Trần Láng Biển
Quê
tôi tháng sáu trời bắt đầu nhiễu hột, đến tháng 9 tháng 10, mùa nước
nổi, nước lũ từ Đồng Tháp Mười đổ về ngập trắng đồng. Nước xô ào ạt
vào xóm làng, trôi nhà cửa vườn tược, xô ngă lúa ngoài ruộng đồng;
nước lênh láng váng phèn quần xoáy trôi dạt. . . .
Người lớn lo cột chặt nhà cửa, nâng sàn ván chất đồ đạc lên cao
không bị ướt; ghe xuồng sẵn sàng để di chuyển trên mặt nước, vớt cây
củi, nhà cửa bị trôi, cứu hộ bà con cḥm xóm lâm nạn thuỷ tai. Bọn
con nít vô tư lự ḿnh trần quần cụt, hễ vắng mặt người lớn là nhào
xuống nước bơi lội thoả thích, vớt chà cây, săn nhặt đồ vật trôi
quanh. Trời gió lạnh mau đói bụng đ̣i cơm, mới chịu ngồi im một chỗ.
Sợ tôi theo con nít hàng xóm rủ nhau vọc nước nghịch ngợm, mẹ tôi
vừa ngồi vơng đưa em, vừa bắt tôi học chữ, đọc bài.
Xóm nghèo chỉ có vài chục hộ nông dân, ai cũng nghèo sát đất, ít
người đi học, dốt mặt chữ quốc ngữ. Không có trường học, không có
thầy giáo, lũ trẻ trong xóm đến 5, 7 tuổi đă biết theo cha mẹ ra
đồng chăn trâu cắt cỏ, lội rạch ṃ cua bắt ốc, không đứa nào biết
chữ.
Lên 7 tuổi mẹ tôi bắt con học “lén ở nhà”, để lớn lên khỏi dốt văn
mù chữ. Cha tôi muốn con học chữ nghĩa của ông bà, bắt đọc Tam Tự
Kinh:
Rừng nho biển thánh khôn ḍ
Nhỏ mà không học lớn ṃ sao ra?
Nhân hữu học như hoà như đạo
Nhân bất học như cảo như thảo!
Thiên là trời, địa:
đất; thất: mất; tồn: c̣n; tử: con, tôn: cháu; lục: sáu; tam:ba;
gia: nhà; quốc: nước; tiên: trước; hậu:sau; ngưu: trâu; mă: ngựa. .
. . . . . .

Sách Tam Tự Kinh
Mẹ tôi th́ khác, theo tân học. V́ bà là cựu học sanh học chữ quốc
ngữ, học hết lớp nhứt trường Áo Tím trên Sài G̣n, theo chồng về quê
sống mộc mạc mai danh ẩn tích. Nếu cha tôi là học tṛ chữ nho đọc
Tam Tự Kinh, trọng lễ nghĩa nho phong, th́ mẹ tôi là người tân học,
biết đọc nhựt tŕnh, kể chuyện Saigon, chuyện bên Tây. Nhưng mẹ tôi
kín đáo, ít giao thiệp bên ngoài, an phận thủ thường với chồng con.
Mẹ bắt tôi học chữ Quốc ngữ, nhưng vẫn giữ lối dạy con của bà mẹ xưa,
làm buổi lễ cho ngày “khai trí, vỡ ḷng” cho con như sau:
-Nấu một nồi chè xôi lễ ông bà, đĩa chuối cúng ông địa; đốt đèn lên
cúng ngọ, thắp ba cây nhang cúng ông bà trên bàn thờ gia tiên. Xin
phép tổ tông cho thằng con học chữ thánh hiền, vái ông địa giữ vía
thằng nhỏ?
-Bắt con khoanh tay, xếp bằng ngồi trên vạt giường. Trước mặt để
cuốn vần “Em tập học vần Quốc Ngữ ABC”, có vẽ h́nh đầu
con chó con gà, mặc quần áo như người cầm bút cầm sách, bên cạnh là
cây roi mây, một tấm bảng đá đen khung cây và một mẫu phấn trắng.
Con nhỏ em tôi thấy sợ, lén đứng trong kẹt nhà, cúi mặt khóc thút
thít, làm như tôi sắp bị mẹ làm thịt anh nó!
Mẹ tôi vừa nhịp roi vừa bắt tôi lập lại từng lời:
“Con là Trần Láng Biển, . . . hôm nay là ngày lành tháng tốt, . . .
. con xin phép ông bà, xin phép cha mẹ cho con học chữ thánh hiền(?).
. ”.
Mẹ tôi cầm cục phấn viết lên bảng đá chữ A, đưa phấn bắt tôi đồ theo.
Tiếp tục chữ B, chữ C. Mẹ nói: “Hôm nay con học ba chữ đủ rồi,
mai học tiếp. Bây giờ đọc theo mẹ!” Bà cầm tập vần lên, dở những
trang sau ra đọc, mỗi câu tôi phải lập lại ba lần:
Ăn th́ vóc, học th́ hay
Chớ ngũ ngày quen con mắt
Chớ chơi ác, rách áo quần. . . .
Về sau này tôi phải học thuộc ḷng thêm nhiều câu, hằng ngày trả bài
cho mẹ:
. . . . . . . Ăn chưa no lo chưa tới
Ăn th́ có, ó th́ không
Của một đồng, công một lượng
Công th́ thưởng, tội th́ trừng
Đặng chẳng mừng, mất không lo
Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày
Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
Cha mẹ cú đẻ con tiên
Cha mẹ hiền sanh con thảo
Ngày đầu chỉ học 3 chữ và nghe 3 câu mẹ dạy, anh em tôi được ăn chè
của ông bà cho, ăn chuối của ông địa thưởng, nên cảm thấy học chữ
cũng có lợi trước mắt. Con nhỏ em gái cũng đ̣i mẹ cho “đi học” như
anh nó, nhưng mẹ nói chờ cho thằng anh mày học trước đă.
Nh́n chữ in trong quyển vần, tôi cóp chữ sang bảng đá. Tôi không
thông minh mà hay lo ra, nên học được chữ này quên chữ kia. – “Đưa
tay ra, khẻ tay cho nhớ!” mẹ nói, “Ráng nh́n mặt chữ, viết
cho trúng!” Tôi vừa g̣ chữ vừa liếc nh́n cây roi trong tay mẹ,
trong bụng nghĩ tức ḿnh cho cái chữ ǵ mà khó nhớ, khó viết quá!
Khi tập viết vào vở, mẹ tôi dạy cách ngồi thẳng lưng trên ghế, ngực
không t́ vào cạnh bàn, tay trái giữ trên bàn cho thân cân bằng không
ẹo qua ẹo lại, bàn tay phải cầm bút cho chặt. Mẹ dạy: “học tṛ
mới đi học, dùng mực tím, học tṛ lớn viết mực xanh (?); chấm mực,
không để ng̣i viết chạm mũi vào đáy b́nh làm cong ng̣i; chữ c̣n ướt
chờ cho ráo hay dùng giấy thấm (chậm) cho mau khô”. Tập viết vào
vở học tṛ c̣n khó hơn, dù có lằn vạch hàng lối, nhưng bàn tay non
nớt chưa biết cầm cây bút cho chặt, chừa lề, canh cho đúng hàng.
Nét chữ lớn dùng ng̣i viết rong như khi viết chữ hoa tiêu đề hay chữ
đầu bài cho đẹp, chữ thường viết bằng ng̣i lá tre, ng̣i viết rè là
khi bị tà đầu hay chập đầu. Mực viên hay bột có ba màu tím xanh đỏ,
pha nước đựng trong ve bằng thuỷ tinh trong cho dễ thấy. Những ngày
mới đi học tại nhà, tay chơn quần áo tôi dính đầy vết mực xanh tím,
chữ viết xiên quẹo, bỏ hàng ḅ lên rớt xuống, cha tôi chê: “Viết
chữ như cua ḅ, gà bới!” mẹ nói: “Thằng này lớn tánh ngang
tàng!”.
Sợ tôi mê nghe hát máy cải lương vọng cổ, bị tiêm nhiễm những câu
nói, bắt chước hát theo người lớn, mẹ tôi tập cho hát nhạc mới:
Trăng ḱa trăng lú lên
Chị em ḿnh xúm xích ngồi chơi
Rồi đàn địch bài bản tân thời
Cất tiếng hát theo cô Madelaine!
(không
rơ xuất xứ)
Hay bài Ḷng mẹ Việt Nam của nhạc sĩ Lê Thương:
Bà tư bán hàng có bốn người con
Thằng hai đă lớn ba em hăy c̣n
Học theo các trường nay đă thành khôn
Năm loạn lạc kia trong nước Việt Nam
Mấy con của bà đều lên lối đường
Đầu quân chiến trường theo chí người
dân
Đem thân lên đường xông pha chiến
trường
Đành ḷng bỏ xa gia đ́nh từ đó
Kiếp sống tung hoành quên thân xác
ḿnh
Hằng mong ước thành công lớn về sau
Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên
Suốt ba năm liền bà tư mẫu hiền
Ngày đêm khấn nguyện cho mấy người
con
V
ào những
năm 40 của thế kỷ trước ở Việt Nam h́nh như chưa có những bài ca ru
em, bài hát mẫu giáo tân nhạc tiếng Việt. Mẹ tôi hay mượn hai
bài nhạc ru em tiếng Pháp để dỗ con ngủ:
(Lời
Việt phóng tác)
Con bướm vàng
Ḱa con bướm vàng, ḱa con bướm vàng.
X̣e đôi cánh, x̣e đôi cánh
Tung cánh bay năm ba ṿng
Tung cánh bay năm ba ṿng.
Ra mà xem, ra mà xem.
(Tạm dịch)
Đêm trăng thanh
Đêm trăng thanh
Bạn Pierrot ơi!
Cho tôi mượn cây viết
Để tôi viết một từ
Hằng ngày mẹ ru em, hay hát:
Ầu ơ. . . ơ. . . . . ví dầu. . . . . . .
cầu ván ư. . . ư. . . đóng đinh;
cầu tre. . . ơ. . . lắc lẻo ơ. . .
gập gh́nh. . . ơ. . . khó đi. . . . .
Khó đi. . . mẹ dắt con di. . . .
Con đi trụng học. . . mẹ thi trường đời
Tuổi thơ tôi chưa hiểu hết ư nghĩa lời ru của mẹ, nói lên tâm sự mẹ
hiền nuôi dạy cho con khôn lớn, lo cho con đi học dù cho đời mẹ vất
vả v́ con.
Và bà mẹ Việt
Nam luôn lo cho các con:
“Học theo các trường nay đă thành khôn”
Nhớ
lời
mẹ dạy, mẹ cầm tay tập viết từng nét chữ vụng về,
tôi đă cố gắng chăm chỉ học hành. Nay thành khôn th́
từ mẫu đă không c̣n để phụng dưỡng báo hiếu.