Mùa Phục Sinh năm nay,
suy tưởng về cuộc chiến thắng của Thiện trên Ác, của T́nh yêu trên
Hận thù, của Quảng đại trên Ích kỷ...tôi không thể không nghĩ đến bà
Aung San Suu Kyi, được mệnh danh là người phụ nữ “không biết sợ
v́ không biết hận thù”. Trong mấy chục năm qua, người đàn bà
được trao tặng giải Nobel Ḥa b́nh năm 1991 này đă trở thành nhân
vật biểu tượng của Phong trào đấu tranh bất bạo động tại Miến Điện.
Trong tác phẩm có
tựa đề “Freedom from Fear” (thắng vượt sự sợ hăi), bà Aung San Suu
Kyi đă viết như sau: “Căm thù và sợ hăi
luôn đi đôi với nhau. Tôi không có căm thù th́ tôi không có sợ hăi.
Tôi chưa biết căm thù là ǵ, v́ cha mẹ tôi chưa bao giờ dạy tôi điều
đó. Nếu tôi bắt đầu căm thù những người đă giam cầm tôi, th́ tôi đă
tự mang đến thất bại cho ḿnh.”
Là một tín đồ phật
giáo thuần thành, bà Aung San Suu Kyi không chỉ đi theo con đường
đấu tranh bất bạo động của Mahatma Gandhi mà c̣n lấy “Tâm Từ” của
phật giáo làm trọng điểm của cuộc đấu tranh. Tâm từ hay Từ Bi trong
phật giáo là t́nh yêu vô vị lợi, tức yêu thương mà không tính toán
hay mong được đáp trả. Có lần bà bị nhà cầm nhà cầm quyền quân phiệt
cô lập đến độ không c̣n đủ lương thực để sống khiến bà phải nằm liệt
giường một thời gian v́ kiệt sức. Nhưng bà không buồn cũng như không
oán thù họ. Bà coi đó như một cách đóng góp vào cuộc tranh đấu dành
tự do và dân chủ cho dân tộc. Với những người đồng chí hướng đang bị
tù đày, bà khuyên: “Các bạn không nên buồn v́ thân phận ḿnh
trong hoàn cảnh này. Hăy xem đó như một cơ hội để tác động hầu mang
lại công bằng và ấm no cho dân tộc ḿnh. Đây là một dịp may hiếm có
không nên bỏ qua”.
Cuối cùng, như bà
Aung San Suu Kyi đă tin tưởng, sau 21 năm tranh đấu cùng với 15 năm
bị quản thúc của bà, chính phủ Miến Điện đă chấp nhận trả tự do cho
hàng ngàn tù nhân chính trị, cho phép người dân được quyền đ́nh công,
được tự do thành lập nghiệp đoàn. Nhưng thành quả đáng ca ngợi nhứt
của cuộc tranh đấu của bà Aung San Suu Kyi là chính bà và đảng Liên
Minh Quốc Gia Dân Chủ của bà được tự do hoạt động và cuối cùng đă
chiến thắng vẻ vang trong cuộc bầu cử vừa qua. Ngoài ra, ư nghĩa hơn
cả vẫn là việc nhà cầm quyền Miến Điện quyết định đ́nh chỉ dự án đập
thủy điện Myitsone do Trung Quốc tài trợ và xây cất. Đây là dấu hiệu
chứng tỏ Miến Điện muốn thoát khỏi sự kiềm chế của Trung Quốc để
tiến lại gần với Tây Phương hơn.
Chiến thắng của bà
Aung San Suu Kyi là một minh họa hùng hồn cho câu nói của Mahatma
Gandhi: “Trong những giây phút của tuyệt vọng, tôi tự nhủ là
trong lịch sử, sự thật và t́nh yêu luôn luôn chiến thắng. Có rất
nhiều bạo chúa và sát nhân tin là họ không bao giờ thất bại, nhưng
cuối cùng họ vẫn bị tiêu diệt. Chúng ta phải luôn nhớ điều đó.”
(x. Lương Nguyện Hiền, khatvongtuoitre.net)
“Sự thật và t́nh
yêu luôn chiến thắng” và chiến thắng ngay trong tâm hồn của chính
những kẻ mà người ta tưởng chỉ biết tham lam, thù hận và làm điều ác.
Những diễn biến mới đây tại Miến Điện không chỉ làm nổi bật nhân
cách, đức độ, vai tṛ và chỗ đứng của bà Aung San Suu Kyi mà c̣n
cho thấy một bộ mặt khác được mệnh danh là một “Mikhail Gorbachev”
của Miến Điện. Người này chính là đương kim tổng thống Thein Sein.
Ông tướng về hưu này đă từng là cánh tay mặt trong guồng máy độc tài
quân phiệt Miến Điện. Tại sao ông Thein Sein đă từ bỏ con đường độc
tài để hô hào dân chủ và tại sao các lănh tụ quân phiệt lại cho phép
ông đứng ra vận động cho dân chủ quả là một “mầu nhiệm”.
Năm nay 66 tuổi,
ông Thein Sein vẫn được xem là một người ít thô bạo nhứt trong guồng
máy độc tài và hoàn toàn không vướng mắc vào các vụ tham nhũng. Ông
luôn được mọi người ca ngợi là một con người thành thật. Đây là một
đức tính hiếm có nơi các nhà lănh đạo độc tài. Chính bà Aung San Suu
Kyi đă nh́n nhận rằng sự thành thật và thiện chí cải tổ của ông
Thein Sein đă thuyết phục bà trở lại hoạt động chính trị. Quyết định
của bà là một bước ngoặt để ông Thein Sein không những được dân
chúng trong nước ủng hộ mà c̣n giúp ông tiến gần đến với các nước
Tây phương hơn.
Có người cho rằng
sở dĩ ông Thein Sein đă xoay chiều là do cơn băo Nargis cách đây 4
năm khiến cho trên 130 ngàn người Miến Điện bị thiệt mạng. Lúc đó,
ông Thein Sein được bổ nhiệm đứng đầu cơ quan cứu trợ khẩn cấp của
chính phủ Miến Điện. Đi thị sát vùng châu thổ Irrawaddy từ trên một
chiếc trực thăng, ông đă có dịp mở to đôi mắt và nhận ra rằng quốc
gia nghèo đói của ông hoàn toàn không được chuẩn bị để đối phó với
tai họa. Nhưng mở rộng con mắt tâm hồn để cảm nhận được nỗi khổ đau
của người đồng bào mới là điều đáng nói nơi ông tướng này. Câu nói
quen thuộc của người Việt nam “máu chảy ruột mềm”, có lẽ đă được ứng
dụng cho ông. Trái tim của ông vẫn c̣n biết rung cảm trước nỗi khổ
của người đồng bào ruột thịt. Tiếng nói của lương tri vẫn c̣n đủ
mạnh để đánh thức ông khỏi giấc ngủ của ích kỷ và thô bạo. Lư trí
của ông vẫn c̣n đủ sáng suốt để nhận ra những sai trái của chế độ và
quyết tâm cải tổ.
Thein Sein chào
đời trong một ngôi làng xa xôi hẻo lánh và nghèo nàn. Cũng như hầu
hết các tướng lănh trong guồng máy quân phiệt, ông lớn lên trong
nghèo đói. Sự kiện làng ông vẫn tiếp tục nghèo nàn chứng tỏ sự thanh
liêm và lương thiện của ông. Ông Nay Win Mauang, người chuyên soạn
diễn văn cho tổng thống Miến Điện, khẳng định rằng những thay đổi
tại nước này không xuất phát từ một chiến lược nào cả. Tất cả đều là
chuyện “nhân cách”. Ư ông Nay Win muốn nói rằng những biến chuyến
gần đây tại Miến Điện là một phép lạ và phép lạ đó chính là sự hoán
cải nội tâm của một con người (x. The Sydney Morning Herald,
6-8/4/2012).
Người Việt nam
chúng ta thường nói: “thức khuya mới thấy đêm dài, sống lâu mới
thấy dạ người có nhân”. Ông bà ta quả lạc quan khi tin tưởng
điều đó. Cái nhân của Chân Thiện được Thượng đế gieo sâu trong ḷng
người luôn nằm chờ đó để có thể nẩy mầm bất cứ lúc nào. Lịch sử nhân
loại luôn chứng minh: đế quốc, chế độ hay ư thức hệ nào, dù có độc
ác và hùng mạnh đến đâu rốt cục rồi cũng cáo chung. Tiếng nói cuối
cùng vẫn thuộc về sự thật và t́nh yêu.
Tôi luôn tin tưởng
điều đó khi suy niệm về mầu nhiệm Phục Sinh của Kitô giáo. Cái chết
và sự phục sinh của Chúa Giêsu mà Kitô giáo tuyên xưng mỗi ngày là
một lời mời gọi sống lạc quan và tin tưởng. Đặc biệt trong tháng tư
này, mỗi lần nh́n tấm lịch do báo The Sydney Morning Herald tặng,
tôi luôn suy niệm về câu chuyện được kể qua những tấm h́nh biếm họa
của họa sĩ Leunig. Trong bức h́nh thứ nhứt, ông vẽ một cái tháp với
lời chú thích “Trên đỉnh của ṭa nhà cao nhứt thế giới...” Kế
đó là cảnh một người ngồi nh́n ra cửa sổ được nhà họa sĩ ghi chú
“người giàu nhứt thế giới đang ngồi”. Sang đến bức h́nh thứ ba,
họa sĩ Leunig cho người giàu có nhứt đặt hai tay lên trái tim và
giải thích: “Bên trong người này là trái tim cô đơn nhứt thế giới”.
Họa sĩ lại đưa chúng ta đến một cái giếng sâu và cho biết: “Bên
trong trái tim (của người này) là cái giếng sâu nhứt thế giới”.
Kế đó là một mảng tối được Leunig chú thích: “Ở tận đáy giếng là
mảng bùn đen tối nhứt thế giới”. Và cuối cùng, trong đống bùn
đen ấy, nhà họa sĩ vẽ một đứa bé với đôi cánh thiên thần đang nằm
ngủ. Ông chú thích: “Trong đống bùn đen có vị thiên thần sáng
láng nhứt, đáng yêu nhứt, dịu dàng nhứt, đẹp đẽ nhứt của vũ trụ”.
Rồi ông kết luận: “Xét cho cùng, sự việc không đến nỗi tệ lắm”.
Quả thật, bởi v́ ở
tận đáy sâu thẳm của cơi ḷng mỗi người đều có một thiên thần, cho
nên “mọi sự không đến nỗi tệ lắm”. Tôi tin rằng Phục Sinh mời
gọi tôi nh́n người và nh́n đời với đôi mắt tích cực và lạc quan như
thế. Danh tướng La mă tài ba Julius Caesar (100-44 trước công
nguyên) đă tóm tắt cái nh́n và tài dụng b́nh khiển tướng của ông
trong câu nói thời danh: “Tôi đă đến, tôi đă thấy và tôi đă chiến
thắng” (veni, vici, vinci). Tác giả sách Tin Mừng Gioan, một người
môn đệ thân tín của Chúa Giêsu, không rơ có nghe nói đến câu nói
trên đây của tướng Caesar không, nhưng khi tường thuật lại buổi sáng
khi ông ra mộ để viếng xác Thày ḿnh, cũng đă để lại một câu nói
tương tự: “Ông đă thấy và đă tin”. Thật ra, như ông cho biết,
ông không thấy ǵ ngoài ngôi mộ trống không. Với ông, “không thấy ǵ”
đă trở thành “thấy”, tức nh́n thấy những điều không thể thấy bằng
mắt bên kia sự trống không.
Theo tôi, người có
tinh thần lạc quan luôn nh́n thấy xuyên suốt qua những sự kiện.
Người bi quan chán đời chỉ nh́n thấy mất mát, đổ vỡ và dừng lại ở
ngơ cụt và thất vọng. Người lạc quan trái lại xem đó như một khởi
đầu mới đầy hy vọng. Và dĩ nhiên, có nh́n người, nh́n đời bằng đôi
mắt lạc quan, con người mới cảm thấy hài ḷng với bản thân, với tha
nhân và với cuộc đời.
Trên “meo đàn” của
nhóm bạn già, tôi giữ lại được một bài thơ có tựa đề “được ...!
được...!”, với ư lời thật đơn sơ, nhưng càng nghĩ càng thấy thâm
thúy khiến tôi cứ phải tâm niệm và mang ra thực hành:
“Sống
một kiếp người, B́nh an là được.
Hai bánh bốn bánh,
chạy được là được.
Tiền ít tiền nhiều,
đủ ăn là được.
Người xấu người
đẹp, dễ coi là được.
Người già người
trẻ, miễn khỏe là được.
Nhà giàu nhà nghèo,
ḥa thuận là được.
Ông xă về trễ,
miễn về là được.
Bà xă càu nhàu,
thương ḿnh là được.
Khi con c̣n nhỏ,
dạy dỗ thật nghiêm.
Tiến sĩ cũng được,
bán rau cũng xong.
Sau khi trưởng
thành, ngoan ngoăn là được.
Nhà to nhà bé, ở
được là được.
Hàng hiệu hay
không, mặc được là được.
Tất cả phiền năo,
biết xả là được.
Kiên tŕ cố chấp,
biết quên là được.
Bạn bè xa gần, nhớ
nhau là được.
Không phải có
tiền, muốn ǵ cũng được.
Tâm tốt việc tốt,
thay đổi số mệnh.
Ai đúng ai sai,
Trời biết là được.
Tích đức tu thân,
kiếp sau cũng được.
Thiên địa vạn
vật,tùy duyên là tốt.
Có rất nhiều việc,
nh́n xa trông rộng.
Mọi người đều tốt,
ngày ngày đều tốt.
Anh tốt tôi tốt,
vậy là quá được.
Nói tóm lại, tri
thức là quan trọng nhất.
Nói nhiều như vậy,
hiểu được là tốt.
Vẫn c̣n chưa hiểu,
xem lại là được.”
Nh́n người, nh́n
đời với đôi mắt lạc quan, tôi cũng tự nhủ phải nh́n vào cái chết một
cách b́nh thản. Trong bài viết “nhức nhối con tim”, tác giả
Tràm Cà Mau kể lại rằng khi được chuẩn bị đưa vào pḥng mổ, ông nghĩ
đến cái chết và cảm thấy thanh thản đến độ “cười thành tiếng”. Tác
giả tâm sự: “Thực tâm mà nói, th́ sống chết đối với tôi cũng
không quan trọng lắm. Không chết trẻ th́ chết già, không chết bây
giờ th́ sau này cũng chết. Con người phải già, phải chết, để cho các
thế hệ trẻ lớn lên thay thế, thế giới sung sức hơn. Cứ thử giả dụ
như con người không chết, th́ bây giờ cả thế giới đầy người già lụ
khụ, già chiếm chín phần, trẻ chỉ một phần. Thế giới nay toàn ông bà
già mấy trăm tuổi, chống gậy lê từng bước, xe lăn phố phường, đường
xá. Thế th́ lấy ai mà sản xuất, nuôi nấng nhân loại. Bởi vậy, tôi
b́nh tĩnh, và nghĩ rằng được sống cũng vui, mà được chết cũng vui
không kém”.
Sống chết mà có
“được” tinh thần lạc quan như thế th́ c̣n ǵ bằng!
Mỗi sớm mai thức
dậy, tôi không chỉ thấy một ngày mới đang chờ, mà là một cuộc đời
mới đang mời, giống như vừa chết đi sống lại. Thử hỏi c̣n ǵ vui hơn.
Với tôi đó chính là tinh thần Phục Sinh.
Chu Thập