Năm
nay coi như không có mùa hè đối với dân câu cá ở vùng tôi ở. Mưa
liên miên. Nước thường đục ngầu mà cũng chẳng mấy khi nóng đủ cho
các loại cá mùa hè như cá hanh, cá đục, cá chai...hoạt động cho nên
nhiều hôm tôi cứ xách cần về không và ca bài “ra đi hy vọng tràn
trề, trở về thất vọng năo nề bấy nhiêu”. Chợt nhớ lại cái thời
vàng son khi tôi c̣n mặc quần thủng đáy mà đă có thể câu cá đủ cho
bữa ăn chiều của cả gia đ́nh. Cứ mỗi chiều khi tan học, lũ nhóc con
chúng tôi xách cần câu tre kéo nhau ra hai bên bờ sông gần nhà. Mũi
dăi chưa sạch, nói năng c̣n ngọng nghệu vậy mà cũng bắt chước cái
giọng người lớn để khoe: “Đủ nướng đủ kho đủ cho mẹ vợ”. Ngày
nay, phải trả tiền mới có giấy phép câu cá, lại câu ở những nơi chỉ
dành cho dân câu cá, vậy mà nhiều lúc không đủ ăn chứ đừng nói tới
chuyện cho mẹ vợ! Thèm cá, nhưng không muốn vào chợ cá. Phần th́ cá
không được tươi, nguồn gốc của cá đánh bắt đôi khi đáng nghi ngờ,
giá lại mắc mỏ. Nhứt là năm nay, mất mùa cá, mấy tiệm bán cá chặt
đẹp. Hôm chúa nhựt vừa rồi, ghé vào một tiệm cá ở Hornsby, Bắc
Sydney, thấy người ta tranh nhau mua đồ biển mà bắt sợ. Giá một kư
cua thôi cũng bằng tiền cá tôi ăn một hai tuần lễ. Hỏi ra mới biết
đang là Mùa Chay của Kitô giáo!
Lạ quá. “Đạo”, nếu
hiểu như là việc không bỏ lễ Chúa Nhựt và tuân theo một số “giới răn”
của Giáo hội, th́ chẳng c̣n mấy ai giữ trong xă hội này. Nhưng cái
truyền thống kiêng thịt và ăn cá trong mỗi ngày thứ sáu của Mùa Chay
th́ xem ra người ta lại thích “giữ”. Thật ra, có lẽ chỉ có “dân giàu”
mới sính với truyền thống này, bởi v́ chỉ có dân giàu mới có dư tiền
để mua đồ biển. Té ra, trong tôn giáo, người giàu vẫn sướng hơn kẻ
nghèo! “Chay” cũng có của ngon dở, mắc rẻ.
Lúc nhỏ và ngay cả
trong một quăng thời gian dài của tuổi trưởng thành, tôi cứ phải
“vật lộn” để tuân giữ luật lệ của Giáo hội tôi, nhứt là luật về
kiêng khem và chay tịnh. Tôi c̣n nhớ, cứ đến ngày thứ sáu trong Mùa
Chay, th́ mẹ tôi, theo chỉ dẫn của các nhà “thông luật” trong Giáo
hội thời đó, dặn các chị tôi rất kỹ: đi chợ phải mua cho bằng được
thịt của loài sống dưới nước như cua, tôm, cá và ngay cả “gà nước”,
con vít (rùa biển) v.v... C̣n “ăn chay” th́ đối với tôi chẳng khác
nào chuyện “đu giây”. Mẹ tôi cứ dặn đi dặn lại: ăn chay là sáng ăn
thật ít, trưa ăn thật nhiều và tối phải canh làm sao để không ít như
sáng mà cũng chẳng nhiều như trưa. Giữ luật Giáo hội mà chẳng khác
nào làm toán để cân đo đong đếm cho đúng liều lượng! Nhiều bữa lỡ
quên hay “thèm” quá mà ăn quá chén, thế là tiêu một ngày giữ chay,
lương tâm lại bị “cắn rứt” v́ không tuân giữ luật Giáo hội!
Ngày nay, cảm thấy
ḿnh phải trưởng thành hơn trong việc giữ Đạo, tôi nhận thấy rằng
trong việc chay tịnh, điều quan trọng không phải là thịt hay cá, ăn
ít hay ăn nhiều, mà chính là chiến đấu chống lại tính ích kỷ, ḷng
tham lam để biết sống vị tha hơn. Càng tiến tới trong tuổi đời, tôi
càng nghiệm ra rằng tham là cội rễ của mọi sự dữ. Tham th́ giàu hay
nghèo ai cũng có. Mà tham th́ không chỉ có tham tiền, mà c̣n tham
quyền, tham thế lực, tham được hơn hay thống trị trên người khác nữa.
Mới đây, trên báo
mạng Đàn Chim Việt, bài viết có tựa để “Cặp đôi hoàn hảo Chuyên
Chính và Tham Nhũng” của tiến sĩ Hà Sĩ Phu đă gợi lên cho nhiều ư
tưởng để suy niệm trong Mùa Chay. Tác giả trích dẫn một quy luật bất
di dịch là câu nói bất hủ của Nam tước Anh John Dalberg Acton (1834-
1902) “Quyền lực có xu hướng tham nhũng, mà quyền lực tuyệt đối
th́ tham nhũng tuyệt đối” (Power tends to corrupt and absolute
power corrupts absolutely). Trong bài viết, tác giả lên án thái độ
vô liêm sỉ của thủ tướng Việt nam Nguyễn Tấn Dũng khi ông này chỉ
đạo phải “xóa nguồn gốc tạo đặc quyền, đặc lợi!” Một cách cụ thể,
phải thêm nhiều giải pháp mạnh, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu.
Theo tác giả Hà sĩ Phu, phải tuyệt đối vô liêm sỉ mới có đủ trơ trẽn
để vừa củng cố cái nguồn gốc của đặc quyền đặc lợi là chủ nghĩa cộng
sản lại vừa kêu gọi chống tham nhũng. Hà sĩ Phu viết: “Nguồn gốc
là ở đấy, nay thủ tướng lại hô hào “Xóa nguồn gốc của đặc quyền, đặc
lợi” tức là tự xóa ḿnh, th́ xóa thế nào? V́ thế, dù người chỉ huy
Pḥng chống tham nhũng là thủ tướng, là tổng bí thư hay chủ tịch
nước hay chủ tịch quốc hội cũng đều không giải quyết được nạn tham
nhũng, v́ phân tích căn nguyên như trên th́ họ đều liên quan trực
tiếp hay gián tiếp đến tham nhũng, đều gặp những khó khăn không giải
quyết được”.
Đă tham quyền th́
nhũng lạm. Quyền lực hay đúng hơn ḷng tham quyền lực làm cho con
người ra mù quáng.
Cũng trên báo mạng
Đàn Chim Việt, bài viết có tựa đề “Nghĩ muộn” của một tác
giả nổi tiếng trong nước là nhà văn Nguyễn Khải cũng xoay quanh vấn
đề quyền lực và nhân cách. Nhà văn Nguyễn Khải khẳng định rằng “trong
những tham vọng của con người th́ tham vọng quyền lực là tệ hại nhất,
nguy hiểm nhất. Nhân loại đă từng chết đi sống lại nhiều lần v́ cái
tham vọng có sức phá hoại ghê gớm ấy. Bất cứ cái ǵ một khi đă bị
quyền lực chạm tới đều lập tức biến chất thành hư hỏng, ruỗng nát.
Khoa học, văn chương, tôn giáo, học thuyết là những kết tinh rực rỡ
nhất của trí tuệ con người, nhưng do ăn chung ở đụng lâu dài với
quyền lực nên dần dần trở thành tôi tớ cho quyền lưc, bị đem ra phục
vụ cho những mục tiêu xấu xa nhất, củng cố quyền lực của một tập
đoàn, một quốc gia hay để thống trị các tập đoàn khác, quốc gia khác.”
(x. Đàn chim việt info 7/3/2012). Chỉ tiếc một điều là v́ chưa đủ
tỉnh táo và sáng suốt để t́m được “cái tôi đă mất” do cả một
đời uốn cong ng̣i bút làm văn nô cho chế độ cho nên nhà văn Nguyễn
Khải mới ca ngợi rằng “trong thế kỷ 20 như tôi được biết có ba
nhân vật mà quyền lực không thể đụng chạm tới lư tưởng và nhân cách
cao quư của họ. Đó là Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh và Nelson Mandela”.
Bảo rằng Hồ Chí Minh không để cho quyền lực thống trị và điều khiển
th́ chẳng khác nào ca ngợi công đức của Hitler, Stalin và Mao Trạch
Đông!
Không nghe nói đến
chuyện ông Hồ Chí Minh tham nhũng. Thật ra, sống “thanh đạm” mà lúc
nào cũng có kẻ hầu người hạ như ông th́ cũng quá cha thiên hạ rồi (ông
vẫn tự xưng là cha già dân tộc mà). Nhưng chủ trương lấy cứu cánh
biện minh cho phương tiện, sử dụng bất cứ thủ đoạn nào, nhứt là hăm
hại người khác và ngay cả dối trá, lừa bịp để thu tóm quyền lực
trong tay và để được tôn thờ như một vị thánh, một người như thế mà
bảo quyền lực “không thể đụng chạm tới lư tưởng và nhân cách cao quư”
ư?
Quyền lực, xét cho
cùng, vẫn là điểm nhắm của ḷng tham. Con người có chạy theo tiền
của là để có quyền lực. Hiện nay, báo chí Úc nói nhiều đến cuộc
tranh giành trong gia đ́nh bà Gina Ginehart, người cự phú hầm mỏ
hiện đang được coi là người giàu có nhứt nước Úc và trong tương lai
không những trở thành người phụ nữ giàu nhứt thế giới, mà c̣n có thể
là người giàu nhứt hành tinh. Ngoại trừ cô con gái út Ginia Rinehart
là người đứng về phe bà, cả ba người con khác đều cấu kết với nhau
để đưa người mẹ ra ṭa. Chuyện chưa ngă ngũ và trắng đen c̣n tùy
thuộc ở mấy tấc lưỡi của mấy ông “thày căi”. Nhưng người đứng ngoài
nh́n vô chắc chắn ai cũng thấy “khó coi”. Mẹ con với nhau mà chỉ v́
miếng ăn, dù miếng ăn ấy có béo bở đến đâu, để đến nổi vác chiếu ra
ṭa, nghe chẳng c̣n thể thống ǵ nữa! Những người con của bà
Ginehart chắc chắn chỉ nhắm tới món tiền kết xù trước mắt. C̣n bà
Ginehart, trước viễn tượng của chiếc vương miện được làm người giàu
nhứt thế giới sẽ được đội trên đầu, xem ra vẫn muốn ăn thua đủ với
con cái ḿnh. Tiền bạc và quyền lực đàng sau tiền bạc quả là một
mănh lực khủng khiếp!
Nước Úc “miệt dưới”
coi vậy mà cũng có nhiều chuyện để được thế giới chú ư đến. Cũng
may, bên cạnh cuộc tranh giành chẳng mấy tốt đẹp trong gia đ́nh bà
Ginehart, Úc đại lợi lại nổi tiếng với h́nh ảnh của một người mà,
trong phụ trương “AustralianMagazine” số ra cuối tuần qua, nhựt báo
The Australian gọi là “người đàn ông với cái bắt tay bằng vàng”.
Mấy tuần qua, các cơ quan truyền thông lớn trên thế giới như
BBC, CNN và báo chí tại 61 nước trên thế giới đều nhắc đến tên ông:
Ken Grenda, chủ nhân của Công ty xe buưt nổi tiếng tại Melbourne
“The Grenda Corporation”. Ông Ken Grenda được thế giới nhắc đến với
tất cả nể phục là bởi v́ sau khi bán công ty, ông đă trích ra 15
triệu Úc kim để làm quà cho khoảng 1750 nhân viên của công ty, từ
tài xế, đến thợ máy và kế toán viên...Mọi người ai cũng ngạc nhiên
khi thấy trong tài khoản của ḿnh một số tiền bất ngờ. Có người, khi
nhận được trong sổ băng số tiền 12 ngàn Úc kim, nghĩ rằng đă có sai
lầm trong sổ lương của công ty.
Dĩ nhiên, ông Ken
Grenda không hào sảng một cách “đột xuất” hay để đền bù một số bất
công mà công ty đă phạm đối với các nhân viên trong suốt 65 năm qua.
Ḷng quảng đại của ông là thể hiện của một triết lư sống mà ông đă
không ngừng đeo đuổi trong suốt thời gian quản lư công ty của gia
đ́nh.
Vợ ông, bà
Margaret, kể lại rằng vào thập niên 60, sau tuần trăng mật, ông bảo
bà ngồi xuống ghế rồi nói một cách nghiêm chỉnh như sau:
“Anh có điều muốn nói với em. Anh muốn em đối xử với
các nhân viên của chúng ta như thể là người trong gia đ́nh. Họ cũng
là người tốt như chúng ta. Họ b́nh đẳng với chúng ta. Không có họ
th́ chúng ta không thể tạo lập nên sự nghiệp. Không có họ chúng ta
sẽ không có bánh ḿ và bơ trên bàn ăn. Anh muốn em học thuộc tên họ.
Mỗi lần em gặp họ, anh muốn em đối xử tử tế với họ”.
Đối xử tử tế với
nhân viên không chỉ có nghĩa là thuộc tên họ, ân cần chào hỏi họ,
ông Ken Grenda c̣n thiết lập một Quỹ kư thác để giúp đỡ con cái của
những gia đ́nh nhân viên nghèo được có tiền ăn học.
Trong khi con cái
của bà Ginehart xúm lại lôi bà ra ṭa, th́ người con trai út của ông
Grenda nói về cha ḿnh như sau: “Cha tôi là người quảng đại, tử
tế nhứt mà bạn có thể gặp”. Anh nói rằng mấy anh em ông luôn
khuyên cha ḿnh nên cẩn thận kẻo bị người ta lợi dụng. Nhưng ông
Grenda luôn dạy con cái ông hăy tin tưởng người khác như tin tưởng
mẹ ḿnh. Có lẽ bà Ginehart và con cái bà không tin ở lời khuyên này
của ông Grenda cho nên mới có chuyện mẹ con tranh giành xâu xé nhau.
Mùa Chay, cùng với
chay tịnh, các Giáo hội Kitô trên khắp thế giới thường mở chiến dịch
kêu gọi chia sẻ để giúp đỡ những người túng thiếu. Được thực hiện
trong Mùa Chay, nghĩa cử của ông Grenda đối với các nhân viên của
ông có một ư nghĩa đặc biệt. Giữa lúc thế giới đang trải qua khủng
hoảng kinh tế và tài chính, những người giàu có trên thế giới không
thể không suy nghĩ về “tấm gương” của ông. Những người giàu có
thường có “con mắt lớn hơn cái bụng”. Có giàu có đến đâu, mỗi người
cũng chỉ có một cái bụng. Có phú quư đến đâu, chỗ ngủ của mỗi người
cũng chỉ là một cái giường...Sở dĩ con người muốn chiếm hữu nhiều
của cải là để được tiếng và được “quyền” hơn người. Kỳ thực, điều
thực sự làm cho con người “to lớn vĩ đại” hơn không phải là cái xe,
cái nhà, cái mớ tiền của chỉ là “giấy lộn” trong ngân hàng và lại
càng không phải là “cái bụng to” của ḿnh, mà chính là tấm ḷng vị
tha của ḿnh. Nghịch lư lớn nhứt ở đời là càng cho đi, con người lại
càng có “thế lực” và giàu có.
Chay tịnh có lẽ sẽ trở nên “dễ thương” và “đáng nhớ”
hơn nếu như người ta sẵn sàng nhường những ǵ ḿnh ưa thích cho
người khác. Ngay trong xă hội Úc, người nghèo “tinh thần” và “vật
chất” cũng c̣n nhiều lắm. Chẳng cần đi xa.
Chu Thập