FÉLIX ARVERS VÀ “T̀NH TUYỆT VỌNG”   

______________________________________________________________________________________________

   THÂN  TRỌNG  SƠN

   

 Félix Arvers (1806 – 1850)

         Không có nhiều tư  liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Félix Arvers (1806 – 1850)      Sách văn học sử  Pháp ( Collection littéraire LAGARDE & MICHARD , XIXe siècle ) không hề nhắc đến Ông. Từ điển Hachette giới thiệu rất nhiều nhà văn, nhà thơ thuộc nhiều thời đại cũng không ghi tên Ông. Larousse th́ chỉ nói vắn tắt : “ Thi sĩ Pháp, nổi tiếng với bài Sonnet bắt đầu bằng câu : Mon âme a son secret, ma vie a son mystère”. Một tư liệu khác có vẻ cụ thể hơn cũng  chỉ ghi vẻn vẹn đôi  ḍng ngắn ngủi :

Félix Arvers là tác giả nhiều vở kịch khá thành công. Tác phẩm của Ông đă bị lăng quên, ngoại trừ tập thơ Mes heures perdues ( Những giờ khắc hoài phí  ).”

 

Tập thơ Mes heures perdues xuất bản năm 1833, thời điểm mà tên tuổi các nhà thơ thuộc trường phái lăng mạn Pháp đă rực sáng. Không rơ tập thơ dày mỏng thế nào, chỉ thấy c̣n lưu truyền một vài bài, trong đó một số bài viết tặng bằng hữu, hoặc có ghi tên ( À Alfred Tattet , À Alfred de Musset ), hoặc viết tắt hay giấu tên ( À mon ami *** , Sonnet à mon ami R. ), để bày tỏ quan điểm về nghệ thuật, về thi ca...

Và tất nhiên hơi thở của ḍng thơ trữ t́nh, bi thương của thời đại phả đầy trong thơ Arvers. Ông không ngần ngại nói rơ khát vọng kiếm t́m hạnh phúc của ḿnh, dù đấy chỉ là thứ hạnh phúc b́nh dị của “ chút t́nh tri kỷ ” :

 

            Thuở thanh xuân tôi từ bỏ t́nh yêu

            Chỉ mong t́m mối tri âm đồng cảm

Người thấu hiểu nỗi ḷng tôi sầu muộn

Trời đă cho tôi nhiều hơn tôi muốn

Với thời gian t́nh bạn ngọt ngào hơn

Và t́nh yêu đến khi không c̣n chờ đợi.

                                    ( Sonnet à mon ami R. )

 

hoặc là thứ hạnh phúc gia đ́nh với vợ đẹp, con ngoan, với bạn bè, láng giềng thân thuộc để sớm hôm hàn huyên tâm sự :

 

            Tôi hằng mơ hạnh phúc một mái ấm

            Cho con tim xao động cơi đi về

            Sau bao tháng ngày lăng đăng u mê

            T́m bến đỗ giữa thanh b́nh, an lạc.

           

Thế nhưng hạnh phúc đâu dễ t́m v́ t́nh yêu đâu dễ gặp. Trước sau vẫn chỉ là “ người t́nh trong mơ ” bởi người chợt đến, chợt đi, không ước hẹn, ta trở về, thui thủi một ḿnh ta.

          

            Nàng đến, không ǵ báo hiệu

            Nàng đi, lặng lẽ, khiêm nhường,

            Chẳng dấu vết ǵ để lại

            Bước chân hờ hững trên đường.

 

            Từ đấy, u sầu, lặng lẽ,

            Tháng ngày chợt đến, chợt đi,

            Không c̣n ngạc nhiên, cảm xúc,

            Thấy vầng trán ḿnh âm u

            Tựa như tia nắng vàng thu.

 

            Và khi không c̣n mong đợi

            Cánh cửa tương lai khép rồi

            Như kẻ lưu đày tự nguyện

            Tôi xa lánh hết mọi người

            Hạnh phúc duy nhất ở đời

            Yêu và được yêu – thế thôi.

                                                    ( À mon ami *** ).

 

            Những bài thơ như thế này ( TTS dịch ) chưa đủ để làm nên tên tuổi của tác giả và đều đă bị lăng quên. Trong toàn bộ tập thơ, duy nhất một bài được biết đến và chỉ cần bài này là đủ làm cho tác giả nổi tiếng, như cách nói của từ điển Larousse nêu trên.   Độc giả Việt Nam  biết đến Arvers cũng chỉ qua bài Sonnet này , trước tiên thông qua bản dịch của một nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bản dịch, với nhan đề  T́nh tuyệt vọng, thành công đến nỗi nhiều người cho rằng nó c̣n hay hơn cả nguyên tác có tên đơn giản là SONNET, hoặc là SONNET D’ARVERS như người ta thường gọi.

 

Sống và sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XIX, thời kỳ rực rỡ nhất của trường phái lăng mạn trong nền thi ca Pháp, vốn chuộng sự tự do thoải mái đến độ buông thả trong nội dung và h́nh thức, Arvers lại chọn Sonnet, một thể thơ đ̣i hỏi nhiều ràng buộc về h́nh thức. Mỗi bài Sonnet chỉ có 14 câu, bao gồm 2 khổ thơ bốn câu ( quatrain ) và 2 khổ thơ ba câu ( tercet ).

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère.

Ḷng tôi giấu một nỗi niềm tâm sự

Đời tôi đầy chuyện thầm kín riêng tây.

 

Đây rồi cái “tôi”( le “moi” ) quen thuộc của trường phái lăng mạn, cái tôi mạnh dạn và thẳng thắn, không ngại ngần úp mở, không rào đón quanh co, được nhấn mạnh bởi cách dùng một loạt các tính từ sở hữu và đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất. Và ở đây cái tôi gắn liền với khái niệm khổ đau : “Le mal est sans espoir…”, “ Hélas !”, “ solitaire…”.

 

            Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire

            Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.

            ( Nỗi đau chừng vô vọng

            Đành câm nín mà thôi

            Sao người làm tôi khổ

            Vô t́nh quá người ơi !)

           

Nỗi đau không nói được, xin mượn ng̣i bút để thổ lộ can trường, bởi, nói như Alfred de Musset, một người bạn thơ của Arvers :

            Lời tuyệt vọng là lời ca đẹp nhất

            Vang vọng măi tiếng nức nở thảm sầu.

                             Nuit de Mai ( Đêm tháng năm )

Điều bi thảm hơn là nỗi đau đó chừng như đeo đẳng suốt cả cuộc đời chàng trai si t́nh.

 

            Un amour éternel en un moment conçu.

            ( T́nh chớm nở vội vàng trong thoáng chốc

            Mà tưởng chừng như đă kết ngàn năm.)

           

Hẳn là chàng gặp gỡ đă từ lâu. Hẳn là chàng đau khổ đă từ lâu .Bởi nàng nào đâu hay biết ǵ  . Và hơn thế nữa, suốt quăng đời c̣n lại cũng hoàn toàn vô vọng, “dù gặp nhau cúi mặt bước mà thôi “ :

 

            Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre

            N’osant rien demander et n’ayant rien reçu

            ( Tôi vẫn đi tiếp con đường phía trước

            Không dám cầu xin, chẳng  nhận được ǵ.)

            .

Không dám. Dù chỉ một lần. Phải chăng v́ chàng quá nhút nhát, e thẹn ? Không, chỉ v́ Trời đă sinh ra nàng đoan trang quá, hiền hậu quá, hăy để nàng thủy chung, hăy để nàng chu toàn bổn phận. Cho h́nh ảnh nàng măi thánh thiện. Cho T́nh Yêu thăng hoa. Và trở thành bất tử. Ít nhất là với bài thơ này.

 

NÀNG LÀ AI ?

 

Đọc văn thơ, nghe âm nhạc, nhiều người vẫn có thói quen ṭ ṃ muốn biết ai là nguyên mẫu, là nguồn cảm hứng khiến người nghệ sĩ viết nên bài thơ, bản nhạc ấy. Trường hợp này cũng thế. Từ sau khi bài thơ được phổ biến, bao nhiêu giấy mực đă dành cho cuộc truy t́m lai lịch người đẹp khiến thi sĩ ôm măi mối t́nh tuyệt vọng mà viết nên những ḍng thơ trác tuyệt này.

Có ư kiến cho rằng dây chỉ là một h́nh ảnh phúng dụ ( allégorie ), người đẹp chẳng hề hiện hữu, hơn nữa trong các ấn bản đầu tiên của tập thơ, trên bài này có ghi chú “ dịch từ tiếng Ư ” ( traduit de l’italien ) nhưng v́ không ai đưa ra văn bản gốc nên giả thuyết này không đứng vững được.

Một ư kiến khác, dựa vào quan hệ thân t́nh giữa Félix Arvers và Victor Hugo, cho rằng người đẹp bí mật này chính là … phu nhân của Victor Hugo mà Arvers đă kín đáo nhắc đến tên Adèle bằng cách dùng các vần “ fidèle ” và “d’elle” trong khổ thơ cuối !

Ư kiến khác nữa - có vẻ được nhiều người đồng t́nh - nhắc đến tên Marie Nodier, ái nữ của nhà văn viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Charles Nodier ( 1780-1844 ), người thường tổ chức những buổi b́nh thơ văn tại thư viện Arsenal quy tụ nhiều thi sĩ lừng danh như Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset… Những lần gặp gỡ thường xuyên nơi đây đă khiến Arvers thầm yêu trộm nhớ Marie Nodier mà không hề ngỏ ư cho đến khi nàng sang ngang vào năm 1833 và trở thành bà Marie Mennessier – Nodier.

Nhưng nói cho cùng, có nhất thiết phải biết rơ về người phụ nữ đó th́ người đọc mới cảm mới thích bài thơ này không ?

 

Bản dịch của Khái Hưng :

 

 T́nh tuyệt vọng

 

Ḷng ta chôn một khối t́nh

T́nh trong giây phút mà thành thiên thâu

T́nh tuyệt vọng, nỗi thảm sầu

Mà người gieo thảm như hầu không hay.

Hỡi ôi !người đó ta đây

Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân ?

Dẫu ta đi trọn đường trần

Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi

Người dù ngọc nói, hoa cười

Nh́n ta như thể nh́n người không quen

Đường đời lặng lẽ bước tiên

Nào ngờ chân đạp lên trên khối t́nh

Một niềm tiết liệt đoan trinh

Xem thơ nào biết có ḿnh ở trong

Lạnh lùng ḷng sẽ hỏi ḷng,

Người đâu tả ở mấy ḍng thơ đây ?!

 

Khái Hưng hẳn không phải là nhà thơ, lại càng không phải là người dịch thơ nhưng bỗng dưng với bản dịch tài t́nh bài thơ của Arvers, Ông lại được biết đến ở một lĩnh vực khác với sự nghiệp tiểu thuyết của ḿnh.

 

Thật ra bài thơ dịch này ban đầu không xuất hiện riêng lẻ mà nằm trong truyện ngắn T̀NH TUYỆT VỌNG của Khái Hưng. Trong truyện này người đau khổ v́ yêu là thi sĩ Văn Châu, một lần đi làm phù rể cho bạn, chàng bỗng đem ḷng yêu … vợ bạn ! “ Chàng không hiểu v́ cớ ǵ, nhưng mới thoạt trông thấy cô dâu là chàng đă đem ḷng yêu ngay, cái yêu vô nghĩa lư, nhưng nó mạnh mẽ vô chừng, tưởng như hai người vốn sẵn duyên kiếp từ đời nào, đă hẹn ḥ cùng nhau ở kiếp nào mà đến bây giờ mới gặp gỡ.”  Sau ngày cưới đó, ngày ngày Văn Châu vẫn đến chơi nhà bạn, “ trong ḷng chôn một mối t́nh vô lư”. Năm năm sau, nhân một buổi tiệc đêm Noel cùng với vợ chồng người bạn và hai người khác nữa, thi sĩ mới có cơ hội thú nhận “ tôi phạm một tội nặng lắm “ mà bạn chàng hiểu ngay là tội khả ái, là ái t́nh tuyệt vọng ! Được bạn thông cảm an ủi “vậy th́ anh cứ yêu, cứ yêu như anh đương yêu. Yêu như thế không có tội ǵ hết, mà người chồng dẫu có biết cũng chỉ thương anh chớ không ngờ vực anh đâu”, thi sĩ Văn Châu mới đọc cho các anh các chị nghe bài đoản thi tôi dịch của Arvers ra quốc văn.

                                                                    ( Nguồn :   dactrung.com  )

 

Tên của truyện ngắn trở thành tên bài thơ. T́nh tuyệt vọng – Cái nhan đề này do Khái Hưng tự đặt, một sáng tạo đầu tiên của người dịch, thứ sáng tạo được phép của người làm công việc chuyển ngữ một tác phẩm văn học, lại là một sáng tạo cần thiết trong trường hợp này bởi nguyên tác thường chỉ ghi là Sonnet d’Arvers.Có thể đây là một bài thơ thuộc loại “ Không đề “ và  nhan đề do người sau gán cho tác phẩm chứ không phải của tác giả.

T́nh tuyệt vọng _ Khái Hưng đă hiểu, đă cảm, đă chia sẻ hết cả t́nh cả ư cả tâm trạng cả nỗi niềm của tác giả nên mới đặt thêm cái nhan đề này. Và những người dịch khác, sau Ông, ( Lăng Nhân Phùng Tất Đắc, Trần Mai Châu…), hẳn muốn làm  khác đi nhưng cũng phải viết  lại  như thế thôi.

 

Dịch thơ Sonnet Pháp, Khái Hưng đă chọn thể thơ lục bát thuần Việt, bám sát nguyên tác từng khổ thơ một, chỉ phát triển hai khổ ba câu cuối thành tám câu, cho trọn bốn cặp sáu tám. Bám sát nguyên tác nhưng không hề g̣ ép, khiên cưỡng, vụng về theo kiểu dịch “mot à mot”, ngược lại rất nhiều câu dịch đúng và đủ ư mà không có vết tích của sự chuyển ngữ :

 

            Dẫu ta đi trọn đường trần

            Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.

            ( Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre

            N’osant rien demander et n’ayant rien reçu. )

           

             Đường đời lặng lẽ bước tiên

            Ngờ đâu chân đạp lên trên khối t́nh.

            ( Elle ira son chemin, distraite, et sans entendre

            Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.)

 

Trong toàn bài, cái không khí u uẩn, ngậm ngùi, sầu thảm được tô đậm bởi cách dùng từ rất “đắt”

-           Ḷng ta chôn một khối t́nh

-           Mà người gieo thảm như hầu không hay

-           Sao ta thui thủi  đêm ngày chiếc thân

-           Một niềm tiết liệt đoan trinh

……

Nhịp điệu  đều đặn của thể thơ ( 2- 2- 2 … ) đột ngột bị phá vỡ  ở câu thứ ba ( 3- 3 ) như một nốt nhạc trầm chùng xuống trong cảm xúc của người đọc, rồi trở lại cho đến cuối bài.

 

            Ḷng ta chôn một khối t́nh

            T́nh trong giây phút mà thành thiên thâu

            T́nh tuyệt vọng, nỗi thảm sầu

            Mà người gieo thảm như hầu không hay.

 

Biện pháp vừa điệp âm vừa  điệp ngữ ở hai câu thơ cuối khép lại bài thơ đưa người đọc vào một nỗi bâng khuâng thương xót :

 

            Lạnh lùng ḷng sẽ hỏi ḷng

Người đâu tả ở mấy ḍng thơ đây ?!

 

Có thể nói nếu không ghi chú “  nguyên tác tiếng Pháp…. “, nhiều người không  nghĩ đây là thơ dịch, nhất là khi đọc những câu :

 

            Người dù ngọc nói hoa cười

Hay

            Một niềm tiết liệt đoan trinh

 

 “T́nh tuyệt vọng” của Khái Hưng vẫn xứng đáng được nhiều yêu thích và thuộc nằm ḷng từ lúc được công bố đến nay.

 

Sau Khái Hưng, một số tác giả khác cũng đă dịch cùng bài này, đáng chú ư là các bài dịch sau đây :

 

 Bản dịch của Lăng Nhân Phùng Tất Đắc :

 

            T́nh tuyệt vọng

 

            Nỗi ḷng kín chẳng ai hay

            Mối duyên ấp ủ từ ngày gặp nhau

            Gặp nhau một khắc tưởng đâu

            Khối t́nh như đă kết sâu ngàn đời!

            Nghiệp nầy khôn thoát được rồi:

            Một ḿnh ḿnh biết, ngỏ lời cùng ai?

            Mà ai cũng chẳng đoái hoài,

            V́ ai, ai thấu nỗi ai đau ḷng!

            Tưởng rằng gần gụi chốc ṃng

            Vẫn trong gang tấc , mà ḷng cô liêu …

            Không xin cũng chẳng được chiều

            Chiếc thân lặng lẽ rơi theo đường đời…

            Nàng th́ hiền dịu tính trời

            Thờ ơ đâu nghĩ đến lời yêu đương !

            Đi về, giữ mực đoan trang,

            Vô t́nh gieo lụy trên đường ái ân.

            Thơ nầy riêng tặng giai nhân,

            Mà giai nhân lại mười phân hững hờ.

            Hỏi rằng :”Người đẹp trong thơ

            Là ai thế nhỉ?” đâu ngờ là ai…

 

Đây cũng là một bản dịch hay. Và vẫn là thể thơ lục bát.

Để dịch đủ ư, Lăng Nhân phải kéo dài đến 20 câu. Khổ bốn câu đầu tiên phải chuyển thành tám câu thơ dịch. Người đọc có thể thấy thú vị khi thấy dịch giả tận dụng phép chơi chữ với đại từ phiếm chỉ “ai”, rất phong phú và sâu sắc trong tiếng Việt :

           

… Một ḿnh ḿnh biết, ngỏ lời cùng ai ?

            Mà ai cũng chẳng đoái hoài

            V́ ai, ai thấu nỗi ai đau ḷng !

 

            … Hỏi rằng : “ Người đẹp trong thơ

            Là ai thế nhỉ ?” đâu ngờ là ai…

 

 Bản dịch của Trần Mai Châu:

            (Thơ Pháp thế kỷ XIX, nxb Trẻ, 1996)

 

               T́nh tuyệt vọng

                                  Vơ vàng là lá thư hoa,

                                  Vô duyên là mối t́nh ta gửi người.

                                                                          M.C

Ḷng trĩu nặng một mối sầu sâu kín,

            Lỡ yêu rồi đến thác vẫn vương tơ

            Ta vô vọng nên trọn đời câm nín,

            Em vô tâm nên cứ măi ơ hờ.

 

            Gần gang tấc tưởng như xa ngàn dặm,

            Núi sông nào đă dựng cảnh chia ly,

            Sống cô quạnh cho hết ngày hết tháng,

            Cầu xin chi mà mong ước được ǵ ?

 

            Cũng đành thôi! dầu đôn hậu tính trời,

            Em một dạ kinh trinh tṛn bổn phận;

            Thanh thản bước trên đường, không cảm nhận

 

            Dưới chân ḿnh nức nở tấm ḷng ai.

            Đọc thơ ta nào biết ta tưởng vọng,

            Hỡi người đâu gây chuyện khổ đau nầy.

 

Bản dịch của Mộng Tuyết Thất tiểu muội :

 

            U t́nh 

 

            Trong một phút ôm ḷng thắc mắc,

            Mối yêu đương dằng dặc khôn khuây.

Đau thương t́nh khó giải bày,

Người làm đau khổ có hay đâu nào.

 

Than ôi vẫn đ́u hiu lặng lẽ,

Bên cạnh ai, ai kẻ biết cho ?

Đường trần biết đến bao giờ

Cũng chưa dám ngỏ ước mơ với t́nh.

 

Kiều diễm ấy khuôn xanh biệt đăi,

Vẻ xuân tươi ngọc nói hoa cười.

Thế mà trên bước đường đời

Hững hờ, chẳng chút đoái hoài ái ân !

 

Chất phong phỉ ân cần trau chuốt,

Dễ mà khi nàng đọc thơ ta

V́ nàng thi tứ đậm đà ,

Ngẩn ngơ nàng hỏi : “Nàng là ai đây ?”

 

                   (  Dẫn theo Huyền Viêm , Kiến thức ngày nay số 577 20/8/2006)

           

            Một không khí trầm mặc bi thương với nhiều từ cổ và thể thơ song thất lục bát !

 

 

Bản dịch của Yă Hạc và Trịnh Nguyên

 

HẬN T̀NH MUÔN THUỞ

 

Hồn tôi có một chỗ riêng,

Đời tôi, tôi giữ một phiền, đời tôi…

Tôi yêu, tôi lỡ yêu rồi…

Nhưng yêu chỉ để… th́ thôi, một ḿnh.

Gần ai, ai thấu chăng t́nh,

 

Gần ai, ai thấy bóng ḿnh chăng ai?

Đời tôi lặng lẽ cứ trôi,

Có đâu môi hé, mong ǵ rồi ai…

Dầu ai, âu yếm, nhu ḿ

Đường ai, ai cứ bước đi hững hờ.

Ai đi, và vẫn thờ ơ,

Thở dài nhè nhẹ, bơ thờ, nghe chăng?

Giờ đây, nội trợ hoàn toàn,

Xem thơ nào biết là Nàng cho đâu.

Xem xong, nàng khẽ lắc đầu;

“Người này ai há? Ai đâu vậy cà?”

 

Đời tôi, tôi giữ một phiền, đời tôi … và ba câu khác bên dưới với những dấu chấm lửng … Rồi câu cuối cùng. “Người này ai há? Ai đâu vậy cà?”

Chừng đó đủ thấy trong dịch thuật, nhất là dịch thơ, việc trung thành tuyệt đối với văn bản gốc là điều cực khó – mà thực ra, có cần như thế ? Bản dịch dù có biến dạng ít nhiều vẫn là một tác phẩm nghệ thuật với tất cả cảm xúc và sáng tạo của người dịch.

 

Bản dịch của B́nh Nguyên Lộc

 

CHUYỆN KÍN CỦA CHÀNG ARVERS

 

Hồn tôi ủ kín niềm riêng,

Đời tôi bí mật ưu phiền bên trong.

T́nh muôn thuở, cảm xong giây lát,

Mối đau thương muốn thoát, không mong.

Nên tôi nín lặng như không,

Ai kia gây thảm dễ ḥng có hay.

 

Nàng chẳng thấy, gần nàng tôi bước.

Bên cạnh ai tôi lướt cô đơn,

Đến già cũng vẫn ngậm hờn

Không gan xin xỏ, được ân huệ ǵ?

 

Dẫu tánh t́nh nhu ḿ mềm mỏng,

Nàng thờ ơ bước, khổng có nghe

Tiếng ḷng tôi, dậy rụt rè,

Th́ thầm dưới gót nàng đè bước lên.

 

Đạo vợ hiền, trung trinh một mực,

Nàng xem thơ bàng bạc đời nàng.

Xem xong, ngơ ngẩn tự bàn:

“Người đâu hờ hững cho chàng khổ đau.”

 

Và bản dịch tiếng Anh :

 

MY SECRET

My soul its secret has, my life too has its mystery,
A love eternal in a moment's space conceived;
Hopeless the evil is, I have not told its history,
And she who was the cause nor knew it nor believed.
Alas! I shall have passed close by her unperceived,
Forever at her side, and yet forever lonely,
I shall unto the end have made life's journey, only
Daring to ask for naught, and having naught received.
For her, though God has made her gentle and endearing,
She will go on her way distraught and without hearing
These murmurings of love that round her steps ascend,
Piously faithful still unto her austere duty,
Will say, when she shall read these lines full of her beauty,
"Who can this woman be?" and will not comprehend.

 Translated by Henry Wadsworth Longfellow

 ( Everypoet.com )

 

Một bản dịch hay, vừa sát vừa thoát, phải chăng do thuận lợi là nét tương đồng giữa hai ngôn ngữ ?

 

 

CÁC BÀI THƠ MÔ PHỎNG

 

Trong khi người đọc khắp nơi t́m cách chuyển ngữ bài thơ để giới thiệu rộng răi hơn với công chúng th́ ngay trên đất Pháp lại có một hiện tượng thú vị : hàng chục, hàng trăm bài thơ mô phỏng ( pastiche ) ra đời.  Tiêu biểu là bài dưới đây của LOUIS AIGOIN, thay lời người phụ nữ để đáp lại Arvers. Tác giả đă dùng lại 14 từ cuối cùng của 14 câu của bài Sonnet d’Arvers, lối pastiche này như thế gần giống với lối họa thơ của thơ Đường hay thơ Việt :

 

Ami, pourquoi me dire avec tant de mystère

Que l'amour éternel en votre âme conçu

Est un mal sans espoir, un secret qu'il faut taire

Et comment supposer qu'elle n'en ait rien su ?

 

          (   …    )

Bản dịch của Mộng Tuyết Thất tiểu muội :

 

            RIÊNG ĐĂ HAY RỒI

 

            Nói chi những âm thầm thắc mắc

            Bạn ta ơi ! Sao chác sầu chi ?

            Nỗi ḷng sao phải nín đi ?

            Lại ngờ “ai”chẳng biết ǵ cả đâu.

 

            Thôi thôi hăy chớ sầu vắng vẻ

            Tấm t́nh kia c̣n kẻ biết cho

            Xưa nay những kẻ yêu nhiều

            Chỉ là trộm nhớ thầm yêu với t́nh.

 

            Ḷng đa cảm khuôn xanh phú thác

            Phải rằng ai mộc mạc vô tri

            Đường đời từ bước chân đi

            Ḷng ân ái cũng lắm khi bàn hoàn.

 

            Thói băng tuyết ân cần giữ mực

            Đọc thơ ai cảm xúc v́ ai

            Nỗi niềm riêng đă hay rồi

            Nói ra c̣n ngại những lời thị phi.

 

                        ( Dẫn theo Huyền Viêm - Kiến thức ngày nay số 577 – 20/8/2006 )

 

Có những tác giả nổi tiếng nhờ khối lượng tác phẩm đồ sộ, hàng trăm tập, hàng ngàn bài. Cũng có tác giả, ngược lại, chỉ cần một bài là tên tuổi lưu măi đời sau. Félix Arvers thuộc trường hợp này. Mà Khái Hưng, nói riêng về việc dịch thơ,  cũng thuộc trường hợp này .

 

   THÂN  TRỌNG  SƠN

  (  Dalat -  2003 - Viết lại   6 / 2008 )

 

Home