Từ
bấy lâu nay, đồng bào trong và ngoài nước không ngừng báo động về
hiểm họa Bắc thuộc, đồng thời vạch ra những sai lầm của giới lănh
đạo Đảng CSVN đă góp phần làm mất nước. Nhạc sĩ trẻ Việt Khang
(VK) đă đóng góp nghĩa vụ của ḿnh qua hai bài hát “Việt Nam
tôi đâu” và “Anh là ai”. Tiếng hát của VK đă làm rung
động hàng triệu trái tim, khơi dậy ḷng yêu nước của mọi giới đồng
bào. Tôi cho đó như là tiếng gọi của hồn thiêng sông núi, của anh
linh những anh hùng liệt nữ đă chết v́ non sông đất nước, v́ đồng
bào chủng tộc. VK đă can đảm bày tỏ nỗi ray rứt về hiện t́nh đất
nước và hỏi những người cộng sản lănh đạo đất nước: Anh là ai? Nếu
là người yêu nước thực sự, anh sẽ để cho tôi dùng lời ca tiếng hát
để thức tỉnh đồng bào. Điều đau buồn là nhà nước CSVN đă bỏ tù người
nhạc sĩ yêu nước, dũng cảm Việt Khang.
Tại hải ngoại, nhạc sĩ Trúc Hồ phụ trách đài truyền
h́nh SBTN ở Hoa Kỳ với sự giúp đỡ của Tiến sĩ Nguyễn Đ́nh Thắng (Cứu
người vượt biển hồi thập niên 1980) đă phát động việc kư thỉnh
nguyện thư (TNT) kêu gọi TT Obama can thiệp trả tự do cho VK và các
nhà tranh đấu cho dân chủ đang bị CSVN giam cầm. Sau bốn ngày vận
động, đă có trên 25 ngàn chữ kư gởi vào hợp thư dân nguyện của Ṭa
Bạch Ốc. V́ thế, ngày 5/3/2012, đă có cuộc gặp gỡ tại Nhà Trắng giữa
các giới hữu trách HK với khoảng 200 người - đại diện những người đă
kư TNT, lúc đó đă có trên 130 ngàn chữ kư.
Bà Jackie Bông, đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền có mặt
trong phái đoàn, đă tường thuật cuộc gặp gỡ lịch sử này. Mở đầu, ông
Jon Carson, Director, Office of Public Engagement, tại White House
chào mừng quan khách, sau đó có ba người trẻ tŕnh bày quan điểm của
ḿnh. Cô Cindy Đinh ở Houston đề cập
đến việc cô vào LHQ năm 2008 để tranh đấu cho nhân quyền. Cô cầm
h́nh của Cha Lư bị bịt miệng, cũng như đi vận động với các dân biểu
tại Texas để họ can thiệp thả Cha Lư. Cô cũng đề cập đến Dự Luật
Nhân Quyền và kêu gọi những nhà lập pháp ở Texas kư tên thông qua.
Cô cũng đă viết thơ yêu cầu Ngoại trưởng Condi Rice kêu gọi VN thực
thi nhân quyền tại VN. Anh Billy Lê ở South Carolina nói về
việc anh thành lập Hội Sinh viên VN tại các Đại học ở South
Carolina, góp sức với người lớn tuổi tranh đấu cho nhân quyền. Anh
cũng hợp tác với nhiều nhóm trẻ khác trên thế giới và dùng những kỹ
thuật mới, social media, lập thành một mạng lưới kêu gọi giới trẻ
trên toàn cầu, tranh đấu cho có nhân quyền tại Việt Nam. Sau cùng,
ca sĩ Quốc Khanh nói là anh dùng lời ca tiếng hát của ḿnh để tranh
đấu cho Việt Khang sớm được tự do. Việt Khang là nguồn cảm hứng để
anh định rơ vai tṛ của ḿnh, một công dân được sống trong tự do.
Anh kêu mọi người tranh đấu để tất cả công dân VN được sống với
quyền tự do tối thiểu của một con người.
Sau cùng, điều hợp viên Tuyết Dương
nói Việt Khang là ngọn lửa, là cây đuốc
soi sáng cho tất cả cộng đồng VN hợp lại thành một khối đoàn kết lớn
mạnh để cuộc gặp gỡ lịch sử ngày hôm nay được thành h́nh. Cô cho đó
là ngày đẹp đẽ và hănh diện nhất của cộng đồng VN.
Kế tiếp, diễn giả chánh là ông Quintan Wiktorowicz
-Senior Director of Community Partnerships, National Security
Council (Giám đốc thâm niên về Cộng đồng, Đối tác thuộc Hội đồng An
ninh Quốc gia HK). Trước hết, ông khen ngợi 130 ngàn người VN đồng
ḷng hợp tác với nhau kư TNT, chứng tỏ cộng đồng VN là một khối rất
chặt chẽ và vững mạnh để
bênh
vực và bảo vệ quyền lợi
cho cộng đồng sống ở hải ngoại cũng như ở quê nhà. Ông mong được
partner liên hệ đối tác với Cộng đồng VN trên ba phương diện. Trước
hết là Getting to know, to build trust. (Làm quen, hiểu với nhau và
gây niềm tin cho nhau). Thứ nh́ là Action & Engagement, tức là giai
đoạn bắt tay làm việc, cùng chung đề cập đến những vấn đề then chốt
của cộng đồng. Thứ ba, là Partnership, lập ra một liên hệ đối tác
giữa cộng đồng vả Bạch cung giúp các giới chức phụ trách chánh sách
trong chánh phủ hiểu rơ vấn đề để t́m ra những giải pháp chung hữu
hiệu hơn. Ông kêu gọi một triệu rưỡi người Việt sống tại hải ngoại,
trong đó có những người thành công về thương mại như 225 ngàn
Vietnamese businesses và những người chuyên nghiệp, hăy đứng lên,
cùng cất tiếng nói, và hành động.
Thuyết tŕnh đoàn của Bộ Ngoại giao HK, gồm các ông
Thomas Debass -Director of Global Partnenrships Initiative (Giám đốc
Đối tác Toàn cầu), Eric Barboriak -Acting Director, Office Mainland
SouthEast Asia (Quyền Giám đốc Văn pḥng Lục địa Đông Nam Á) và
Michael Posner -Trợ lư Thứ trưởng Ngoại giao, phụ trách Bureau of
Democracy, Human Rights and Labor (Văn pḥng Dân chủ, Nhân quyền, và
Lao động).
-Ông Debass cho biết cách đây bốn năm, bà Ngoại
trưởng Clinton, chủ xướng văn pḥng Global Partnership Initiative
trong Bộ Ngoại giao để chánh quyền đặt nặng sự hợp tác với những
nhóm trở thành công dân Mỹ trong cộng đồng HK. Có tất cả 62 triệu
người Mỹ gốc Phi châu, châu Mỹ Latinh, và Á châu. Ông nói khối mạnh
nầy là tài sản và nền tảng (diasporas, assets, bridges), là gạch nối
vận động giúp chánh quyền HK thương thuyết trên nhiều phương diện
với các quốc gia nguyên thủy mà họ chào đời. Họ giúp đem đến những
cải cách và thay đổi dẫn đến dân chủ và hoà b́nh cho cả HK và nơi họ
sanh ra.
-Ông Barboriak nói đến những hợp tác của các quốc gia
ASEAN với những cơ quan quốc tế như World Bank, LHQ và Bộ Ngoại giao
HK, để các quốc gia trong vùng thành liên minh toàn cầu và trợ giúp
với nhau (global alliance and global cooperation), thực hiện những
chương tŕnh chung, mong đem đến sự cải thiện cần thiết trong đời
sống của dân chúng họ. Ông cũng đề cập đến VN trong khối đó.
-Ông Posner là người thương thuyết với các nhà độc
tài Miến Điện trả tự do cho bà Aun Sang Su Kyi. Ông cũng lót đường
cho Ngoại trưởng Hillary Clinton gặp bà Su Kyi -lănh tụ đối lập, để
bà nầy được tự do vận động tranh cử trong Quốc hội Miến Điện như
hiện nay bà đang làm. Ông tŕnh bày tổng
quát về việc văn pḥng ông và nhân viên Ṭa Đại sứ HK ở VN luôn gặp
gỡ, đối thoại thường xuyên với các giới chức VN về những vấn đề
thương mại và nhân quyền. Các thuyết tŕnh viên của Bộ Ngoại giao đă
trả lời thỏa đáng từng câu hỏi của 30 đại biểu về những vụ đàn áp
tôn giáo, về các tù nhân lương tâm, về sự bóc lột lao động, về việc
bắt bớ những người thiểu số Khmer Krom và Montagnards, cũng như về
những vụ buôn trẻ em và phụ nữ.
Sau cùng, bà Christina Lagdameo -Deputy Director,
White House Initiative on Asian American and Pacific Islanders, kết
luận bằng những lời khen ngợi nồng nhiệt cộng đồng VN đoàn kết vượt
bực. Bà làm việc trong ba đời tổng thống, từ Clinton đến Bush, và
nay Obama, nhưng chưa từng thấy cộng đồng Á châu nào kêu gọi được
hơn một trăm ngàn người kư tên tranh đấu cùng chung một chiến tuyến
trong một thời gian hết sức ngắn ngủi như thế nầy.
Qua cuộc gặp gỡ trên, bà Jackie Bông đưa ra nhận xét
“Có phải là HK muốn chúng ta hợp tác với họ để trở thành một khối
mạnh, đại diện cho cộng đồng VN làm gạch nối cho những cuộc thương
thuyết sau này với nhà cầm quyền VN chăng? HK tŕnh bày là họ đă làm
công việc nầy với những nhóm cộng đồng khác rồi. Họ nói đây là bước
mở đầu giữa họ và chúng ta để làm quen, thông cảm trước (Getting to
know). Họ muốn có một bước tiến thứ nh́ là Action & Engagement. Ông
Wictoriwicz kêu gọi chúng ta hợp tác làm chung những công tác quan
trọng, thực tế và có chất lượng mà chánh quyền Obama thiết kế ra”.
Bà kỳ vọng quư vị đại biểu kiên tŕ thêm bước thứ nh́ và thứ ba để
làm tṛn nghĩa vụ mà đồng bào đang mong đợi, giao phó cho quư vị.
Theo bà, đây là con đường tranh đấu trường kỳ chông gai và gian khổ,
đầy mồ hôi và nước mắt.
Cuộc gặp gỡ trên cũng được Luật sư Thiện Ư góp ư về
mục đích và thành quả của chiến dịch kư TNT. Theo luật sư, mục đích
là “nhằm vận động trước hết là
hành pháp và sau đó là lập pháp HK quan tâm đến một hành động vi
phạm nhân quyền trắng trợn, thô bạo và mới nhất của nhà cầm quyền
Việt cộng, là đă bắt giam nhạc sĩ Việt Khang, một nhạc sĩ
trẻ tại VN, chỉ v́ một vài bài hát thể hiện t́nh yêu quê hương đất
nước và thái độ phản kháng, oán trách, lên án nhẹ nhàng nhưng sâu
sắc đối với nhà cầm quyền Việt cộng đă hèn với giặc Tầu xâm lược, ác
với dân khi đàn áp thô bạo các cuộc xuống đường biểu t́nh của nhân
dân chống ngoại xâm. Đồng thời, với tư cách những công dân HK, tập
thể những người Mỹ gốc Việt kư thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ
HK không chỉ quan tâm, mà cần có biện pháp can thiệp triệt để, hữu
hiệu để nhà cầm quyền Việt cộng phải trả tự do tức khắc, vô điều
kiện không chỉ cho nhạc sĩ Việt Khang mới bị bắt cầm tù, mà cho
tất cả các nhà bất đồng chính kiến đang bị cầm tù v́ các hoạt động
đấu tranh cho dân chủ một cách ḥa b́nh, thể hiện quyền tự do dân
chủ, nhân quyền, điển h́nh như Linh mục Nguyễn Văn Lư, Ts. Cù Huy Hà
Vũ và Bs Nguyễn Đan Quế mới đây mới bị bắt giam trở lại…”
Như vậy, theo Luật
sư Thiện Ư, chiến dịch kư thỉnh nguyện
thư đă đạt được mục đích thứ nhất là
sự quan tâm của HK
khi họ đồng ư mở cuộc tiếp kiến phái
đoàn gần 200 người. C̣n
mục đích thứ hai (yêu cầu chính phủ HK cần có biện pháp
can thiệp triệt để, hữu hiệu... để nhà cầm quyền phải trả tự do tức
khắc, vô điều kiện cho nhạc sĩ VK...) tất nhiên chỉ được các viên
chức có nhiệm vụ tiếp kiến phái đoàn ghi nhận, không thể thành đạt
tức khắc mà chỉ có thể thành đạt trong tương lai. Nghĩa là trong
tương lai sớm hay muộn, VK và các nhà bất đồng chính kiến khác đang
bị cầm tù có được Việt cộng trả tự do theo yêu sách của những người
kư thỉnh nguyện thư hay không, c̣n tùy thuộc vào biện pháp, mức độ
can thiệp của chính phủ HK trong quan hệ song phương với Việt cộng.
Thành quả này không cần
đích thân TT Obama tiếp
kiến mới có, mà bất cứ các viên chức chính quyền nào được tổng thống
trao nhiệm vụ tiếp kiến đều có thể thành đạt và chúng ta đă thành
đạt trọn vẹn cả hai mục tiêu của chiến dịch kư thỉnh nguyện thư như
vừa nêu trên, dù các viên chức tiếp kiến cao nhất chỉ ở hàng thứ
trưởng Ngoại giao, song đều là những nhân vật đặc trách về các vấn
đề tự do, nhân quyền vùng ĐNÁ.
Chiến dịch kư TNT có triển vọng mang lại thành quả
tốt đẹp, nếu Ns Trúc Hồ và Ts Nguyễn Đ́nh Thắng kiên tŕ thêm bước
thứ 2 và 3 như kỳ vọng của bà Jackie Bông, cũng như sự gợi ư của ông
Wiktorowicz thuộc Hội đồng ANQG/HK...Nhưng rất tiếc hai ông lại bị
“đánh như đ̣n thù”. Theo nhận định của Ls Thiện Ư, Ns Trúc Hồ và Ts
Nguyễn Đ́nh Thắng bị “đánh” lư do đơn giản là v́ -một người khởi
xướng một người tiếp tay và trở thành hai người lănh đạo hàng đầu
chiến dịch kư TNT, đă đưa đến sự thành công vang dội. Lư do bị đánh
nghe có vẻ nghịch lư, song là một thực tế không phải xảy ra lần đầu
mà đă tái diễn nhiều lần, xảy ra hàng ngày trên mạng lưới truyền
thông internet, trở thành một căn bệnh măn tính, bất trị trong khối
người Việt Quốc gia chống cộng ở hải ngoại từ nhiều năm qua.
Nhưng Ai
đánh và nhằm lợi ích ǵ? Theo Ls Thiện Ư, nghi phạm thứ nhất
là Việt cộng (nhiều phần chắc là thủ phạm).
Nghi phạm thứ hai là một số Việt quốc thứ thật hay giả danh Việt
quốc “đánh Việt quốc” (Việt cộng nằm vùng).
Đối với Việt quốc thứ thật,
“động lực ‘Đánh phá’ đôi khi rất tầm thường chỉ v́ ghen ghét đố kỵ,
hay tư thù cá nhân cần bộc lộ mỗi khi có cơ hội. Ghen ghét đố kỵ có
thể là v́ thấy Ns Trúc hồ và Ts Nguyễn Đ́nh Thắng là những người trẻ,
thế hệ một rưỡi (nếu chúng tôi đoán không lầm) mà đă nổi danh
trước đó về các hoạt động công ích và thành công về chức nghiệp,
được nhiều người thán phục, ngưỡng mộ, ca ngợi. Nay lại khởi xướng,
tiếp tay, tham gia tích cực trong vai tṛ lănh đạo, đưa chiến dịch
kư thỉnh nguyện phát triển thành cao trào, được sự tham gia đông đảo
của mọi giới người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi, gây tiếng vang và
thành đạt mục đích của chiến dịch, thanh danh của Ns. Trúc Hồ và Ts
Nguyễn Đ́nh Thắng nổi như cồn, được nhiều người ngưỡng mộ…Tất cả
điều này có thể làm cho những kẻ vốn có ḷng tự cao tự đại, nghĩ
rằng việc làm này,thành quả ấy đúng ra phải là họ, do họ làm mới
đúng. V́ tài năng lănh đạo, uy tín, kinh nghiệm, thành tích hơn hẳn
những người trẻ này. V́ vậy cần phải đóng vai kẻ cả, viết bài phê
b́nh, chỉ trích để lấy tiếng, để chứng tỏ vai vế của ḿnh, để những
người trẻ dù thành công cũng đừng kiêu ngạo, quên các bậc cha anh”.
Qua nhận định của Ls Thiện Ư, cho thấy con đường đấu
tranh cho dân chủ tự do và nhân quyền quả thực cam go, đầy phức tạp
bởi ḷng người chưa thuận. Ba bước Getting to know, to build trust;
Action & Engagement và Partnership mà ông Wiktorowicz gợi ư để tạo
sự liên hệ đối tác giữa cộng đồng VN và Ṭa Bạch Ốc, khiến tôi hồi
tưởng lại những sự kiện thuận lợi của 30 năm về trước. Trước khi HK
thiết lập bang giao với TC hồi đầu năm 1979, chánh quyền Jimmy
Carter đă mong muốn thiết lập bang giao với Hà Nội theo điều 22 của
Hiệp định Paris 1973. Hà Nội đưa ra điều kiện tiên quyết là Mỹ phải
bồi thường chiến tranh theo điều 21, trước khi nói đến việc b́nh
thường hóa bang giao. Sau đó CSVN kư hiệp ước hợp tác toàn diện với
Liên Xô, với sự tin tưởng “Chủ nghĩa xă hội chủ nghĩa ngày nay là
vô địch. Hệ thống XHCN là không ǵ phá vỡ nổi. Không một âm mưu nham
hiểm nào, không một hành động hung hăn nào của bọn đế quốc và tay
sai có thể đảo ngược được t́nh thế đó”. (Lê Duẩn, Đoàn kết toàn
diện với Liên Xô là nguyên tắc, là chiến lược và t́nh cảm của chúng
ta, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1982, Tr.110)
Ông Lê Duẩn đă phát biểu như trên tại Đại hội lần thứ
26 Đảng CS Liên Xô ngày 24/2/1981, nhưng lúc đó hệ
thống XHCN đă bắt đầu giai đoạn thoái
trào. Hà Nội bị Bắc Kinh “dạy
cho bài học”, bị sa lầy trong cuộc chiến ở Cam Bốt, bị thế giới lên
án v́ đă giam giữ quá lâu người tù cải tạo, v́ thảm trạng thuyền
nhân.v.v.Trong t́nh thế đó, HK thương thuyết với CSVN, giải
quyết những tồn đọng sau chiến tranh để tiến tới bang giao. Hà Nội
không c̣n đ̣i Mỹ bồi thường chiến tranh, trái lại phải đáp ứng những
đ̣i hỏi của HK như vấn đề tù binh và người Mỹ mất tích trong chiến
tranh (Điều 8b). Vấn đề tù cải tạo, điều 11 đă qui định việc “cấm
mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ
chức đă hợp tác với bên này hoặc bên kia”. Vấn đề CSVN phải rút quân
khỏi Cam-pu-chia (điều 20).
Vấn đề tù cải tạo được HK và CSVN thương thảo từ
1982, măi đến tháng 7/1989 mới đạt được kết quả: các đợt HO bắt đầu
rời VN. Chánh quyền Reagan công nhận
người tù cải tạo là những tù nhân chính trị, và đă điều đ́nh với
cộng sản để phóng thích tất cả cựu quân nhân và công chức VNCH và
cho phép họ cùng gia đ́nh định cư ở Mỹ. Việc tái định cư số người
nầy là để trả món nợ quốc gia đối với các đồng minh của Mỹ trong
cuộc chiến Đông Dương. Kế đến là Hà Nội phải rút hết quân
khỏi Cam Bốt, kết thúc cuộc chiến ở đây bằng HĐ Paris 1991, rập
khuôn với HĐ Paris 1973 về VN. Và cuối cùng là vấn đề tù binh và
người Mỹ c̣n mất tích (MIA/POW). Chính Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Mạnh Cầm đích thân mở cửa căn hầm bí mật nằm dưới BTL/Quân đội Nhân
dân VN ăn thông đến lăng HCM tại khu cột cờ Hà Nội, để hai nghị sĩ
John Kerry và Bob Smith t́m kiếm vết tích giam giữ tù binh trong
thời chiến tranh. Đến tháng 5/1995, Hà Nội trao cho Mỹ một hồ sơ đặc
biệt 187 trang trong 116 tài liệu báo cáo các chi tiết về MIA/POW.
Tài liệu này, được Mỹ cho là đầy đủ nhất từ trước đến nay. Sau đó,
Hà Nội lại chuyển cho dân biểu Bill Richardson 100 tài liệu khác
nữa. Mỹ cho rằng việc hợp tác như thế rất thỏa đáng và hài ḷng. V́
vậy, TT Clinton đă công bố cho b́nh thường hóa bang giao toàn diện
vào ngày 11/7/1995.
Cuộc mặc cả bang giao kéo dài gần 20 năm, cả hai bên
Mỹ và CSVN chỉ đ̣i thực hiện những điều khoản nào có lợi cho họ mà
thôi. Trong khi những điều khoản đáp ứng trọn vẹn nguyện vọng của
nhân dân về dân chủ tự do, nhân quyền và quyền tự quyết dân tộc…
trong Chương IV của HĐ Paris 1973 không bao giờ được đề cập đến, v́
không có sự đóng góp của người Việt Tự do hải ngoại. Họ chưa góp
phần, v́ đă hiểu sai HĐ Paris 1973. TT Nguyễn Văn Thiệu đă khẳng
định đó là văn kiện để HK bán đứng MN tự do cho CS, nhưng từ 1987
khi Gs Vũ Quốc Thúc tổ chức buổi hội thảo công khai về việc trở lại
HĐ Paris 1973 có sự hiện diện của cựu TT Thiệu ở hậu trường. Sau
cuộc tổng tuyển cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế được thực hiện
ở Cam bốt năm 1993, ông Thiệu đă viết thư gởi ông TTK/LHQ yêu cầu
quốc tế thi hành HĐ Paris 1973.
Nhắc lại sự kiện trên, tôi thấy việc Ṭa Bạch Ốc gặp
gỡ phái đoàn đại diện cho gần 130 ngàn đồng bào đă kư thỉnh nguyện
thư là triển vọng tốt. Nhưng ngay bước đầu của tiến tŕnh Getting to
know, to build trust (làm quen để t́m hiểu và tạo niềm tin cho nhau)
đă vấp phải lấn cấn. Mục đích của TNT là mong muốn HK quan tâm
đến hành động vi phạm nhân quyền trắng trợn thô bạo của CSVN qua
việc bắt giam Việt Khang. Nhưng sau đó, lại đ̣i hỏi chánh phủ HK
“phải có biện pháp can thiệp triệt để, hữu hiệu để Việt cộng phải
trả tự do tức khắc, vô điều kiện, không những cho Việt Khang mà cho
tất cả những người bất đồng chính kiến đang bị cầm tù”. Đây không
c̣n là thỉnh nguyện nữa. Vả lại từ trước nay nhiều người luôn lên án
HK là phản bội đồng minh, nay có dịp đến Ṭa Bạch Ốc, lại đ̣i hỏi (gần
như ra lịnh) tổng thống HK phải làm cái nầy cái nọ. Ngay sau đó, lại
trách TT Obama không tiếp họ, chỉ cho những viên chức cấp thấp tiếp
xúc tại một nơi không xứng đáng, đáng lẽ phải là văn pḥng tổng
thống v.v...
Theo thiển ư của tôi, nhân cơ hội hăn hữu này, muốn
HK quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở VN, chúng ta nên nhắc lại tuyên
bố của TT Bill Clinton về việc Mỹ b́nh thường hóa quan hệ với Việt
Nam ngày 11-7-1995. Ông là vị tổng thống đảng Dân chủ tiền nhiệm của
đương kim tổng thống HK. C̣n phu nhân của ông nay là Ngoại trưởng HK
và các viên chức của bà đă đứng ra gặp gỡ và đón nhận thỉnh nguyện
của chúng ta. Chúng ta nhắc lại lời của chồng bà:
“Bằng việc giúp Việt Nam ḥa nhập cộng đồng các
dân tộc, việc b́nh thường hóa c̣n phục vụ lợi ích của chúng ta trong
việc phấn đấu cho một nước Việt Nam tự do, ḥa b́nh ở châu Á ổn định
và ḥa b́nh. Chúng ta sẽ bắt đầu b́nh thường hóa quan hệ buôn bán
của chúng ta với Việt Nam, là nước mà nền kinh tế của họ đang được
tự do hóa và ḥa nhập vào nền kinh tế của khu vực châu Á-Thái b́nh
Dương. Chính sách của chúng ta sẽ là thực hiện các chương tŕnh
thích hợp của chính phủ Mỹ nhằm phát triển thương mại với Việt Nam
phù hợp với luật pháp của Mỹ. Như quư vị đều biết, chương tŕnh này
đ̣i hỏi phải có sự thừa nhận về các quyền con người và quyền
lao động...Tôi tin rằng việc b́nh thường hóa và tăng cường các cuộc
tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do
ở Việt Nam như đă từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây. Tôi
tin tưởng mạnh mẽ rằng việc cuốn người Việt Nam vào mặt trận kinh tế
rộng lớn của cuộc cải cách kinh tế và mặt trận rộng lớn của cải cách
dân chủ sẽ giúp tôn vinh sự hy sinh của những người đă chiến đấu v́
tự do ở Việt Nam... Cho dù chúng ta có thể nghĩ như thế nào đi nữa
về những quyết định chính trị của kỷ nguyên VN, những người Mỹ dũng
cảm đă chiến đấu và bỏ ḿnh ở đó đều có những động cơ cao cả. Họ đă
chiến đấu v́ tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam”.
Tôi kỳ vọng trong các bước kế tiếp Action &
Engagement và Partnership với chính giới HK, cộng đồng người Việt
chúng ta nhắc lại chủ trương của TT Bill Clinton: “B́nh thường
hóa bang giao nhằm phát triển thương mại với VN đ̣i hỏi phải có sự
thừa nhận về các quyền của con người”. Nay HK đang trở lại châu
Á tạo sự ổn định và ḥa b́nh, để phát triển thương mại trong khu vực
Á châu-Thái B́nh Dương, chánh quyền CSVN lại vi phạm nhân quyền một
cách thô bạo đối với nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ v́ một vài bài hát
thể hiện t́nh yêu quê hương đất nước. HK sẽ biết, họ phải làm ǵ để
thể hiện chủ trương trên, “để tôn vinh sự hy sinh của những người
đă chiến đấu v́ tự do ở Việt Nam”.
Trong chiến dịch gởi TNT đến Ṭa Bạch Ốc đă có gần
150 ngàn chữ kư, đại diện cho nhiều cá nhân, đoàn thể, đảng phái
thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng chỉ có ba người được tŕnh
bày quan điểm của ḿnh một cách ngắn gọn v́ thời gian có hạn. Nhiều
người bực tức v́ lập trường, chủ trương của ḿnh không được nêu lên,
nên chỉ trích hai nhân vật chánh là Trúc Hồ và Nguyễn Đ́nh Thắng, đă
lợi dụng tập thể để mưu cầu lợi lộc cho tổ chức của ḿnh. Nếu là
người khác, không phải Trúc Hồ và Nguyễn Đ́nh Thắng, họ cũng sẽ bị
chỉ trích như vậy. Giả sử ban tổ chức có đủ thời gian lấy ư kiến đầy
đủ của tất cả những người kư TNT, có lẽ các ư kiến đều xoáy vào ba
chủ điểm: dân chủ, tự do và nhân quyền cho VN.
Tất cả đều v́ mục tiêu cả đó, lại bất măn v́ không
được gióng lên “tiếng nói” của ḿnh, rồi công kích -thậm chí mạt sát
nhau, rốt cuộc tạo thành tiếng nói chia rẽ, thù hận, rất bất
lợi cho cuộc đấu tranh chung. Hăy theo gương Việt Khang, đặt câu hỏi
“Việt Nam tôi đâu” -Việt Nam đang bị lâm nguy v́ kẻ thù phương
Bắc!!!Chúng ta phải tự hỏi: Ḿnh là ai? Anh là ai? Chúng ta phải làm
ǵ? -đoàn kết hay chia rẽ? Người yêu nước sống ở hải ngoại, phải
thương yêu, tôn trọng ư kiến của nhau, mới có đủ thực lực để liên hệ
đối tác với chánh quyền HK đang chờ đón sự hợp tác của chúng ta mà
một viên chức thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia HK –ông Quintan
Wiktorowicz đă nói rơ khi gặp gỡ phái đoàn gần 200 người VN tại Nhà
Trắng ngày 5/3/2012.
Trong cuộc chiến vừa qua, VNCH và HK đều có chung lư
tưởng đó. Đây là cơ sở thuận lợi để hai bên bắt tay cùng làm việc,
xây dựng mối liên hệ đối tác giúp chánh quyền HK t́m ra những phương
cách thích nghi để hoàn thành mục tiêu ban đầu kể trên. Tôi kêu gọi
các chiến hữu thuộc diện HO, các anh là một thực lực đáng kể của
cộng đồng người Việt ở HK. Theo Luật sư Nguyễn Hữu Thống, dựa vào
thống kê của US ODP: tính đến tháng 6/1994 đă có 97240 tù cải tạo đă
được xuất cảnh và tái định cư tại HK. Ngoài ra c̣n có 80 ngàn tù cải
tạo khác đang chờ được phái bộ HK phỏng vấn. Các anh đă được HK trả
món nợ của đất nước họ. Cầu mong các anh tham gia tích cực vào tiến
tŕnh kể trên, để mang lại phúc lợi cho đồng bào quốc nội. Đó là
cách tri ân những người Mỹ dũng cảm đă chiến đấu và bỏ ḿnh v́ tự do
và độc lập của nhân dân VN, cũng như sự hy sinh của các chiến hữu
chúng ta v́ đại nghĩa dân tộc.
Lê Quế Lâm
Sydney/Úc
châu 11/04/2012