc”. (We have offered to withdraw all
Americans, with no “tail” behind –to use the Prime Minister’s
expression- and you have a cease fire throughout Indochina provide
we get our prisoners back. Then we would let the decision be made by
the people there”.
Nixon cũng than phiền về việc Bắc Việt cứ...“khăng khăng đ̣i chúng
tôi giải quyết không những vấn đề quân sự mà c̣n muốn chúng tôi phải
áp đặt một tương lai chính trị bằng cách triệt bỏ chính quyền hiện
tại và áp đặt một chính quyền do họ lựa chọn. Điều này chúng tôi
không thể làm được v́ vừa rút quân vừa thông đồng với phía địch để
lật đổ một đồng minh th́ từ nay không quốc gia nào sẽ tin cậy HK nữa”.
Rồi dường như muốn nhắn nhủ Hà Nội, Nixon thêm “Chúng tôi sẽ không
ra đi mà không có một hiệp định”. Bấy giờ việc HK giao hảo với TH
mới là chính yếu, và VN đă trở thành một chướng ngại trong việc giao
hảo. Nixon cam đoan với Chu Ân Lai “Chúng tôi rất thành thật trong
buổi nói chuyện này. Tôi muốn cam đoan với thủ tướng rằng tôi đang
gỡ bỏ cái ung nhọt này một cách nhanh chóng nhất mà tôi có thể làm.
Vị tiền nhiệm của tôi gửi 500 ngàn quân sang VN. Việc tôi sẽ chấm
dứt sự can dự của HK chỉ là vấn đề thời gian. Về điểm này tôi có thể
nói chắc chắn với Ngài như vậy... Tất cả những điều chúng ta đang
nói thật ra là làm cho tiến tŕnh mau lẹ hơn, không phải bằng cách
chúng tôi hấp tấp rút quân mà bằng một hiệp định”.
Đó là những chuyện đă xẩy ra tại BK, nhưng vừa về tới Washington TT
Nixon liền viết thư cho TT Thiệu (ngày 2/3/1972) cam đoan “chúng tôi
không có thương lượng bất cứ điều ǵ sau lưng những người bạn của
Hoa Kỳ, đă không có thỏa thuận nào hết” (We negociated nothing
behind the backs of friends of the United States, there was no
secret deals). Để cho có trọng lượng, Nixon c̣n khẳng định: “Ngài có
thể tin chắc là tôi sẽ làm mọi cách trong quyền hạn của tôi để bảo
đảm rằng sự hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt & Mỹ sẽ không bị
uổng phí...” (You may be certain that I will do all in my power to
insure that the enormous sacrifice of the Vietnamese and American
peoples do not come nothing).
Cũng trong tài liệu được giải mật, trong hai ngày 21 và 22/6/1972,
Kissinger lại đi BK gặp Chu Ân Lai để nói rơ hơn về chính sách của
HK đối với MNVN: “Tôi tin rằng nếu có một khoảng thời gian vừa đủ
giữa lúc chúng tôi rút quân và những ǵ xẩy ra sau đó th́ vấn đề gần
như chắc chắn có thể khoanh gọn như là chuyện nội bộ của Đông Dương.
Điều quan trọng là phải có một khoảng thời gian hợp lư giữa thoả
hiệp ngưng bắn và một cơ hội hữu lư để thương thảo chính trị...Lư
luận của tôi là chúng tôi muốn đặt ra một khoảng thời gian giữa kết
cuộc quân sự và kết cuộc chính trị. Không ai có thể tưởng tượng được
rằng lịch sử sẽ kết thúc ở bán đảo Đông Dương với một cuộc ngưng bắn”.
Hôm sau Kissinger phác họa một kịch bản theo đó BV có thể toàn thắng.
Mặc dầu HK không thể tự ḿnh làm cho điều ấy xẩy ra, nhưng ông nói
úp mở: “Do kết quả của diễn biến lịch sử mà chuyện đó xẩy ra trong
một thời gian, th́ nếu chúng tôi sống được với chính phủ CS của TQ,
chúng tôi cũng có thể chấp nhận như vậy ở Đông Dương”. Ông cũng nhắn
qua Chu Ân Lai rằng HK tôn trọng Hà Nội như một “thực thể thường
trực” (permanent entity) và là thực thể mạnh nhất trong vùng “Và
chúng tôi không có ư tiêu diệt hay đánh bại họ”. Khi Chu Ân Lai hỏi
cho rơ hơn, Kissinger thừa nhận rằng Mỹ có thể chấp nhận cho CS tiếm
quyền bằng vơ lực nếu điều này xẩy ra một thời gian khá lâu sau khi
Mỹ đă rút lui. “Nếu một tháng sau khi có hiệp ước ḥa b́nh để Mỹ rút
quân và trao đổi tù binh, nội chiến xẩy ra th́ Mỹ coi đó là một âm
mưu và sẽ quay trở lại VN và nếu sau một khoảng thời gian lâu dài,
chuyện nội chiến xẩy ra, sau khi chúng tôi không c̣n can dự nữa, th́
theo xét đoán của cá nhân tôi, có rất ít khả năng Mỹ sẽ quay trở lại”.
Ts Hưng kết luận: Như vậy, kịch bản này có ba giai đoạn: 1- Kư kết
một hiệp định để HK triệt thoái trong danh dự. 2- Tôn trọng một
khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp đổ sẽ xẩy ra (thời gian
này phải “coi cho được” chứ không phải là một tháng); 3- Mỹ có thể
chấp nhận một chính quyền CS ở Sàig̣n.
Nhận định trên không có ǵ mới lạ, Ts Hưng chỉ nhắc lại những ǵ ông
đă khẳng định từ mấy chục năm trước...Nhưng ông đă lầm lẫn khi đề
cập đến buổi họp làm việc đầu tiên của Nixon với phía Trung Hoa ngày
22/2/1972. Nội dung đó xuất phát từ cuộc đàm luận kéo dài từ 2.05 PM
đến 6.05 PM giữa Kissinger và Chu Ân Lai tại Đại sảnh đường Nhân dân
ở Bắc Kinh ngày 20/6/1972. (National Security Archieve, Doc 10, P.35
Memorandum of Conversation with Zhou Enlai, 20 June-1972) Tài liệu
này đă được giải mật ngày 26/5/2006. Tôi không tin ông Hưng lầm lẫn,
ông thay đổi lịch sử để chứng minh sự dối trá của TT Nixon. Năm 1987
khi xuất bản quyển Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, Ts Hưng cũng thay đổi
lịch sử khi đề cập đến tài liệu “Chỉ dẫn tổng quát về ngưng bắn” của
CS khi hiệp định Paris được công bố ngày 26/10/1972.
Ngày 18/10/1972, Kissinger mang bản dự thảo HĐ Paris đến Sàig̣n tham
thảo với TT Thiệu. Ông không đề cập ǵ đến việc kư kết, chỉ thảo
luận các chi tiết với TT Thiệu và ghi nhận 69 điểm chống đối của
VNCH. Trong 5 ngày ở Sàig̣n, TT Thiệu tiếp Kissinger một cách lạnh
nhạt, Bí thư Hoàng Đức Nhă c̣n có thái độ và lời lẽ bất kính đối với
vị Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Nixon. Trở về Mỹ, Kissinger báo
cho Lê Đức Thọ biết hiệp định chưa thể kư ngày 26/10/1972. Nhưng, xế
chiều ngày 25/10/1972, từ bản doanh Bộ Tư lịnh Tiền phương QĐ1 ở Phú
Bài (Huế), Trung tướng Ngô Quang Trưởng khẩn tŕnh TT Thiệu một tin
quan trọng: Cảnh sát Đặc biệt QK1 vừa tịch thu một mật điện của Bộ
Tư lịnh Quân khu 5 CS gởi Thị đội Tam Kỳ (Quảng Tín) cho biết một
hiệp định ngưng bắn sẽ được kư kết ngày 26/10/1972. Kèm theo mật
điện là phương án hướng dẫn việc cấm cờ lấn đất giành dân. Tài liệu
được chuyển khẩn cấp về Bộ Tổng Tham mưu, người viết bài này đă khai
thác tài liệu nói trên và đích thân đến tŕnh bày với tướng Đặng Văn
Quang -Cố vấn An ninh Quốc gia. Sự kiện trên được Ts Hưng tŕnh bày
trong Chương V: Mưu đồ của Kissinger trong sách HSM/DĐL, nhưng ông
đổi ngày 25/10 thành ngày 17/10 năm 1972, để chứng minh sự dối trá
của Kissinger
Việc Ts Nguyễn Tiến Hưng bêu xấu TT Nixon và Kissinger không phải là
mục đích của bài viết này. Mở cửa Bắc Kinh là đường lối chiến lược
của HK nhằm phân hóa khối CS quốc tế giúp Mỹ trở thành siêu cường
quốc duy nhất của thế giới. Giữ măi định kiến mở cửa Trung Cộng, HK
đă phản bội VNCH không có lợi ích ǵ, chỉ để thỏa ḷng thù hận cá
nhân. Tại sao không v́ quốc gia dân tộc, t́m hiểu chủ trương trên
của HK đă giúp VN rút tỉa bài học ǵ để giúp đất nước sớm thoát khỏi
thảm họa hiện nay? Qua hành động mở cửa Bắc Kinh, HK đă cảnh báo
Sàig̣n và sau đó giúp Hà Nội thức tỉnh.
Trong diễn văn nhậm chức ngày 20/1/1969, TT Nixon tuyên bố sẽ chấm
dứt chiến tranh VN trong danh dự và trên căn bản hợp lư được mọi
người chấp nhận, từ đó tạo dựng một nền ḥa b́nh bền vững cho thế
giới. Để đi tiên phong trong mục tiêu này, tháng 6/1969 tại đảo
Guam, Nixon tuyên bố rút 25 ngàn quân Mỹ khỏi MNVN và sẽ tuần tự rút
thêm theo một lịch tŕnh sắp sẵn. Ông cho rằng từ khi Thế chiến II
chấm dứt đến nay, các cuộc xung đột tranh giành ảnh hưởng giữa các
cường quốc tiếp diễn không ngừng. T́nh trạng căng thẳng đó, theo
quan điểm của TC, xuất phát từ tham vọng bá quyền của hai siên cường
Nga và Mỹ. Nay, với sự rút lui của HK, sự đe doạ của chủ nghĩa thực
dân mới không c̣n nữa th́ nghĩa vụ quốc tế của những người CS cũng
không c̣n cần thiết. Nhờ đó hiểm họa của cuộc tranh chấp bá quyền sẽ
giảm đi, nhường chỗ cho giai đoạn ḥa b́nh hợp tác. HK đă thương
thảo với LX về vũ khí chiến lược từ tháng 11/1969 ở Helsinski. HK
dành cho LX hưởng quy chế tối huệ quốc trong việc giao thương và bán
cho LX một số lớn lúa ḿ với giá rẻ và điều kiện thanh toán dễ dàng.
HK thừa nhận TQ là một thực thể chính trị quan trọng cho sự hợp tác
ḥa b́nh, nên không c̣n phủ quyết việc TC xin gia nhập LHQ. Từ 1971,
Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trở thành hội viên chính thức của LHQ và
là thành viên của Hội đồng Bảo An ngang hàng với LX với HK. Đó là cơ
sở để Nixon đến BK và MTK mở ra một kỷ nguyên ḥa b́nh cho thế giới.
Với sự thỏa thuận của LX và TC, HK sẽ chấm dứt chiến tranh VN trong
danh dự, trên căn bản được ba phe VN chấp thuận.
Trước khi đi TC, TT Nixon gởi đến TT Thiệu lá thư đề ngày
31/12/1971. Đây là lá thư đầu tiên trong 27 bức thư của Nixon gởi TT
Thiệu trong giai đoạn 1972-1973. Ông viết: “Nhân lúc đang chuẩn
bị cho chuyến đi Bắc Kinh sắp tới của tôi để gặp gỡ và nói chuyện
với cấp lănh đạo CHNDTH, tôi muốn chia sẻ với Ngài một vài ư nghĩ về
những cuộc đàm thoại tôi trông đợi sẽ diễn ra ở đó. Mục đích chính
là làm sáng tỏ lập trường của chính phủ chúng tôi và của chính phủ
TQ về những vấn đề hiện đang làm hai bên ngăn cách. Những khác biệt
giữa hai bên th́ sâu xa, phức tạp và sẽ không thể giải quyết được
một cách dễ dàng. Tuy nhiên tôi hy vọng rằng những cuộc đàm thoại
này ở BK sẽ là một bước lớn nhất đưa tới việc làm nhẹ bớt những căng
thẳng lâu năm giữa TQ và HK, đó là một diễn biến có thể mang lại lợi
ích trường cửu cho Á châu và toàn thế giới.
Những cuộc đàm phán này sẽ chỉ nhằm vào những vấn đề song phương
giữa TQ và chúng tôi, bao gồm nhiều vấn đề. Do những khác biệt cố
hữu giữa hai bên, vấn đề liên hệ ngoại giao chính thức không được
đặt ra. Ngài có thể tuyệt đối an tâm rằng tôi sẽ không làm một thỏa
hiệp nào tại BK có hại cho các quốc gia khác hoặc về những vấn đề
liên quan đến các quốc gia khác. Giả sử vấn đề chiến tranh VN có
được nêu lên ở BK, tôi xin cam đoan với Ngài rằng tôi sẽ đưa ra lập
trường của HK và của VNCH một cách minh bạch và mạnh mẽ là cuộc
chiến tại VN phải được kết thúc bằng những cuộc thương lượng trực
tiếp với Hà Nội, hoặc nếu không được như thế, th́ bằng khả năng mỗi
ngày một lớn của VNCH để tự vệ chống lại sự xâm lược của Hà Nội. Tôi
muốn cấp lănh đạo TQ hiểu rơ rằng hai chính phủ chúng ta đứng vững
với nhau về vấn đề sinh tử này.
Riêng chuyến viếng thăm của tôi tại Mạc tư Khoa vào tháng 5/1972,
tôi muốn nói rơ là HK không hề có ư định dàn xếp qua mặt những nước
bạn và đồng minh của ḿnh trong bất cứ vấn đề nào liên quan đến an
ninh của họ”.
Ngày 21/2/1972 Nixon đến BK. Trong cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên,
Mao trạch Đông và Nixon đề cập đến t́nh trạng bất ổn định trên thế
giới. Theo Mao, nguyên nhân xuất phát từ tham vọng bá quyền, tranh
giành ảnh hưởng của hai siêu cường. Nixon hỏi: “Đối với Trung
Quốc, th́ sự xâm lăng từ Mỹ hay sự xâm lăng từ Liên Xô, nguy cơ nào
là nghiêm trọng nhất?” Mao trả lời “Nguy cơ từ Liên Xô”.
Khi đề cập đến chiến tranh VN, Mao cho biết là Quân đội TQ sẽ không
vượt qua biên giới của ḿnh, bất chấp những ǵ xảy ra ở Đông Dương.
Ông nói: “Hiện nay vấn đề xâm lược do Mỹ hay do Trung Quốc gây ra
là tương đối nhỏ, v́ các ông muốn rút một phần quân đội của các ông
về đất ḿnh, c̣n quân đội chúng tôi th́ không kéo ra nước ngoài”
(At the present time, the question of aggression from the United
States or aggression from China is relatively small...You want to
withdraw some of your troops back on your soil; ours do not go
abroad) cho thấy LX là mối quan tâm chủ yếu của BK đối với nền an
ninh thế giới. Thông cáo chung Thượng Hải kết thúc chuyến công du
lịch sử của tổng thống HK tại TQ nêu rơ: “Cả hai bên đều không
mưu cầu bá quyền và đều phản đối bất cứ nước nào hay tập đoàn nào cố
gắng thiết lập bá quyền đó ở khu vực Á châu”.
Cuối tháng Ba, BV mở cuộc tấn công mùa Hè 1972, vượt vĩ tuyến 17 tấn
công MN. Ngày 5/4 Nixon chuyển đến TT Thiệu lá thư: “Vào giờ phút
đầy thử thách lớn lao này cho nhân dân VN, tôi cho Ngài biết là Ngài
được sự ủng hộ trọn vẹn của tôi với tư cách tổng thống và tổng tư
lịnh Quân lực HK. Việc Hà Nội tràn qua đường phân ranh tạm thời của
năm 1954 là một sự vi phạm trắng trợn, chẳng những đối với HĐ Genève
1954 mà cả với những điều kiện đă thỏa thuận năm 1968 để HK ngưng
oanh tạc BV...Tôi xin cam đoan với Ngài, chúng tôi sẽ không ngần
ngại thi hành bất cứ biện pháp quân sự nào cần thiết để yểm trợ cuộc
đấu tranh mănh liệt và dũng cảm hiện thời của quí quốc..” Ba hôm
sau, Nixon ra lịnh tái oanh tạc miền Bắc sau 3 năm 5 tháng đ́nh chỉ
để đàm phán ḥa b́nh. Lúc bấy giờ Kissinger đang ở Mạc Tư Khoa để
chuẩn bị cho chuyến đi LX của Nixon vào hạ tuần tháng 5 tới, ông
được chỉ thị phải đ̣i Breznhev chấp nhận hợp tác với HK để ḥa giải
vấn đề VN. Nixon coi đây là điều kiện tiên quyết trước khi thảo luận
các đề tài khác. HK khẳng định sẽ không có một thỏa ước nào với LX
cho đến khi nào LX thuyết phục được Hànội chấm dứt chiến tranh bằng
thương thuyết.
Từ LX trở về, Kissinger mang theo thông điệp của Breznhev cho biết
BV sẵn sàng thương thuyết để chấm dứt cuộc chiến. Nhưng khi đàm phán
tái tục ngày 2/5/72, BV vẫn tỏ ra cứng rắn trong những đ̣i hỏi, đồng
thời tiến hành kế hoạch quân sự bao vây An Lộc. Để chống lại lời tố
cáo của Nixon lên án BV vượt vùng phi quân sự xâm lược NVN, Lê đức
Thọ nói rằng: “bất cứ nơi nào trên đất nước VN bị xâm lược th́
mỗi người VN đều có quyền và nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược để
bảo vệ độc lập và tự do của tổ quốc”. Kissinger mô tả thái độ
của BV khiến ông không thể chịu nổi phải ngưng buổi họp ra về. Việc
LX hứa hẹn thuyết phục Hànội tỏ ra thất bại. Ngày 8/5/72 Nixon ra
lệnh thả ḿn, phong tỏa các cảng Hànội, Hải pḥng. Cùng ngày Nixon
gởi đến TT Thiệu lá thư thông báo quyết định này. Ông xác nhận “Xứ
sở Ngài cũng như xứ sở tôi không bao giờ bắt Hànội phải chịu một sự
thất bại quân sự. Chúng tôi luôn luôn cố gắng chấm dứt cuộc xung đột
qua ngơ thương thuyết bằng cách để cho nhân dân MNVN c̣n được cơ hội
quyết định tương lai ḿnh mà không bị bên ngoài cưỡng ép hay can
thiệp”.
Dù có những hành động quyết liệt đối với Hànội, cuộc họp thượng đỉnh
Nga Mỹ vẫn tiến hành như dự liệu. Nixon cho rằng không có con đường
nào khác tốt hơn cho LX và HK là phải chấm dứt đối đầu và xung đột,
chấp nhận nguyên tắc bất can thiệp, tôn trọng quyền tự quyết của các
dân tộc. Đó là giải pháp giúp các cường quốc rút khỏi các vùng tranh
chấp, tạo bầu không khí hiểu biết lẫn nhau để phát triển mối thân
hữu trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Một loạt dự án hợp tác Nga Mỹ
được vạch ra. Hai bên đă kư một thỏa ước lịch sử về “hạn chế vũ khí
tấn công chiến lược” (SALT)
Sau
khi dàn xếp xong với LX, hạ tuần tháng 6/72 Kissinger được lịnh
Nixon trở lại BK t́m sự thỏa hiệp với TQ để kết thúc chiến tranh VN.
Trong tài liệu mật của Văn khố Quốc gia Mỹ được công bố ngày
26/5/2006 có ghi lại cuộc đối thoại giữa Kissinger và Chu Ân Lai
ngày 20/6/1972. Trước tiên, Chu yêu cầu Kissinger cho biết ư định
của Mỹ giải quyết vấn đề VN như thế nào, và ông sẽ nêu các thắc mắc.
Kissinger cho biết “HK thật tâm muốn chấm dứt cuộc chiến này nên đă
mở đầu thương thuyết với Hànội từ 1967. Chúng tôi quan niệm nước
VNDCCH là một thực tế mạnh nhất ở Đông Dương. Chúng tôi không có lợi
ǵ khi làm tan vỡ hay đánh bại thực thể đó. Tôi không hiểu tại sao
Hànội không thấy được sự việc đó”. Chu góp ư, v́ “Hànội quan tâm đến
chính sách VN hóa chiến tranh của HK”. Kissinger giải thích, v́ “HK
muốn tách rời chuyện chính trị với chuyện quân sự để chúng tôi có
thể rút lui và để cho các lực lượng tại chỗ giải quyết với nhau.
Hànội đ̣i một điều mà chúng tôi không làm được -dù làm tổn thất quan
hệ giữa hai nước chúng ta- là lật đổ một chính quyền bạn. Không phải
v́ HK thương tiếc một cá nhân nào hay thích chính quyền thân Mỹ ở
Sàig̣n. Lư do không làm được là v́ chúng tôi không chấp nhận một
chính sách ngoại giao dựa trên sự phản bội”. Kissinger nói thêm:
“tháng Bảy năm trước, ông thủ tướng nói với tôi ‘TQ sẽ không nói
chuyện với HK chừng nào HK chưa lật đổ chế độ Tưởng giới Thạch ở Đài
Loan’. Chúng tôi đă không làm việc đó dù rất trân trọng quan hệ giữa
hai nước chúng ta”.
Trả lời câu hỏi của Chu: “Nếu sau khi HK rút quân và tù binh được
trao trả hết, chiến tranh bùng nổ trở lại th́ HK sẽ làm ǵ. Tôi thấy
ông khó trả lời câu hỏi này”. Kissinger nói: “Khó trả lời là v́ tôi
không muốn khuyến khích một chuyện như vậy. Nhưng tôi thí dụ như đề
nghị ngưng bắn ngày 8/5 vừa rồi của HK được chấp thuận nghĩa là có 4
tháng để rút quân và 4 tháng để trao trả tù binh, và vào tháng thứ
năm chiến tranh lại bùng nổ th́ chúng tôi phải xem là chúng tôi bị
lừa gạt và đương nhiên chúng tôi không thể chấp nhận. Trái lại, nếu
Hànội thương thuyết một cách nghiêm chỉnh với NVN, và sau một thời
gian dài, chiến tranh bùng nổ lại th́ chúng tôi không trở lại, có
phần chắc là không”.
Khi đề cập đến chính quyền Sàig̣n, Chu cho rằng: “Đó là thảm kịch do
(NT Foster) Dulles tạo ra và bây giờ ông nếm vị chua của nó”.
Kissinger đáp: “Tôi đồng ư với ông, vấn đề trước mắt chúng ta là
thảm kịch VN”. Chu hỏi tiếp: “Nhưng ông có thể rũ bỏ thảm kịch đó?
Kissinger trả lời dứt khoát: “Không. Rút quân th́ được, nhưng HK sẽ
không thuận những điều kiện khác. Tôi đă hội đàm 13 lần, trong đó 8
lần với ông Lê đức Thọ, tôi thường nói với ông ấy ‘cả hai bên nên
đặt mục tiêu thương thuyết cho rơ ràng’, nhưng lần nào ông Thọ cũng
bác bỏ đề nghị của tôi. Họ theo đuổi sách lược quân sự, một mặt để
làm suy yếu chính quyền Sàig̣n, mặt khác phối hợp quân sự với chiến
tranh tâm lư để làm suy yếu chính phủ HK. Và đó là điều chúng tôi
không thể chấp nhận được. V́ vậy, đến giờ này họ vẫn không chịu chấp
nhận bất cứ một nhượng bộ nào cả. Hànội nghĩ họ đang thắng và muốn
làm cho dân chúng HK nghĩ rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa, họ ép chúng
tôi phải nhận các điều kiện của họ. Khi thương thuyết về tù binh, họ
không chịu thương thuyết với chính phủ HK hay với hội Hồng Thập tự
mà lại thương thuyết với phe đối lập”. (McGovern)
Về cuộc tấn công hiện nay của BV, Kissinger cho rằng “Bắc VN lợi
dụng cuộc bầu cử tại HK, tấn công để bắt chẹt chúng tôi phải chấp
nhận các điều kiện của họ mà chúng tôi đă nói là không chấp nhận
được. Chúng tôi thuận các điều kiện khác, nhưng điều kiện lật đổ ông
Thiệu th́ không. Theo tôi, cuộc tấn công của BV đă bị chận đứng và
trong năm nay BV sẽ không có một triển vọng nào về quân sự... Bắc VN
nuôi hy vọng McGovern sẽ thắng trong cuộc bầu cử tháng 11 này. Tôi
nghĩ ông ta khó thắng. Các cuộc thăm ḍ cho thấy ông ta thua Nixon
đến 20 điểm”. Chu hỏi: “Nếu McGovern thắng cử ông ta có lật đổ ông
Thiệu không? Kissinger trả lời “Tôi không chắc”. Chu liền nói “Không
nhất thiết”. Kissinger đồng t́nh “Tôi cũng nghĩ không nhất thiết. Và
cũng đừng quên bề nào chúng tôi cũng c̣n tại chức 7 tháng nữa”.
Kissinger muốn nhắc tới chiến tranh Triều Tiên hồi cuối năm 1952.
Lúc đó liên danh Cộng ḥa Eisenhower vừa đắc cử, Nixon là phó tổng
thống, họ đe dọa dùng bom nguyên tử để sớm kết thúc chiến tranh
Triều Tiên. Bảy tháng sau hiệp định ngừng bắn được kư kết tại Bàn
Môn Điếm, lúc bấy giờ Chu Ân Lai là thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại
giao.
Phần
cuối cuộc đối thoại, Kissinger nhận xét “Nếu McGovern đắc cử
chẳng những chính sách HK đối với VN thay đổi mà c̣n thay đổi trong
các chính sách đối với LX, Ấn độ, Nhật bản…trong khi thực tế là tại
Mỹ khuynh hướng chung là ủng hộ sự cải thiện quan hệ giữa HK và TQ.
V́ vậy chúng tôi tin rằng chấm dứt chiến tranh lúc này có lợi cho cả
hai bên. Nếu chiến tranh c̣n tiếp tục Hànội sẽ mất mát nhiều hơn cái
họ có thể có được. Cuộc tấn công của họ đă bị chận đứng và họ đang
có khó khăn nội bộ và chúng tôi sẽ làm cho nước VNDCCH gặp nhiều khó
khăn ngoài ư muốn của chúng tôi. Chúng tôi không muốn Hànội trở nên
yếu kém”. Cuối cùng Kissinger kết luận “Chúng tôi muốn chấm
dứt chiến tranh VN, cách giải quyết nhanh nhất là ngưng bắn, rút
quân và trao đổi tù binh. Các việc khác để cho tương lai quyết định,
nếu cần chúng tôi có thể tuyên bố trung lập đối với các biến chuyển
chính trị sau này, và chúng tôi sẽ thuyết phục Nam VN cam kết giữ
chính sách đối ngoại trung lập”. Theo Kissinger, phải tách rời
vấn đề quân sự với vấn đề chính trị v́ “bàn về chính trị không
bao giờ dứt. Bàn đến chính trị có nghĩa là duy tŕ chính quyền
Sàig̣n -một điều Hànội không chịu, hay lật đổ chính quyền Sàig̣n -điều
chúng tôi không chịu, và thực tế không có một giải pháp chính trị ở
giữa. Vậy chúng tôi phải t́m con đường khác để chấm dứt chiến tranh.
Trước hết để nó không biến thành một vấn đề quốc tế, và để cho người
Đông Dương tự quyết định số phận của ḿnh. Tôi cam đoan rằng quyền
tự quyết là mục tiêu của HK ở Đông Dương, và tôi tin TQ cũng muốn
thế. Chúng tôi không muốn tranh giành ǵ tại đó”.
Qua cuộc đối thoại trên cho thấy Kissinger đă khôn khéo vận động TQ
thuyết phục BV chấp nhận cách giải quyết chiến tranh của HK. Chu hỏi
Kissinger “Năm trước ông nói là sau khi rút quân và trao đổi tù
binh, chuyện ǵ xảy ra là chuyện nội bộ của người VN”. Kissinger
đáp “Tôi cũng nói mọi chuyện tùy thuộc vào sự can thiệp của bên
ngoài. Nếu chúng ta có thể biến cuộc tranh chấp quốc tế thành một
cuộc tranh chấp địa phương -và ông thủ tướng nghĩ là có thể- th́ đó
chính là chính sách của chúng tôi”. Quả thật, cuộc chiến VN xuất
phát từ sự đối đầu giữa Thế giới Tự do và khối CS trong thế lưỡng
cực Nga Mỹ. Nhưng từ khi TQ tách dần khỏi quỹ đạo LX, tự nhận là
lănh tụ các nước Thế giới thứ ba, được HK nâng lên đứng ngang hàng
với Nga Mỹ, tạo ra thế “ba chân vạc” th́ t́nh h́nh thế giới đă thay
đổi. T́nh h́nh NVN cũng tương tự, lực lượng thứ ba ra đời từ 1970,
họ sẽ là một trong ba thành phần chính trị của một hội đồng, đứng ra
tổ chức cuộc tổng tuyển cử, để người dân thực hiện quyền tự quyết
của ḿnh. Kissinger cam kết “mặc dù chúng tôi không thể mang một
chính quyền CS đến NVN, nhưng nếu nó là kết quả của một diễn biến
chính trị th́ chúng tôi phải chấp nhận kết quả đó”. Khi tài liệu
năm 1972 nói trên được giải mật năm 2006, Kissinger tái xác nhận: “Nếu
họ thoả thuận được một kết quả, một dàn xếp dân chủ, chúng tôi sẽ để
nó phát triển theo tiến tŕnh riêng của nó”, ông nói thêm “chấp nhận
cộng sản nắm quyền không có nghĩa là mong cho việc đó xảy ra”.
Trước áp lực mạnh của HK và do thúc ép của LX và TC cộng với t́nh
h́nh chính trị tại Mỹ cho thấy Nixon sẽ tái đắc cử, BV chấp nhận đàm
phán kết thúc chiến tranh. Từ cuối tháng 7/1972, trong các cuộc mật
đàm, Lê đức Thọ không c̣n đ̣i loại bỏ chính quyền Nguyễn văn Thiệu.
Họ đưa ra đề nghị nhấn mạnh đến “nguyên tắc giải quyết vấn đề nội
bộ miền Nam là phải xuất phát từ t́nh h́nh thực tế có hai chính
quyền và các lực lượng chính trị khác. Do đó cần thành lập ở MNVN
một chính phủ ḥa hợp dân tộc lâm thời gồm ba thành phần ngang nhau
để đảm đang mọi công việc trong thời gian quá độ để tổ chức tổng
tuyển cử thực sự tự do dân chủ”. Sau đó, trong cuộc mật đàm thứ
19, lần đầu tiên BV đồng ư một cuộc ngưng bắn tại chỗ với một giải
pháp chính trị cho MN. Vấn đề duy nhất mà Hànội không chịu nhượng bộ
là việc rút quân. Nixon cho rằng “HK không có cách nào bắt buộc
BV phải nhượng bộ điểm này”. Theo ông “dù VNCH có xoay ngược
được thế cờ, tái chiếm Quảng trị và cố thủ B́nh long nhưng BV vẫn
c̣n chiếm đóng nhiều khu vực rộng lớn ở MN dọc theo khu phi quân sự
và trên vùng cao nguyên. Nếu đi đến ḥa giải lại đ̣i BV phải cho
không những lănh thổ mà VNCH không thể giành lại được, th́ BV sẽ
chọn con đường -thà đừng đi tới ḥa b́nh c̣n hơn. Nếu cứ khăng khăng
đ̣i BV phải rút ra khỏi MNVN th́ ắt đă không có được hiệp định ḥa
b́nh”. Để giải quyết vấn đề này, HK chỉ đ̣i Hànội hứa sẽ không
đưa thêm quân vào MN nữa. Nixon hy vọng nếu BV giữ lời hứa, các lực
lượng của họ ở MN sẽ phải rút ra nếu không th́ tan ră. Đ̣i hỏi của
HK đă được Hànội đồng ư, hai bên chấp nhận một thời biểu để kư hiệp
định vào cuối tháng 10/1972. Nhưng do sự đ̣i hỏi sửa đổi của TT
Thiệu và HK phải dùng B52 dội bom Hà Nội trong mùa Giáng sinh 1972,
hiệp định mới chính thức kư kết ngày 27/1/1973.
TT Nixon đă giữ đúng những lời hứa trong lá thư đề ngày 16/10/1972
gởi TT Thiệu khi Kissinger mang bản dự thảo HĐ Paris đến Sàig̣n tham
khảo với các giới chức VNCH. Nixon đă viết: “Riêng đối với tôi,
th́ điều khoản quan trọng nhất của hiệp định là chính phủ Ngài
cùng quân lực và những định chế chính trị của VNCH sẽ c̣n nguyên vẹn
sau khi cuộc ngưng bắn đă được tôn trọng... và tôi tin chắc rằng
sự thực thi (hiệp định ấy) sẽ cho phép Ngài và dân tộc Ngài có thể
tự bảo vệ và quyết định vận mạng chính trị của MNVN”. HK kỳ vọng
TT Thiệu sẽ thi hành nghiêm chỉnh hiệp định, mời MTGP cử người thành
lập Hội đồng Quốc gia hoà giải dân tộc để tổ chức cuộc tổng tuyển cử
để người dân MN bầu ra một thể chế chính trị mới, một chính quyền
mới. Song TT Thiệu dựa vào lư do quân BV c̣n ở lại MN, nên khước từ
thi hành hiệp định. Ông nghĩ rằng sau khi HK bắt tay TC, nắm được
thị trường rộng lớn này, cũng như hiểm họa bành trướng xâm lược của
Bắc Kinh không c̣n đáng ngại, th́ MN tự do không c̣n quan trọng đối
với quyền lợi của HK. Từ đó ông lên án Mỹ phản bội đồng minh, kư HĐ
Paris 1973 là để rút lui trong danh dự, giao MN cho CS, nên ông
quyết liệt chống đối hiệp định đến cùng.
Trong thời gian từ 21/5 đến 13/6/1973, TT Nixon đă gởi 9 lá thư
khuyến cáo TT Thiệu: “Tôi xin lập lại rằng ước vọng duy nhất của
chúng tôi là muốn thấy bản hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh và
thắt chặt t́nh liên đới với VNCH...Khi ở San Clemente tôi đă nói với
Ngài về việc Quốc hội viện trợ đầy đủ sẽ khó khăn như thế nào. Tuy
nhiên tôi cũng đă tŕnh bày với Ngài rằng chúng tôi sẽ dồn mọi nỗ
lực, không những xin đầy đủ viện trợ cho những nhu cầu hiện tại của
VNCH mà c̣n yểm trợ cho những kế hoạch kinh tế dài hạn mà Ngài vừa
công bố”. Trong lá thư cuối cùng Nixon cảnh báo Thiệu: “Nếu
Ngài tiếp tục từ chối th́ coi như Ngài khước từ toàn bộ chính sách
của tôi hằng ủng hộ Ngài, quư chính phủ và quư quốc. Nếu Ngài lựa
chọn đường lối tiêu cực này, th́ chính Ngài đă vạch ra chính sách
tương lai của HK đối với VN. Tôi sẽ bắt buộc chiều ư Quốc hội và
công luận HK chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính nhân đạo cho
nhân dân Miền Nam...Chẳng cần phải nói dài ḍng, nỗ lực của chúng
tôi trên toàn cơi Đông Dương sẽ chấm dứt”.
Trước khi công du Hoa Lục đến tháng 6/1973, TT Nixon đă gởi 27 lá
thư thông báo cho TT Thiệu kế hoạch chấm dứt chiến tranh của HK. Sự
chống đối hiệp định của ông Thiệu, khiến kế hoạh ḥa b́nh của Nixon
thất bại. Quốc hội Mỹ dựa vào vụ Watergate để áp lực Nixon từ chức
(8/1974), sau đó chấm dứt sự can dự ở Đông Dương. Đầu năm 1979, ba
năm rưỡi sau biến cố 30/4/1975, TC chính thức b́nh thường hoá bang
giao với HK. Tháng 10/1979, Hà Nội công bố bạch thư “Sự thật quan
hệ Việt Nam –Trung Quốc trong 30 năm qua” tố cáo Bắc Kinh nào là
“thực hiện chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền”, nào là
“lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành
bạn nhanh chóng và toàn diện”. Hà Nội c̣n tiết lộ: “Những người
cầm quyền Bắc Kinh c̣n khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam, đừng rút lui
khỏi Đông Nam Á”. Thâm độc hơn nữa, họ t́m cách lôi kéo nhiều tướng
tá và quan chức ngụy quyền Sài G̣n hợp tác với họ, thậm chí cho
người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào những ngày
cuối của chế độ Sài G̣n, để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công
và nổi dậy của quân và dân miền nam Việt Nam”.
Qua văn kiện trên, cho thấy 7 năm sau khi TT Nixon đến TQ, Hà Nội đă
thức tỉnh. Phần thứ của văn kiện tựa đề “Việt Nam trong chiến lược
của Trung Quốc” đă ghi “Trong 30 năm qua, những người lănh đạo
Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố hàng đầu đối với
chiến lược của họ, luôn luôn t́m cách nắm VN. Muốn như vậy, nước VN
phải là một nước không mạnh, không độc lập và lệ thuộc TQ...Chính
sách ngày nay của những người lănh đạo TQ đối với VN, vẫn chỉ là
chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy ngh́n năm qua,
nhằm thôn tính VN, khuất phục nhân dân VN, biến VN thành một chư hầu
của Trung Quốc”.
Phần cuối của văn kiện là “Phần thứ năm: Chính sách bành trướng
của Bắc Kinh, mối đe dọa đối với độc lập dân tộc, ḥa b́nh và ổn
định ở Đông Nam Châu Á” đă ghi: “Mặc dầu cuộc chiến tranh xâm
lược VN tháng 2 năm 1979 đă thất bại thảm hại cả về quân sự và chính
trị, những người lănh đạo TQ vẫn theo đuổi chính sách điên cuồng
chống VN bằng mọi thủ đoạn...Nhưng sớm muộn nhân dân các nước ĐNÁ sẽ
hiểu hiểu rằng chính sách thù địch của Bắc Kinh chống VN đe dọa độc
lập chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ không phải chỉ của riêng VN, mà
của cả các nước trong khu vực. Trong hàng ngh́n năm qua, nước VN đă
bị các hoàng đế TQ xâm lược hàng chục lần, nhân dân VN hiểu rơ những
ư đồ đen tối của những người lănh đạo TQ, cho nên không một phút nào
là không cảnh giác đối với họ”.
Lời kết:
TT Nixon đă cảnh báo TT Thiệu một thời gian dài trước khi MN tự do
sụp đổ. 37 năm đă trôi qua h́nh như nhiều người vẫn chưa nhận thức
được bài học, vẫn giữ măi định kiến cũ. Cũng như giới lănh đạo CS đă
thức tỉnh hiểm họa Bắc thuộc từ 1979. Từ đó đến nay đă 33 năm, trải
qua nhiều biến chuyển của lịch sử, họ vẫn bám sát TQ. Tại sao có
nghịch lư này? Có lẽ v́ quyền lợi cá nhân quá nặng, đă làm mờ ám
lương tri và trí phán xét. Có điều may mắn, là số người này ngày
càng ít đi, v́ tuổi đời chồng chất nhiều người đă lần lượt ôm mối
hận mất quyền lực sang bên kia thế giới. C̣n quyền lực nào bằng
quyền lực của Hosni Mubarak (Ai Cập) của Moammar Khadafy (Lybya)...nhưng
họ vẫn không giữ được trước sự thức tỉnh của nhân dân vào thời đại
ngày nay. Đó là bài học mới mà giới lănh đạo đất nước phải suy ngẫm!!!
Lê
Quế Lâm
Tài liệu tham khảo:
1- Richard Nixon, Memoirs, Sidgwick & Jackson, London, 1978.
2- Henry Kissinger, White House Years, Little, Brown & Co, Toronto,
1979.
3- Nguyễn Tiến Hưng & J.L. Shecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, C & K
Promotions, Los Angeles, 1987.
4- National Security Archieve, Doc 10, P.35 Memorandum of
Conversation with Zhou Enlai, 20 June-1972