Trần Hải
Phải
chăng nước Mỹ đă hết thời?
Cuối thế kỷ 20 nước Mỹ đă có một thập niên “hoàng kim”
nhưng tiếp nối sau đó, đầu thế kỷ 21 là một thập niên của tai ương,
làm xói ṃn uy tín và uy thế của nước Mỹ, dẫn đến câu hỏi này.
Với thập niên 90 đă có bao nhiêu điều tốt lành diễn
ra với Mỹ: Liên Xô khai tử, chiến thắng ngoạn mục trong cuộc chiến
Iraq lần thứ nhất, sự bùng nổ của kỹ nghệ điện toán v.v… Chào mừng
thiên niên kỷ mới, chính quyền Bill Clinton c̣n đoan chắc rằng
thế kỷ 21 sẽ là Thế
kỷ Mỹ: American Century.
Tuy nhiên sau
đó th́ những nhược điểm của nền kinh tế và chính trị Mỹ đă bộc lộ.
Sự sụp đổ của kỹ nghệ dot.com, cuộc đếm phiếu bằng tay gây tranh căi
giữa hai ứng cử viên George W. Bush và Al Gore, vụ khủng bố
11.9.2001, t́nh trạng sa lầy tại hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq,
vụ khủng hoảng tài chính 2008 với sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng
Mỹ.
Năm ngoái, tờ Hoàn Cầu Thời báo (Global Times)
phụ trương của Nhân dân nhật báo, đăng bài của Long Đạo (Long Tao),
b́nh luận về vai tṛ của Mỹ tại khu vực Á châu. Bài viết mang tên
“US has no stomach for South China Sea military clash” đăng trong số
ra ngày 30.10.2011, tạm dịch: “Mỹ không c̣n hơi sức để đánh nhau
trên Biển Đông”.
Tác giả là một chuyên viên phân tích chiến lược của
Ủy ban Quỹ Năng lượng (Energy Fund Committee), một “think-tank” (nghiên
cứu chiến lược) chuyên về chính sách năng lượng. Đây là một tổ chức
do các thế lực diều hâu ủng hộ, luôn cổ xuư việc chiếm lấy các nguồn
dầu lửa tại Biển Đông.
Theo họ Long th́ Mỹ hiện không c̣n sức lực và ư chí
để lao vào một cuộc xung đột vũ trang và nếu Trung Quốc cứ làm mạnh
là Mỹ sẽ chột dạ, co ṿi lại.
Cũng một giọng với Long Đạo, tại Úc đă có nhiều người
báo động: Mỹ đă đi xuống, Úc phải bỏ mối quan hệ đồng minh truyền
thống để bắt tay với tân siêu cường Trung Quốc. Trong số naỳ có Hugh
White, Giáo sư về bang giao quốc tế tại Trung tâm nghiên cứu chiến
lược và quốc pḥng thuộc phân khoa Á châu – Thái b́nh dương của Đại
học Quốc gia Úc; có cựu Thủ tướng Paul Keating v.v...
Những người thuộc phe “bỏ Mỹ hàng Trung” này khuyên
chính phủ liên bang nên tránh, đừng động đến những vấn đề nhạy cảm
với Trung Quốc như Tây Tạng, nhân quyền v.v.. để giữ quan hệ “hữu
hăo”.
Tháng 8 năm 2011 một nhà b́nh luận nổi tiếng của Mỹ
là Thomas Friedman, từng đoạt giải Pulitzer, cho xuất bản cuốn
That Used to Be Us: How America Fell Behind in the World It Invented
and How We Can Come Back (Tạm dịch: Chúng ta đă từng như thế:
Nước Mỹ đă tụt bước với cái thế giới nó đă phát minh và làm thế nào
để trở lại thời kỳ vàng son của ḿnh) cũng chỉ để nêu một vấn đề
nói trên.
Friedman nh́n vào những nước có nền kinh tế ổn định
hơn kinh tế Mỹ và cho rằng trước đây Mỹ cũng đầy động lực như thế,
tại sao hiện tại nước Mỹ tụt hậu?
Trong sách tác giả viện dẫn những con số thâm thủng
ngân sách khổng lồ của nước Mỹ để so sánh với mức tăng trưởng liên
tục của Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và các nền kinh tế
khác.
Trong khi đó th́ việc Mỹ bất lực không giải quyết vấn
đề hạt nhân với Iran và Bắc Hàn, việc Mỹ lúng túng ứng phó với biến
động ở thế giới Ả Rập khiến một số nhà b́nh luận nhắc đến sự suy tàn
của “uy quyền Mỹ” và cho rằng cái thời Mỹ “lănh đạo thế giới và buộc
các nước khác làm theo ḿnh đă qua rồi”.
Phải chăng nước Mỹ đă thực sự hết thời?
Có nhiều người tin vào cái nh́n bi quan nhưng có
nhiều người phản bác. Theo họ th́ nước Mỹ chưa thực sự hết thời và
nước Mỹ vẫn mạnh. C̣n nếu nói khác một chút như nhà nghiên cứu
Stephen M. Walt trên tạp chí Foreign Policy ngày 26.1.2012
th́ câu hỏi trên là câu hỏi sai v́ thế giới tương lai sẽ là một thế
giới đa cực chứ không phải đơn cực, tuy nhiên câu trả lời vẫn vậy:
trong thế giới đa cực này, Mỹ vẫn tiếp tục là trụ cột mạnh nhất.
Trong bài “Not Fade Away” (Chưa phai tàn) đăng trên
tạp chí The New Republic ngày 2-2-2012, tác giả Robert Kagan
đă phản bác các lập luận của giới bi quan. Theo ông th́ phần lớn
giới này chỉ đưa ra những phân tích sơ sài, đầy cảm tính.
Bài học lịch
sử
Robert Kagan, trong tiểu luận đă dẫn ở trên, cho
rằng những nhà bi quan chỉ đưa ra nhận định trên dựa vào những biến
động tại Mỹ và thế giới chỉ trong một vài năm và điều này không đúng.
Sự suy tàn của một siêu cường là hệ quả từ những dịch
chuyển về sự phối trí của nhiều nguồn sức mạnh khác nhau trên thế
giới, mà những thay đổi đó thường xảy ra trong những quăng thời gian
dài. Những đại cường hiếm khi đột ngột suy tàn. Một cuộc chiến tranh
có thể khiến họ sụp đổ, nhưng ngay cả điều đó thường là một triệu
chứng của một quá tŕnh lâu dài hơn.
Một thời Tây Ban Nha là một đế quốc, dựa trên nguồn
tài nguyên từ các thuộc địa. Để thay thế vị thế của Tây Ban Nha, Anh
đă tấn công và chặt đứt các thuộc địa của Tây Ban Nha. Việc này kéo
dài trong mấy chục năm và Anh đă thành công, trở thành một đại cường.
Sau đó th́ đến sự suy tàn của Đế quốc Anh và việc cũng diễn ra trong
mấy chục năm, sau khi Anh bị mất hết thuộc địa.
Tây Ban Nha từng là một trong những đế quốc lớn nhất
thế giới và là một trong những đế quốc toàn cầu đầu tiên trên thế
giới và đế quốc này xây dựng từ nguồn tài nguyên của các thuộc điạ.
Vào thế kỷ thứ 15 và 16 Tây Ban Nha đă đi đầu thế
giới trong việc thám hiểm các vùng đất lạ cũng như mở các lộ tŕnh
giao thương qua đại dương, phát triển thương mại xuyên Đại Tây Dương
và xuyên Thái B́nh Dương. Nước này cũng dẫn đầu thế giới trong việc
chinh phục thuộc địa đă lật đổ những nền văn minh Aztec, Inca, Maya
và tuyên bố chủ quyền với một dải đất bao la ở Bắc và Nam Mỹ.
Từ giữa thế kỷ 16, vàng bạc từ Châu Mỹ đă tăng cường
sức mạnh quân sự và Tây Ban Nha đă thống trị các đại dương nhờ hạm
đội tàu giàu kinh nghiệm và hùng mạnh bậc nhất thế giới. Tây Ban Nhà
c̣n thống trị những chiến trường ở Châu Âu với một lực lượng bộ binh
dày dạn và thiện chiến có tên là tercios. Đến thế kỷ 17 và 18, Tây
Ban Nha có được một lănh thổ rộng lớn nhất trên thế giới.
Nhưng rồi thời kỳ vàng son này đi xuống với sự cạnh
tranh của Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan, nhất là Anh. Để phá vỡ sức mạnh
của Tây Ban Nha, Anh chủ trương tăng cường hải quân để cạnh tranh
quyền làm chủ biển cả và để chặt đứt các thuộc địa nuôi sống đế quốc
Tây Ban Nha.
Và quá tŕnh này không thể diễn ra trong một vài năm
mà phải mất hàng chục năm.
Giành giật biển cả và các thuộc địa từ tay Tây Ban
Nha hay xâm chiếm các thuộc địa mới, Anh đă vươn lên thành đế quốc
to lớn chưa từng có trên thế giới trong suốt một thế kỷ. Và trong
suốt một thế kỷ, mặt trời đă không bao giờ lặn trên đất Anh.
Tính tới năm 1922, đế quốc Anh bao gồm những khu vực
có dân số khoảng 458 triệu người, chiếm 1/8 dân số thế giới lúc đó
và bao phủ diện tích hơn 33 triệu cây số vuông, tức xấp xỉ một phần
tư diện tích trái đất.
Nhưng sự phát triển vượt bậc của Đức và Mỹ cuối thế
kỷ 19 đă làm xói ṃn vai tṛ dẫn đầu về kinh tế của Anh. Sau đó
những mâu thuận kinh tế và chính trị giữa Đức và Anh đă làm bùng nổ
Đệ nhất thế chiến và để chiến thắng, Anh phải trông dựa vào nguồn
tài nguyên của các thuộc địa. Sau đó th́ đến Đệ nhị thế chiến và Anh
không chỉ bị hao tổn tài nguyên mà c̣n mất uy thế chính trị khi bị
Nhật giành giật hết thuộc địa tại Đông Nam Á.
Tiến tŕnh “hết thời” của Đế quốc Anh diễn ra trong
mấy chục năm, không chỉ một vài năm.
Và
các con số
Mất thuộc địa là mất đi các nguồn tài nguyên làm nên
sức mạnh của ḿnh nên hai đế quốc Tây Ban Nha và Anh lần lượt sụp đổ,
c̣n nước Mỹ hiện tại th́ sao?
Thứ nhất, chúng ta có thể thấy rằng kinh tế Mỹ chủ
yếu dựa trên thị trường nội địa và sức mạnh Mỹ không chủ yếu đến từ
các thuộc địa.
Thứ hai chúng ta có thể căn cứ vào các con số mà
Robert Kagan đă lưu ư. Năm 1870 Anh chiếm hơn 30 phần trăm tổng sản
lượng kỹ nghệ thế giới, năm 1900 th́ bị sụt xuống 20 phần trăm, năm
1910 là 15 phần trăm.
Cùng thời kỳ đó th́ với Mỹ đă từ 20 phần trăm lên đến
hơn 25 phần trăm. Ngoài ra Anh cũng bị Đức qua mặt. Đức thua xa Anh
trong suốt thế kỷ 19 nhưng đă đuổi kịp rồi qua mặt ngay trong thập
niên đầu của thế kỷ 20.
Sức mạnh kinh tế đẻ ra sức mạnh quân sự. Từ vị thế bá
chủ biển cả, Hải quân Anh đă đánh mất quyền kiểm soát các đại dương
khi những cường quốc hải quân lần lượt xuất hiện.
Năm 1883, số tàu chiến Anh cao hơn tàu chiến của tất
cả cường quốc khác, đến năm 1897 chính quyền Anh thú nhận hải quân
của ḿnh “hoàn toàn thua xa” Mỹ ở Tây bán cầu, thua Nhật ở Đông Á.
Tại Âu châu th́ Anh sẽ không chống nổi cùng một lúc hai đối thủ Pháp
và Nga trong khi Đức cũng vươn lên.
C̣n Mỹ hiện tại th́ sao?
Bất chấp nạn suy thoái kinh tế, vị thế của Mỹ trên
thế giới chưa thay đổi. Tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Mỹ vẫn ổn
định đáng kể, không chỉ trong thập niên vừa qua mà cả trong bốn thập
niên qua: Năm 1969, GDP của Mỹ chiếm một phần tư tổng sản lượng kinh
tế toàn cầu và hiện tại tỉ lệ đó vẫn là khoảng một phần tư. Hiện tại
Mỹ vẫn giữ vị trí nền kinh tế không chỉ lớn nhất mà c̣n giàu nhất
thế giới.
Đành rằng Trung Quốc, Ấn Độ đang tăng trưởng liên tục
nhưng hai nước này chỉ tăng với cái giá mà Nhật cùng một số nước
Châu Á khác cùng Âu châu phải trả: khi Ấn và Trung lên th́ tỷ lệ GDP
của các nơi này giảm dần trong cái bánh kinh tế của toàn kinh tế thế
giới.
Robert Kagan viết: “Dựa vào những thước đo quân sự và
kinh tế này th́ nước Mỹ ngày nay ít ra cũng chẳng giống ǵ với nước
Anh khoảng năm 1900, khi sự suy tàn tương đối của đế quốc đó bắt đầu
lộ rơ. Nước Mỹ ngày nay giống với nước Anh khoảng năm 1870 hơn, khi
đế quốc này đang ở đỉnh cao sức mạnh. Có thể tưởng tượng ra một thời
điểm khi mà điều này không c̣n đúng nữa, nhưng thời khắc đó hiện
chưa đến.”
Sức mạnh Mỹ bị đe doạ hơn bao giờ
hết?
Khủng hoảng kinh tế, cuộc chiến tại Iraq,
Afghanistan dẫn đến câu hỏi “hết thời” hiện tại.
Những nhà bi
quan chủ nghĩa cho rằng cái thời
Mỹ “lănh đạo thế giới và buộc các nước khác làm theo
ḿnh đă qua rồi”, thế nhưng cái “quá khứ hoàng kim” nói trên chỉ là
một ảo tưởng: Theo Kagan chưa bao giờ nước Mỹ “thụ hưởng” một tư thế
hào hùng như thế.
Bắt đầu từ thời Mỹ lănh đạo Chiến tranh Lạnh và đó
không hề là thời kỳ lănh đạo tuyệt đối. Dù rằng Mỹ đă đạt những
thành tựu phi thường như Kế hoạch Marshall tái thiết Âu châu, xây
dựng Bắc pḥng Đại Tây Dương (NATO), thành lập Liên Hiệp Quốc, xây
dựng thống kinh tế Bretton Woods và những điều này đă định h́nh nên
thế giới hiện tại. Tuy nhiên Mỹ đă vấp váp với không ít thất bại ê
chề.
Năm 1949 Cộng sản cầm quyền ở Trung Quốc và đây được
Mỹ xem là thảm họa lợi ích của Mỹ tại khu vực. Cùng lúc đó, một
“thảm hoạ” khác lại xảy ra khi Nga chế được bom nguyên tử.
Chưa hết, tin xấu lại dồn dập kéo đến: chỉ năm sau,
với sự ủng hộ của Trung Cộng, Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên
và cuộc chiến này khiến Mỹ bị thiệt hại nặng với gần 100,000 thương
binh và trên 35,000 binh sĩ thiệt mạng, nghĩa là giống hệt chiến
tranh Việt Nam và giống hệt chiến tranh Iraq.
Cũng như bây giờ, lúc đó chính giới và giới b́nh luận
Mỹ không ngớt báo động, ta thán v́ ngày tàn của siêu cường Mỹ.
Bản phúc tŕnh chiến lược của Hội đồng An ninh Quốc
gia Mỹ soạn ngày 14/4/1950 dưới thời tổng thống Harry Truman, giúp
định h́nh chính sách đối ngoại của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh, đă báo
động về ngày tàn này.
Bản phúc tŕnh báo động về “sự sút giảm trầm trọng về
sức mạnh của thế giới tự do so với Liên Xô và những nước chư hầu của
Liên Xô” nếu những xu hướng hiện tại tiếp tục diễn ra. Nó báo động
về những hệ quả cho “tính toàn vẹn và khả năng sống c̣n của hệ thống
chúng ta” và cho rằng nước Mỹ đang đối mặt với mối nguy hiểm cao
“hơn bao giờ hết trong lịch sử của chúng ta”.
Sau đó hai năm, trong bài diễn văn Hội nghị Toàn quốc
Đảng Cộng ḥa 1952, cựu Đại tướng Douglas MacArthur đă khuyến cáo
những “thay đổi đáng báo động về cán cân sức mạnh thế giới”, về
“gánh nặng ngày càng tăng của những cam kết ngân sách”, về “sức mạnh
đang tăng lên của Liên Xô”, và “sự suy tàn tương đối của nước Mỹ”.
Năm năm sau, nước Mỹ lại sốt vó báo động. Trong bản
báo cáo mang tên “Deterrence & Survival in the Nuclear Age” (Ngăn
chặn và sống c̣n trong thời đại hạt nhân) đệ tŕnh lên Tổng thống
Eisenhower, Ủy ban Cố vấn Khoa học đă báo động về kiếm khuyết của
nền quốc pḥng Mỹ và đề nghị nâng cao năng lực tấn công và pḥng thủ
chiến lược của Mỹ. Văn bản này được gọi là Phúc tŕnh Gaither, theo
tên của chủ tịch Ủy ban Horace Rowan Gaither.
Theo Ủy ban Gaither th́ nền kinh tế Nga đang tăng
trưởng với tốc độ nhanh hơn kinh tế Mỹ và đến năm 1959 Nga sẽ có thể
đánh trúng Mỹ với một trăm hoả tiễn đạn đạo liên lục địa. Báo động
này đă khiến Sam Rayburn, Chủ tịch Hạ viện lúc đó, chất vấn ngành
hành pháp: “Một nền kinh tế vững vàng và ngân sách cân bằng th́ ích
ǵ nếu chúng ta để đồng bào mất mạng và đồng rúp Nga thành đồng tiền
của đất nước?”
[c̣n tiếp một kỳ]