
Vốn
chủ trương “ăn cây nào rào cây ấy”, cho nên hễ có dịp là tôi “quảng
cáo” tối đa cho cái vùng của tôi. Nhắc đến Central Coast, th́ phần
lớn người Việt nam, nhứt là dân câu cá, chỉ nói đến The Entrance.
Tôi cũng đă một vài lần đến thử thời vận ở cái nơi “đô hội” này.
Nhưng cứ nh́n cái cảnh dân câu, mà đa số là di dân, chen chúc nhau
để quăng cần loạn xà ngầu và nhứt là sự ŕnh rập đêm ngày của nhân
viên kiểm soát hải sản là tôi thấy “oải” rồi. Kỳ thực, cái vùng mà
người dân Úc chỉ biết đến v́ có một số dân biểu “nổi tiếng” v́ tai
tiếng như bà Belinda Neal hay ông Craig Thompson, có rất nhiều thứ
khác đáng được biết đến hơn. Tôi không quá chủ quan, bởi v́ tạp chí
Time, trong số ra ngày 6 tháng 12 năm vừa qua, cũng đă dành cho vùng
Central Coast của tôi một trang quảng cáo rất “rôm rả”. Hầu như ai ở
đây cũng dễ dàng có điều kiện để sống gần sông nước, rừng núi, nông
trại hoặc băi biển mà không cần phải là triệu phú. Là một
“peninsula” (bán đảo) cho nên băi biển rải rác khắp nơi. Những cái
tên như Avoca, Terrigal, Ettalong, Pearl Beach, Patonga dễ dàng gợi
lên cho người ta những băi biển đẹp sạch, thưa người và c̣n giữ vẻ
đẹp của thiên nhiên. Gần nhà tôi nhứt có hồ Brisbane Water. Đây là
nơi dân chơi Yatch thường tập trung lại để giương những cánh buồm
trắng xóa. Riêng dân câu cá như tôi th́ nh́n đâu cũng chỉ thấy cá.
Tôi thích nh́n cảnh cá nhảy trong cảnh hoàng hôn trên mặt hồ mỗi khi
đổi con nước. Thật b́nh yên và thanh thản.
Không biết có phải do tôi “nổ” quá hay v́ muốn gặp
lại tôi mà những ngày đầu năm dương lịch vừa qua, nhiều “phái đoàn"
từ Sydney, không “quản ngại đường xá xa xôi trắc trở”, đă kéo nhau
đến thăm. Đây là những món quà đầu năm quư giá nhứt và có ư nghĩa
nhứt đối với tôi. Cho tới nay, mỗi lần ra ngơ gặp hàng xóm, tôi vẫn
thấy ḿnh có đủ lư do để “ngất cao đầu lên” như ai v́ cũng được bạn
bè xa gần chiếu cố đến. Tôi phải ngẩng đầu lên là v́ cách đây không
lâu, mỗi lần ra khỏi nhà, tôi cứ như phải cúi đầu mà đi chớ không
dám nh́n ánh mắt mà tôi nghĩ là hơi soi mói của cư dân trong xóm,
bởi v́ báo chí địa phương đưa tin 9 vụ “trồng cỏ” trong ṿng hơn một
tháng bị cảnh sát phát giác mà trong đó có đến 6 vụ liên quan đến
những người mang những họ rất phổ thông như Nguyễn, Lê, Trần v.v.
Dân cư trong cái xóm nhỏ và yên ắng của tôi hẳn sẽ
không bao giờ quên được h́nh ảnh của nguyên một chiếc xe buưt đầy
người cố gắng uốn éo trên con đường nhỏ để rồi đậu xuống trước nhà
tôi ngay buổi sáng ngày đầu năm dương lịch. Phải khen và cám ơn anh
tài xế bạn tôi. Nhờ anh mà tôi đă có thể gặp lại thật nhiều người
thân quen trong cùng một lúc và có được một ngày đầy ắp t́nh người ở
một nơi mà có đốt đèn giữa ban ngày cũng khó t́m được một người đồng
hương.
Tối chúa nhựt vừa qua, nhiều cảm xúc vui buồn lẫn lộn
đă trào dâng trong tôi khi xem cuốn phim tài liệu “Once upon a
time in Cabramatta” được tŕnh chiếu trên đài SBS. Vui v́ được
nh́n thấy những h́nh ảnh sinh hoạt của nơi được xem là thủ đô tỵ nạn
của người Việt nam tại Úc. Buồn v́ phải theo dơi lại những cảnh đời
đầy nước mắt của nhiều gia đ́nh tỵ nạn.
Xa quê hương, được sống gần nhau, nói cùng một tiếng
nói, ăn cùng một thức ăn, chia sẻ cùng một tâm t́nh của người xa xứ...đây
là điều mà ai chẳng mong muốn. Nhưng bên cạnh niềm vui ấy là bao
nhiêu những buồn phiền khổ lụy do cuộc sống trong các cộng đồng
người Việt có thể mang lại. Tôi hiểu được tại sao, để tránh những hệ
lụy xă hội và nhứt là v́ tương lai của con cái, nhiều người đành
phải hy sinh niềm vui được sống với người đồng hương để đi lập
nghiệp ở một nơi xa lạ.
Đó là một mất mát lớn. Tôi hoàn toàn chia sẻ sự mất
mát ấy. Cũng may, thời buổi này, nhờ các phương tiện giao thông và
nhứt là kỹ thuật truyền thông “số” (digital), gặp nhau không phải là
điều bất khả thi nữa. Chỉ cần cầm điện thoại, bấm vài cái là đă có
thể nghe được tiếng nói của người ở xa. Ở cái xứ sở văn minh này,
lái xe 2,3 tiếng đồng hồ để đi câu c̣n được, huống chi là đi gặp
những người thân và bạn bè. Thành ra, ở nơi “thâm sơn cùng cốc” mà
tôi vẫn có thể tiếp tục gặp gỡ với bạn bè và người thân bằng rất
nhiều cách. Tôi vẫn xem các quan hệ ấy là điều tối quan trọng cho
cuộc sống. Càng tiến về “bóng xế” của cuộc đời, tôi lại càng thấy
nhu cầu phải duy tŕ hay thiết lập những quan hệ lành mạnh với mọi
người.
Mới đây, Bronnie Ware, một nữ y tá người Úc chuyên
chăm sóc những bệnh nhân vào giai đoạn cuối, đă ghi lại những điều
ước muốn của họ trong một cuốn sách có tựa đề “The top five
regrets of the dying” (5 điều hối tiếc lớn nhứt của những người
sắp qua đời). Lớn nhứt trong những điều hối tiếc này là “không có đủ
can đảm để sống cho ḿnh thay v́ sống theo ước muốn của người khác”.
Nhưng quan trọng không kém đó là hối tiếc v́ đă không giữ được “liên
lạc với bạn bè”. Theo tác giả, nhiều người không thực sự biết đựơc
giá trị của t́nh bạn cũ cho tới những tuần cuối đời và nhiều khi
không c̣n kịp t́m lại bạn cũ nữa. Đời sống bận bịu, ai cũng có lúc
bỏ bê bè bạn. Đến cuối đời, ai cũng nhận ra rằng chỉ có bạn bè và
người thân là quan trọng.
Tôi không có nhiều “Bè Bạn Gần Xa” như nhà văn,
kư giả Lô răng Phan Lạc Phúc. Tôi cũng chưa tham gia các văn đàn đủ
lâu để có thể viết về “Bạn văn, một thuở” như nhà văn Nguyễn
Mộng Giá hoặc có đủ quen biết để “Viết về bè bạn” như tác giả
Bùi Ngọc Tấn của “Chuyện kể năm 2000”.
Bạn thân của tôi và “bè bạn” của tôi đa số là những
người vô danh. Có những người bạn chí cốt quen nhau từ lúc c̣n mặc
quần thủng đáy trên ghế trường làng. Có những người bạn chỉ mới quen
trong thời gian gần đây. Có những người bạn tri kỷ và có vô số những
người bạn chỉ mới gặp gỡ trong một lần đi câu. Có những người bạn
đồng chí hướng, có cùng một sở thích mà cũng có vô số những người
bạn hễ gặp nhau là căi nhau inh ỏi...Với tôi, dù thân quen hay xa
cách, dù hợp khẩu hay khắc khẩu, người bạn nào cũng làm cho đời tôi
thêm phong phú hơn mà thôi.
Lúc nhỏ, cha mẹ và thày cô cứ dặn bảo phải “chọn bạn
mà chơi”. Cha mẹ tôi hẳn phải buồn ḷng không ít v́ bên cạnh những
đứa bạn “phá xóm phá làng”, tôi có rất nhiều bạn chăn trâu chuyên rủ
tôi trốn học. Với những người bạn này th́ câu nói “học thày không
tày học bạn” xem ra đă ứng dụng một cách rất chính xác. Tôi học ở
trường lớp th́ ít, mà học được ở những người bạn chăn trâu th́ nhiều.
Ngoài những kinh nghiệm sống, cách ứng xử khôn lanh, những bài học
“cách trí”, tôi c̣n học được ở những người bạn chăn trâu những điều
rất cơ bản về giáo dục giới tính đầy dẫy trong thiên nhiên.
Tôi cũng được cái may mắn tiếp xúc và kết thân với
rất nhiều bạn bè “bên lương”. Cái xóm giáo nhỏ của tôi có óc “biệt
phái” rất cao. Lúc tôi c̣n nhỏ, dân “có đạo” cứ nh́n người “ngoại”
như “vô đạo” và ngăn cấm không cho lũ trẻ chúng tôi giao du với
những đứa trẻ “ngoại đạo”, v́ sợ chúng tôi bị lung lạc “mất đức tin”
và ngay cả “mất dạy” nữa.
Về t́nh bạn, nhiều người vẫn trích câu nói: “Bạn
hăy nói cho tôi biết bạn chơi với ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là
ai”. Dĩ nhiên, “ngưu tầm ngưu, mă tầm mă”. Tự nhiên ai
cũng thích t́m đến những người giống ḿnh. Ai cũng muốn gặp gỡ những
người có cùng sở thích, cái nh́n về cuộc sống, quan điểm và nhứt là
chính kiến. Kỳ thực, một t́nh bạn đích thực có khi đ̣i hỏi con người
phải vượt qua và đón nhận những khác biệt của nhau, nhờ đó mới có
thể chia sẻ và làm giàu cho nhau.
Trong t́nh bạn, người ta cũng thường ứng xử theo
nguyên tắc “kẻ thù của kẻ thù ta là bạn của ta”. Xử sự như
thế là gia tăng tinh thần cục bộ, đầu óc phe phái cũng như chối bỏ
vai tṛ trung gian và ḥa giải thường rất cần thiết cho các quan hệ
giữa người với người. Dĩ nhiên, trong cuộc sống, có ai mà không có
kẻ thù. Có được thương mến bao nhiêu th́ cũng không tránh khỏi những
kẻ ghen ghét. Nhưng sống mà nh́n đâu cũng thấy “thù địch” hay cứ
phải bận tâm phân biệt “ bạn thù” th́ chắc chắn không thể nào có
được cái tâm an b́nh. Tôi luôn ngưỡng mộ Đức Đạt Đai Lạt Ma, nhà
lănh đạo tinh thần của Tây Tạng. Ngài luôn nh́n mọi người bằng ánh
mắt của cảm thông. Với Ngài, tất cả những nhà độc tài, ngay cả những
người đang đày đọa dân tộc và quê hương của Ngài, Ngài đều xem họ
như những “nạn nhân” cần được giải thoát và thương yêu hơn là thù
ghét.
Những ngày đầu năm, cùng với vô số những quyết tâm mà
năm nào tôi cũng muốn lập lại, tôi thấy trước hết cần phải trau dồi
tâm t́nh cảm thông đối với mọi người, bởi v́ tôi biết rằng tôi sẽ
chẳng bao giờ có được cái tâm an b́nh nếu tôi vẫn c̣n cưu mang cừu
hận trong ḷng.
Sự hiện diện của bạn bè và người thân trong những
ngày đầu năm vừa qua mang lại cho tôi một niềm vui lớn và cũng nhắc
nhở tôi điều đó: tôi không thể sống an b́nh nếu không xây dựng những
quan hệ hài ḥa với mọi người. Dù có muốn sống ẩn dật đến đâu, tôi
cũng vẫn không thể cắt đứt liên hệ với người khác. Quả thực, “không
ai là một ḥn đảo”.
Cách đây 3 thế kỷ rưỡi, khi linh mục, thi sĩ và luật
sư John Donne người Anh viết: “Không ai là một ḥn đảo”, th́
đảo vẫn c̣n bị xem là một phần đất hoàn toàn bị cô lập với thế giới.
Cách đây không lâu, một khoa học gia đặt chân đến một ḥn đảo c̣n
trinh nguyên nằm trong Thái b́nh dương. Ḥn đảo này nằm cách một ḥn
đảo gần nhứt và có người ở khoảng 500 cây số và cách đất liền khoảng
5000 cây số. Nhà khoa học ngạc nhiên vô cùng bởi v́ trên băi biển
của ḥn đảo tưởng chưa có một vết tích nào của văn minh nhân loại
chạm tới, ông lại thấy có nhiều vỏ chai và các túi ni lông.
Ngày nay, hơn cả thời của John Donne, với sự phát
triển của các phương tiện giao thông và truyền thông, có lẽ chẳng
c̣n ḥn đảo nào là chưa có người đặt chân tới nữa. H́nh ảnh ấy giúp
chúng ta hiểu được câu hỏi thời danh của John Donne “không ai là
một ḥn đảo”. Ngày nay, dù dân số thế giới đă vượt qua 7 tỷ
người, không c̣n có người nào trên mặt đất này c̣n bị xem là đứng
chơi vơi giữa trời biển nữa. Không cách này th́ cách khác, mọi người
đều liên hệ với nhau và mỗi người đều liên hệ với mọi người. Như một
viên đá cuội ném vào đại dương, cách hành xử thiếu trách nhiệm ở một
xó xỉnh nào đó trên mặt đất cũng đều tạo ra một âm vang nào đó đối
với những nơi khác. Ngược lại, một nghĩa cử, dù được làm trong âm
thầm, cũng vẫn ảnh hưởng đến người khác. Tất cả chúng ta đều là công
dân của một cộng đồng rộng lớn là nhân loại. Trách nhiệm liên đới ấy
luôn mời gọi tôi xem niềm vui của người khác cũng là của ḿnh và nỗi
khổ của bất cứ một ai đó, dù xa lạ đến đâu, cũng phải là nỗi khổ của
riêng tôi.