Từ
nhiều năm nay, trên các diễn đàn, một nhóm anh em người Việt Nam tỵ
nạn Hải ngoại ủng hộ Giáo sư Vũ Quốc Thúc phổ biến quan điểm phải
vận động với dư luận quốc tế (tại sao phải quốc tế?) để “Việt Nam
hưởng được định chế Trung lập” cho rằng “chỉ có con đường
Trung lập là con đường duy nhứt sống c̣n của dân tộc Việt”.
Cũng từ những năm tháng đó, bạn bè, anh em, chiến hữu điện thoại,
điện thư bàn bạc đề nghị bảo chúng tôi, người viết, phải lên tiếng
để nói đến “cái không tưởng và cái nguy hiểm đặc biệt của
vấn đề nầy, v́ đấy là thuyết của Tàu cộng, v́ trung lập là tách Việt
Nam ra khỏi cộng đồng quốc tế, và với t́nh thế “núi liền núi sông
liền sông, t́nh hữu nghị 16 vàng”, Việt Nam sẽ Hán hoá nhanh chóng
thôi!”.
Tôi vẫn do dự, thứ nhứt v́ nghĩ t́nh thầy tṛ, “Nhứt tự vi sư…” -
Tôi năm 1961, có ghé qua học Trường Luật, không nhớ có học Thầy Thúc
không? nhưng nếu, có may mắn, có học với Thầy, nói không đồng ư với
Thầy, là không phải đạo - thứ hai là thuyết Trung Lập cũng được Thầy
Nguyễn Ngọc Huy nói đến những năm trước 1975 và sau khi ra khỏi nước
vào những năm 1980 lại được Thầy để vào phương châm của Liên minh
Dân chủ do Thầy xây dựng, nay nói rằng ḿnh e dè với trung lập, th́
cũng có những vướng víu với các anh em!. Nhưng đối với Thầy Huy cũng
dễ thôi, v́ Thầy nói hồi Thầy c̣n sanh thời, hồi đó, nhưng đấy là
“mỗi thời, mỗi vẽ - un autre temps, un autre mœurs - o tempo, o
morès”. Mỗi thời một khác, “bên nầy núi Pyrennées khác bên kia núi”.
Vérité au-delà des Pyrennées, erreur en deçà! Đó là nói đến thời xưa,
c̣n thời nay, thế kỷ 21 rồi, c̣n có quốc gia nào trung lập nữa
đâu. Và dù có muốn trung lập đi nữa, th́ có ai để yên cho ḿnh trung
lập đâu?
Hôm nay, nhơn có bài viết của ông đàn anh trong ngành Luật học, Luật
sư Nguyễn Hữu Thống, viết phân tách rất rơ ràng về các định chế
trung lập khác nhau của các quốc gia được mệnh danh là trung lập. Và
cuối cùng ông đàn anh kết luận, hiện nay vẫn không có quốc gia nào
được gọi là trung lập thực sự cả! Và ông anh Luật sư Nguyễn Hữu
Thống khẳng định thêm rằng với Cộng sản không bao giờ có trung lập
và không bao giờ nh́n nhận trung lập, v́ vậy đối với Việt Nam,
con đường duy nhứt để dân tộc Việt sống c̣n là dẹp Đảng Cộng sản
Việt Nam đi!
Đúng vậy! Nhưng chúng ta phải luôn luôn cảnh giác rằng Cộng sản có
cái tật, là khi chưa chiếm đất được, nghĩa là khi chưa thắng, hoặc
khi thất thế nghĩa là sắp thua th́ Cộng sản ưa dụ người “bất măn hay
chống đối” làm những việc mà chế độ Cộng sản cấm, thí dụ như lập
những Phong trào đ̣i Trung lập, đấu tranh cho Ḥa b́nh,…
Nơi nào chưa có Cộng sản cầm quyền, th́ Cộng sản xúi: “nên đấu tranh
giai cấp, nên tổ chức Công đoàn, Nghiệp đoàn thợ thuyền, phải đ́nh
công, băi khóa, xuống đường biểu t́nh …” Nhưng khi nào,
chỗ nào Cộng sản thắng rồi, th́ đấu tranh giai cấp bị cấm,
biểu t́nh cũng cấm, băi khóa đ́nh công dĩ nhiên
cũng cấm và công đoàn nghiệp đấu tranh giai cấp th́ đi tù mọt
gông ngay! Và dĩ nhiên không Trung lập cũng chả Ḥa
b́nh!
Những năm sau 1950, Cộng sản quốc tế, sau khi chiếm đất, bành
trướng ở Đông Âu ngay sau đệ nhị thế chiến cảm thấy chưa đủ, nay
phải tạo ra những Phong trào giải phóng dân tộc, dân tộc tự quyết..
Bức màn sắt nhốt nhơn dân ḿnh chưa đủ, phải xuất cảng chủ nghĩa
cộng sản và chủ nghĩa xă hội, phải xâm nhập, phải chiến tranh giải
phóng, phải tàn phá xóm làng phe địch, v́ phải có tàn phá bởi chiến
tranh mới kêu gọi ḥa b́nh được…: bằng chứng, nầy blocus thành phố
Bálinh năm 1948, nọ chiến tranh Triều tiên 1950… kia chiến tranh
Đông dương 1946… và vẫn chưa đủ! Phải nhuộm đỏ cả thế giới. Phải
… “Giết… và giết măi… cho ruộng đồng tươi mát… cho..Mát cho Lê-nin
…” như một tay đồ tể Việt cộng nào đó đă làm thơ ca tụng.
Và ngay sau 1954, ngay sau Hội nghị Genève, chiến tranh Đông dương
vừa giải quyết xong, Cộng sản đă nghĩ ngay rằng phải nắm và tổ chức
các Phong trào giải phóng các thuộc địa. V́ vậy phải nắm và kiểm
soát các quốc gia cựu thuộc địa vừa được trả Độc lập.
Con đường Trung lập phải là bước đầu, v́ các quốc gia vừa
được trả lại độc lập ấy, không qua chiến tranh giải phóng dân tộc,
không có cuộc cách mạng đấu tranh giai cấp. Vậy phải nghĩ
ngay đến …. phải tạo… một nhóm quốc gia thuộc Thế giới thứ ba, le
Tiers monde, với một Trung quốc vừa mới độc lập, 1949 và với một Chu
Ân Lai, một h́nh ảnh ôn ḥa và Tây học (v́ từng ở Paris!) và Nehru,
hưởng hơi của Thánh Gandhi ôn ḥa!, Cho nên, v́ vậy phải tổ chức
ngay một Hội nghị các quốc gia vừa mới hưởng độc lập ấy! Hội nghị
Bandung phải ra đời!
Hội nghị Bandung đă đề ra thuyết Trung lập Chủ nghĩa
(Neutralisme) với một đường lối ngoại giao chánh trị gọi là
không-tham-dự (non-alignement). Lúc ấy là năm 1955, Cộng sản đă
có những cơ sở vững chắc với các tiểu quốc vừa được các đại cường
quốc thực dân Anh Pháp Ḥa Lan trả độc lập, nên những lănh tụ đầu
tiên được gọi là cha đẻ của những nước vừa trả độc lập, như Ai cập
với Nasser, Nam dương với Soekarno, Ấn độ với Nehru, chưa kể những
anh cà chớn như N’Krumah, Sihanouk, Hồ chí Minh, Chu Ân Lai…đều là
những tay Mác-xít cả. Cộng sản bèn tổ chức các quốc gia vừa được độc
lập thành các quốc gia Đệ Tam Thế giới - Le Tiers Monde, lập lại
h́nh ảnh biểu tượng của Tiers État, giai cấp thứ ba, giai cấp hành
động của thời Đại Cách Mạng Pháp 1789, quên rằng những người của
Tiers État làm Cách mạng đă lạm dụng máy chém – guillotine - để làm
Cách Mạng. Và cũng v́ Tiers État hỗn loạn ấy mới có sự độc tài của
Napoléon và Đế quốc Pháp…!
Cũng xin nhắc nhở lại là ngoài định chế trung lập cổ truyền của Thụy
Sĩ và của Thụy điển, định chế trung lập của nước Áo (năm 1955) là
một trường hợp rất đặc biệt. Nền Trung lập Áo là do Liên sô đề
nghị với dụng đích dùng Áo làm trái độn để vượt bức tường sắt.
Cộng sản bao giờ cũng tạo một bức tường sắt không cho quần chúng
ḿnh ra vào, nhưng bao giờ cũng muốn chủ nghĩa ḿnh vượt tường sắt
cả.
Không phải một sự ngẫu nhiên mà ngay vừa sau Hội nghị Genève chấm
dứt Chiến tranh Đông dương năm 1954, qua năm sau, năm 1955 là năm ra
đời của Trung lập chủ nghĩa (neutralisme) với nhóm Bandung và
Tiers Monde và định chế trung lập (neutralité).
Định chế Trung lập năm 1955
được Liên Sô đề nghị với Anh Mỹ Pháp, cho
Áo và Đức (với cả hai nước Đức, sẽ hợp lại) - nhưng Tây Đức
từ chối - với bài diễn văn khẳng định nhơn dân Tây Đức theo
giá trị chánh trị và chánh sách kinh tế phương Tây (Westbindung)
của Thủ tướng Konrad Adenauer (Hội nghị Paris 1955).
Đó là hai món vũ khí mà Cộng sản đă sử dụng vào những năm 1955/1956!
Tức cười thay khi chính Tướng De Gaulle là tay thực dân đă không
chịu trả Độc lập lại cho Đông dương - bằng cách phái Tướng Leclerc
qua lấy lại Nam kỳ và cho Đại tá Céd́lle thành lập Cộng ḥa Nam Kỳ -
République de la Cochinchine cuối năm 1945 - lại là tay hô hào Trung
lập và Độc lập vào năm 1956/1957 với hai bài diễn văn, một về Đông
dương Trung lập ở Pnom Pênh (Cao Miên) năm 1956 và một về Québec Độc
lập ở Montréal với khẩu hiệu “Vive le Québec libre” vào tháng 7 năm
1957 (Hoan hô Québec Tự do!). Vậy mà thuyết Trung lập Đông dương ấy
cũng được vài nhơn sĩ Nam kỳ Việt Nam cổ vơ.
Trước năm 1975, cái “tư tưởng Trung lập nửa vời” nầy đă ám ảnh tư
tưởng một số các chánh trị gia miền Nam Việt Nam (Hồ Hữu Tường, Lê
Doăn Kim, Nguyễn Ngọc Huy, Vũ Quốc Thúc…) một thời gian dài. Trái
lại với cùng thời gian ấy miền Bắc Việt Nam, v́ độc tài Cộng sản,
nên không có chánh trị gia mà cũng chẳng có tư tưởng chánh trị ǵ cả.
1/ Trung lập chủ nghĩa:
Thuyết trung lập chủ nghĩa (neutralisme)
của nhóm Bandung chủ xướng bởi Soekarno, Tổng thống Nam dương-Indonesia ;
với Nehru, Thủ tướng Ấn độ ; với Sihanouk Vua Cao miên và đặc biệt
với Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Cộng cùng Nasser lănh tụ Ai-cập thân
Liên-Sô, (của những năm 1954/195) được gọi là thuyết của nhóm
Bandung v́ ra đời ngay tại Hội nghị Bandung ở Indonesia.
Hội Nghị Bandung bắt đầu ngày 18 và bế mạc ngày 24 tháng 4 năm 1955,
với 29 nước tham dự cùng với nước chủ nhà Namdương là 30 nước tất cả:
15 nước Á châu, trong đó có hai nước Việt Nam là Quốc gia Việt
Nam và Cộng ḥa Dân chủ Việt Nam ; 6 nước Châu Phi và 9 quốc gia
Trung Đông đánh dấu sự hiện diện của một thế giới thứ ba – le Tiers
monde – tuy không nhứt thiết là tất cả tán thành thuyết trung lập
nhưng tất cả đều tố cáo chế độ thực dân và đ̣i hỏi tất cả các thuộc
địa đều phải lấy lại Độc lập và Tự do.
2 / Định chế trung lập và chương tŕnh Hợp tác Ḥa b́nh:
Với Chương tŕnh Hợp tác cho Ḥa b́nh -
Partenariat pour la Paix PPP – Partnership for Peace
PfP của Tổ Chức Liên Pḥng Bắc Đại Tây Dương – Organisation
du Traité de l’’Atlantique Nord OTAN – North Atlantic Traity
Organisation NATO, không c̣n một quốc gia nào được gọi
là Trung lập nữa kể cả Thụy Sĩ là một quốc gia có truyền thống
Trung lập từ 1815!
Chương tŕnh Hợp tác cho Ḥa b́nh
thành h́nh từ những năm 1990, ngay sau bức tường Bálinh sụp đổ, nay
gồm 22 quốc gia, gia nhập phần đông vào những năm 1994/1995 họp với
26 quốc gia thành viên đă biến Tổ chức NATO thành một tổ chức, thoạt
tiên chỉ để pḥng thủ khối Tây Âu và đối lập với Khối Varsovie Đông
Âu Cộng Sản trong bối cảnh Chiến tranh lạnh thôi, ngày nay đă thành
một khối pḥng thủ liên lục địa Âu - Á để chống Khủng bố! … hay
chống Islam? hay chống Trung Quốc? V́ ngày hôm nay với sự tham dự
của Liên bang Nga và chư hầu Mông cổ, NATO đă ngồi ngay phía Bắc của
Trung Quốc. Sự hợp tác của ba quốc gia Hồi giáo cựu Sô-viết,
Tadjikistan, Kazakhstan, Kirghizstan giúp NATO (Âu Mỹ?) giữ được mạn
phía Tây Trung Cộng, ấy là chưa kể những lỗ hổng do vùng Tây cương
Hồi giáo của Trung Quốc với những phong trào chống đối đ̣i dân chủ
hay tự chủ tạo thành.
C̣n các quốc gia có truyền thống trung lập?
Thụy Sĩ đă gia nhập chương tŕnh PfP năm 1996, Áo năm 1995, Phần Lan
và Thụy Điển 1994. Với cái dù quân sự NATO, thử hỏi định chế
Trung lập c̣n giữ phần trong sáng của ḿnh không?
3/ Định chế trung Lập thường trực của Thụy Sĩ:
Sự trung lập thường trực của Thụy Sĩ được đề nghị ngày 20 tháng 3
năm 1815 tại Hội nghị Vienne, bởi Tứ cường Anh Áo Phổ Nga. Nhưng
phải chờ đến Hoà ước Paris kư ngày 20 tháng 11 năm
1815, 4 quốc gia liên quân thắng trận (thắng quân Pháp của
Napoléon đệ Nhứt sau trận Waterloo) mới cùng với quốc gia Pháp bại
trận, ban và nh́n nhận định chế trung lập cho Thụy Sĩ, bảo đảm sự
toàn vẹn và sự bất khả xâm phạm của toàn lănh thổ nước Thụy Sĩ.
Khi nói đến Trung lập, chúng ta phải nói rơ Quyền lực của Trung
lập –Droit de neutralité và Chánh sách Trung lập- Politique
de neutralité.
Quyền lực hay Luật lệ của Trung lập
được Công ước La Haye (Hoà lan) theo Công Pháp quốc tế nh́n nhận năm
1907 và sẽ được áp dụng với hiệu quả khi có một cuộc tranh chấp bằng
vũ lực xảy ra. Quyền lực trung lập được thiết lập trên căn bản
bổn phận vô tư –devoir d’impartialité và không can
thiệp-la non-imtervention vào cuộc tranh chấp và nh́n nhận quyền
một quốc gia trung lập có quyền không tham dự. Thụy Sĩ đă
nh́n nhận và đă kư kết Công ước nói về những đặc quyền và những
bổn phận của các quốc gia và các cá nhơn trung lập trong trường hợp
xảy ra chiến tranh trên bộ - Convention concernant les
droits et les devoirs des puissances et des personnes neutres en cas
de guerre sur terre năm 1907.
Chánh sách Trung lập, trong thời b́nh, chủ yếu nhắm vào phương
thức sử dụng, vào giá trị và vào sự hiệu quả thực sự của định
chế trung lập. Chánh sách trung lập, có thể uyển chuyển để bám
sát vào t́nh thế chánh trị. Thụy Sĩ vẫn luôn luôn sử dụng định chế
trung lập như một phương tiện thích ứng với chánh sách an ninh và
chánh sách ngoại giao của ḿnh.
Thụy Sĩ sử dụng định chế trung lập với những chức năng sau đây để:
. Tạo một cơ chế quốc gia ổn định: mục đích là ổn định quốc
nội và đoàn kết quốc gia.
. Tạo nền chánh trị và một nền an ninh độc lập: áp dụng một
nền chánh trị ngoại giao độc lập và một chánh sách an ninh hoàn toàn
Thụy Sĩ.
. Bảo đảm một nền tự do thương mại.
. Bảo đảm một sự cân bằng cho châu Âu: Đó là cái lư do đầu
tiên của sự thành lập một Thuỵ Sĩ trung lập sau cuộc tranh chấp dài
hạn của Đế quốc Pháp của Napoléon và các cường quốc Âu Châu lúc bấy
giờ: Anh, Áo, Phổ, Nga. Tạo một định chế trung lập cho một Thụy Sĩ
là một sự đóng góp lớn vào sự ổn định, giữ một phần thăng bằng cho
châu Âu.
Và cuối cùng làm một anh trung gian, môi giới, can
gián, trọng tài… làm một nơi dung ḥa cho những cuộc tranh chấp,
đàm phán. Thụy Sĩ và thành phố Genève Tin lành Calviniste, thật thà,
đạo hạnh, ḥa nhă … nằm trên hồ Léman thơ mộng, êm ả là nơi lư tưởng
để có những ḥa đàm, những đàm phán, những thương thuyết…
Thụy Sĩ và Trung lập:
Ngày nay, với sự hiện diện những trụ sở quốc tế, với sự hiện diện
của các ngân hàng, Thụy Sĩ vẫn được thế giới xem là một quốc gia
trung lập. Trung lập của Thụy Sĩ ngày hôm nay vượt khỏi định chế (chánh
trị hay cơ chế) trung lập. Trung lập Thụy Sĩ ngày hôm nay được hiểu
ở ngay trong cái không khí, cái nếp sống, cái xử sự của người dân
Thụy Sĩ…Ôn ḥa, êm ả, nhỏ nhẹ, sang trọng nhưng rất đạo hạnh, kín
đáo, không ṭ ṃ, không can dự, thản nhiên…
Thụy Sĩ vẫn quảng cáo nền trung lập của ḿnh, xem như là một triết
lư trung lập, một tập tục trung lập, một thói quen trung lập, một
nhơn sanh quan trung lập nhơn bản, ôn ḥa, ḥa hoàn,... Có lẽ cũng
nhờ đến sự có mặt của Hội Hồng Thập tự? Hội Hồng Thập tự đă biết sử
dụng mầu sắc và h́nh ảnh của quốc kỳ Thụy Sĩ làm logo (nhưng ngược
lại: thập tự màu đỏ thay là thập tự màu trắng của quốc kỳ) Và cũng
xin phép đính chánh với ông đàn anh Luật sư Nguyễn Hữu Thống rằng cờ
của Hội Hồng Thập Tự không dùng quốc kỳ của Thụy Sĩ! Quốc kỳ Thụy Sĩ
Thập tự (croix- cross) mầu trắng trên nền cờ đỏ. Logo Hồng thập tự
là một chữ thập đỏ (Croix –cross) trên nền trắng. Cờ trắng là lá
cờ hưu chiến, le drapeau blanc (hưu chiến chớ không phải đầu
hàng). Trái lại thập tự đỏ được vẽ giống thập tự trắng của cờ Thụy
Sĩ, có lẽ do Henry Dunant là người gốc Genève vẽ chăng?
Thoạt đầu, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhờ định chế trung lập
thường trực, nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế đặt trụ sở tại Genève,
trong đó có Hội Liên Quốc (Société des Nations) thành lập sau Thế
chiến thứ Nhứt, và quan trọng hơn cả, Hội Hồng Thập tự!
Hội Hồng Thập Tự:
Hội Hồng Thập tự ra đời năm 1878 do Henry Dunant sáng lập. Henry
Dunant (1828 -1910) sanh quán tại Genève, gia đ́nh giáo hữu Tin lành
calviniste, lớn lên trong không khí đạo đức và việc thiện của Hội
thánh và gia đ́nh. Tháng 6 năm 1859, Henry Dunant, đă là một thương
gia thành công giàu có, ông có dịp đi qua gần thành phố Ư Soférino,
thuộc vùng Lombardie. Ngày 24 tháng 6, tại Soférino đă xảy ra một
trận chiến khốc liệt giữa hai quân đội, một bên là Liên quân Pháp –
Sardes, Hoàng đế Napoléon đệ Tam hứa giúp Vua Victor-Emmanuel đệ Nhị
thống nhứt nước Ư chống lại quân đội của HoHoàng
đế Đế quốc Áo - Hung François –Joseph. Cuộc chiến long trời lở đất.
300, 000 quân tham chiến cả hai bên, vũ khí tối tân, đại bác tân
thời, kỹ thuật chiến tranh hiện đại và số thương tử vong cũng v́ vậy
rất cao, trên 40 ngàn người…. thế nhưng, kỹ thuật cấp cứu vẫn c̣n
lạc hậu, bị thương sơ sài cũng có thể chết v́ thiếu vệ sinh, chết v́
nhiễm trùng nhiều hơn tử thương. Henry Dunant chứng kiến và rất xúc
động, lập tức ông huy động dân chúng trong vùng tổ chức cấp cứu,
không cần những cơ quan quân y. Ông viết thư huy động gia đ́nh và
Hội thánh Genève để gởi người và phương tiện đến Solférino để tổ
chức hậu cần y tế. Về lại Thụy Sĩ, ông đi diễn thuyết và tổ chức Ủy
ban quốc tế cứu trợ các thương binh ngay năm sau, 1960, (Comité
international de Secours aux militaires blessés). Đại Hội đầu tiên
của Ủy ban vào năm 1864, và đến năm 1878, Ủy ban lấy tên là Hội Hồng
Thập tự. Ngày nay, Hội được gọi tắc là Hồng Thập tự (La Croix Rouge)
hoặc Lưỡi liềm Đỏ (La Croissant Rouge) là tên dùng khi hoạt động
trong những quốc gia Hồi giáo, v́ Chữ Thập thường được hiểu là Thiên
chúa giáo.
Henry Dunant, song tịch Pháp-Thụy Sĩ, nhận giải Nobel Ḥa b́nh đầu
tiên năm 1901 cùng với nhà tranh đấu Ḥa b́nh Pháp Frédéric Passy.
Ông mất năm 1910, trong hoàn cảnh túng thiếu, tất cả tài sản đều
hiến cho việc thiện cả.
4/ Trung lập Áo:
Trường hợp Áo quốc được định chế trung lập, như chúng tôi đă tŕnh
bày ở phần mở đầu, trong một trường hợp rất đặc biệt. Đặc biệt do
t́nh h́nh chánh trị và cũng do t́nh h́nh địa thế của nước Áo. Từ năm
1945 đến 1955, Áo cũng như Đức là một quốc gia bại trận. Áo bị xem
như là lănh thổ của Đức quốc Xă do biến cố Anschluss năm 1941: cùng
ngôn ngữ, cùng dân tộc (Hitler gốc người Áo, sanh ở Vienne – Wien).
Năm 1955, Molotov, ngoại trưởng Liên Sô nghĩ rằng Áo quốc nhờ địa lư
sẽ là cửa ngơ ra phía Tây. Một bức màn sắt đă trải dài từ Bắc Hải
xuống Địa trung Hải, nhưng nếu quư vị nh́n vào bản đồ quư vị sẽ nh́n
thấy Áo như một ngón tay chỉ thẳng đi dọc theo biên giới phía Nam
của Đức đâm thẳng đến Thụy Sĩ. Nếu vẫn giữ chia 4 vùng do đồng minh
chiếm đóng, Liên Sô vẫn c̣n xa phương Tây, v́ vùng Liên Sô chiếm
đóng vẫn ở sau một bức màn sắt và vẫn bị ba vùng chiếm của ba cường
quốc kia cản mũi. Và nếu tạo một Áo quốc trung lập sẽ tạo thành một
hành lang – corridor thoát ra từ bức màn sắt thọc ngay vào trung tâm
Âu châu.
Năm 1955, đă mười năm chiến tranh lạnh rồi.
Từ ngày, một bên Mỹ và thế giới Tự do, với chủ thuyết Truman “be bờ
- Containment”, tấn công phe Cộng sản với Chương tŕnh Marshall viện
trợ cho Tây Âu và tái kiến thiết vùng chiếm đóng Tây Đức (qua năm
1949 biến thành Cộng Hoà Liên bang Tây Đức), với bài diễn văn của
Churchill đọc tại Westminster College ở Fulton, Missouri ngày 5
tháng 3 1946, cho ra đời từ ngữ: “Bức màn sắt – The iron curtain” tố
cáo sự độc tài và thiếu dân chủ sau bức màn sắt và kêu gọi thế giới
tự do phải giải phóng các nước hiện đang bị ḱm kẹp “sau bức màn sắt”.
Và một bên Liên Sô và phe Cộng sản, trả đũa, phản pháo, (nhưng rút
cuộc vẫn mất mặt v́ cuộc bế môn tỏa cảng – blocus Bálinh năm 1948
thất bại), và trả lời cuộc tấn công của phe Tư bản bằng cuộc Họp
Kominform, năm 1947, họp các quốc gia Cộng sản thành một khối và bài
diễn văn khai mạc của Andrei Jdanov, đệ tử thân thuộc của Staline,
đưa ra chủ thuyết Andrei Jdanov, là “…Cộng sản phải cướp chánh quyền
trên toàn thế giới… Cộng sản phải nhuộm đỏ thế giới.”. Những ngày ấy
đánh dấu cuộc chiến tranh đă bắt đầu lạnh.
Chủ thuyết Trung lập là một vũ khí tự nhiên của Cộng sản để chống
phe Tự do.
V́ Trung lập sẽ phá vỡ thuyết Truman “Containtement – be bờ”. Năm
1955, Molotov viện cớ năm 1941, khi Hitler quyết định Abschluss Áo.
Thế giới và đặc biệt Liên Sô đă phản đối Hitler và xem Áo là một nạn
nhơn. V́ vậy, nước Áo không được xem là một lănh thổ của Đức, phải
được xem là một quốc gia vừa được giải phóng, các cường quốc thắng
trận không được chiếm đóng nữa! (sau 10 năm chiếm đóng và gieo hạt
nhân chủ nghĩa Cộng sản cho ¼ dân Áo). Và để Áo khỏi phải lựa chọn
chế độ, (lựa chọn phe Cộng sản chủ nghĩa hay phe Tự do), Áo được
Liên Sô đề nghị trao định chế Trung lập.
Định chế Trung lập Áo (immerwährence Neutralität Österreichs) được
Hiến Pháp Áo đưa thành luật Trung Lập (Nautralitätsgesetz) do Quốc
Hội Áo chấp nhận ngày 26 tháng 10 năm 1955 sau khi định chế Trung
lập Áo được sự thỏa thuận giữa 4 cường quốc chiếm đóng
bằng một Hiệp Ước (Staasvertrag) kư ngày 15 tháng 5 năm 1955, tại
Wien – Vienne.
Và như chúng tôi đă nói phần trước, Đức cũng được đề nghị như vậy
nhưng nhơn dân Đức qua Thủ tướng Konrad Adenauer từ chối và ra chủ
thuyết chánh trị Westbindung, là bám vào Tây phương.
Ngày nay, Áo đă kư hợp tác Ḥa b́nh trong chương tŕnh PPP-PfP với
NATO rồi. Áo cũng là một thành viên Liên Âu. Liệu Áo c̣n định chế
Trung lập không?
Chuyện bên lề:
Năm 1956, dân chúng Budapest, thủ đô Hung gia Lợi thấy Áo được Liên
Sô đề nghị trung lập, cũng xuống đường đ̣i Liên Sô cho đất nước ḿnh
hưởng định chế trung lập. Nhưng Liên Sô không bằng ḷng, và đă dùng
xe tăng dẹp biểu t́nh trong biển máu...
Kết luận và bài học:
Liên Sô chỉ nói trung lập cho một quốc gia nào mà Liên Sô không kiểm
soát được, c̣n đă là một xứ sở đă do Cộng sản kiểm soát rồi, th́
Cộng sản không bao giờ cho Trung Lập.
V́ vậy quư vị nào lấy định chế trung lập Áo làm thí dụ để vận động
xin thế giới cho Việt Nam ḿnh Trung lập, xin hăy nh́n gương
Budapest năm 1956. (Cũng năm 1956, Quỳnh Lưu ở Việt Nam, tưởng ḿnh
là xứ Bác Hồ cũng xuống đường ọ ẹ xin xỏ, cũng bị Cộng sản dẹp trong
máu).
5 / Thay lời Kết:
Vậy th́ nếu không có con đường trung lập, Việt Nam phải làm ǵ để tự
cứu ḿnh?
a/Theo gương Tây Đức?
Tây Đức tuyên bố Westbindung, Việt Nam tuyên bố theo giá trị của tự
do, nhơn bản dân tộc. Tuyên bố bang giao với các bạn láng giềng,
giao du, lập liên minh đồng minh với các bạn láng giềng Đông Nam Á
và Nam Thái b́nh Dương, chống sự bành trướng phương Bắc. Giữ vững
lănh hải, lănh thổ và các hải đảo của ḿnh.
Đó là phần người trong nước.
b/ C̣n người Hải ngoại?
Người Hải ngoại vừa qua đă chứng minh sức mạnh của ḿnh. Với 150,
000 chữ kư cho thỉnh nguyện thư gởi cho Tổng thống Obama nhờ Obama
quan tâm đến Nhơn quyền và Tự do Tôn giáo ở Việt Nam. Tại sao chúng
ta không thừa cơn gió đoàn kết của 150; 000 người nầy để tạo một
bức thỉnh nguyện thư kêu gọi tất cả đồng bào hải ngoại rằng
chúng ta tẩy chay không về Việt Nam du lịch, thăm nhà
hay ăn Tết, không gởi tiền về Việt Nam, không buôn
bán với Việt Nam. Thử trong ṿng một năm thôi! Thử hạn chế thôi,
chỉ gởi về những tiếp tế, thuốc men, số tiền cần thiết thôi. Chắc
chắn chúng ta cũng giúp Ư Kiến hay tạo một động lực cho người dân
trong nước đ̣i Đảng cầm quyền phải đặt lại vấn đề chánh thống và hợp
pháp của ḿnh.
Chỉ có khi nào Đảng Cộng sản xuống,
hoặc chỉ có khi nào người Cộng sản tỉnh ngộ lột bỏ cái áo
Cộng sản mặc cái áo dân tộc và nói chuyện với những người dân chủ
Việt Nam, cùng nhau tổ chức bầu cử tự do để t́m những lănh đạo do
dân bầu, lúc ấy Việt Nam mới thật sự được giải phóng.
Đó là con đường duy nhứt để dân tộc Việt sống c̣n.
Dẹp ba cái chuyện Trung lập đi!
Mong lắm!
Tuần 2/ Tháng tư 2012
Phan Văn Song