Học và Hạnh

________________________________________________________________________________________________ 

 Chu Thập

 

   Hôm thứ ba 7 tháng 2 vừa qua, thế giới kỷ niệm sinh nhựt thứ 200 của văn hào Anh Charles Dickens. Năm Dickens lên 12 tuổi, cha ông, v́ nợ nần chồng chất, phải bị giam tù. Dickens bị buộc phải làm việc cho một xưởng xi giày để kiếm sống và giúp đỡ gia đ́nh. Có lẽ nhờ trải qua một tuổi thơ bất hạnh như thế mà ng̣i bút của ông được tinh luyện để trở thành chứng nhân của một xă hội đầy bất công, nhứt là đối với trẻ em.

Tôi chưa từng trải qua một tuổi thơ bất hạnh đến nỗi phải đi làm để kiếm sống. Nhưng nhờ sống nơi miền quê nghèo, tôi đă học được nhiều bài học không có trong sách vở. 6, 7 tuổi, tôi đă có thể mỗi chiều vác cần câu ra bờ sông kiếm cá đủ cho bữa cơm chiều của cả gia đ́nh. Ở tuổi đó, tôi đă biết trồng cây ăn trái. Tôi cũng biết nuôi gà để kiếm tiền sắm Tết.

Tôi thường tự hào về cái tuổi thơ “huy hoàng” ấy, nhứt là khi so sánh với trẻ con Việt nam sống ở Úc đại lợi này.

Hè vừa rồi, một người bạn đưa cả gia đ́nh đến thăm tôi. Chúng tôi đưa nhau ra bờ biển gần nhà để ăn trưa và câu cá. Cậu con trai 12 tuổi của người bạn đă trở thành một “đối tượng” quan sát, nghiên cứu và suy nghĩ của tôi. Là một học sinh trường tuyển nổi tiếng “Sydney Boys”, cậu thuộc loại trẻ em có I.Q (chỉ số thông minh) cao. Có trên tay một Ipod thứ xịn, dường như cậu có thể trả lời cho bất cứ câu hỏi nào cần tra khảo trên Internet. Nhưng đến khi ra biển, gặp một đàn vịt dạn dĩ đang ăn kề bên bàn ăn của chúng tôi, tôi lại thấy cậu học sinh xuất sắc này tỏ ra “lớ ngớ”. Tôi đoán cậu bé chắc chắn cũng có chút đỉnh kiến thức về gia cầm, nhưng là thứ gia cầm cậu thấy trong sách vở, trên màn ảnh truyền h́nh, trong siêu thị hay chỉ ngắm xa xa, chứ không phải nuôi trong nhà hay có thể đến thật gần như ở công viên. Đây hẳn phải là lần đầu tiên cậu bé thông minh này được tận mắt nh́n thấy một đàn vịt bằng xương bằng thịt, có lông có cánh cho nên đă bỏ ăn để say mê theo dơi sinh hoạt của chúng.

Thái độ hơi “ngố” của cậu bé làm cho tôi nhớ đến cậu con trai 22 tuổi của chúng tôi. Dịp đi Việt nam vừa qua, chúng tôi tin tưởng trao phó nhà cửa, vườn tược và gia cầm cho cậu trông coi. Những “báo cáo” của người sinh viên đă tốt nghiệp khoa báo chí, học năm cuối khoa luật cũng như đă từng sống ở một số nước Âu châu, không thể không mang lại cho chúng tôi nhiều trận cười. Trong một điện thư, cậu cho biết v́ thấy khu gà vịt ở không có nhiều ánh nắng, lâu ngày có thể bị “stress” cho nên cậu đă lùa cả đàn ra ngoài trời cho chúng “tắm nắng” (?!). Tôi không biết đám gà vịt của chúng tôi có thèm tắm nắng để có được làn da nhuộm nâu như mấy cô gái Úc không. Chỉ có điều: sau một tháng đi nghỉ về, h́nh ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là một chị vịt đang ngậm trên mỏ một lá xà lách, đứng như trời trồng tṛn mắt nh́n chúng tôi như thể chúng tôi đă bất lịch sự v́ “đến thăm” mà không báo trước. Đằng sau là cả một “hội hè đ́nh đám” trong vườn rau với vịt gà khắp nơi, rau cải te tua lăn lóc. Đúng là “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Nh́n mà thấy ḷng tan nát tả tơi không khác chi cảnh sân nhà.

Trong một “báo cáo” khác, người luật sư tương lai than phiền rằng đang lo học thi mà có hôm anh đă phải mất quá nhiều th́ giờ và điên tiết lên v́ chuyện một con vịt lớn (vịt cồ) cứ t́m cách cắn vào đầu một con vịt nhỏ (vịt mái) và leo đè lên người nó. Anh cho biết đă phải nhiều lần can thiệp để chấm dứt và ngăn ngừa cái cảnh “hiếp đáp” như thế.

Nghe người thanh niên Úc gốc Việt sắp sửa ra đời hành nghề luật sư kể lại những lần đi “thực tế” ở cái vườn sau nhà như thế, vợ chồng tôi chỉ biết ôm bụng cười. Nhiều người Việt nam trong nước cho rằng trẻ con Việt nam sinh ra ở nước ngoài bị tiêm nhiễm lối sống “văn minh trụy lạc”, không c̣n biết đến lễ giáo và đạo đức. Kỳ thực, tôi thấy nhiều trẻ em Úc gốc Việt không chỉ giữ được truyền thống dân tộc, mà c̣n tỏ ra hồn nhiên, ngây thơ và nhứt là chân thật hơn trẻ em trong nước. Trong những cuộc gặp gỡ thân t́nh giữa các gia đ́nh Việt nam, tôi thấy có những cô gái đă 17, 18 tuổi, gặp người lớn bạn của cha mẹ vẫn khoanh tay cúi đầu chào một cách thật “dễ thương” như một đứa con nít mới tập học lễ phép.

“Dễ thương” và cũng “đáng thương”. Tôi thương cái cảnh trẻ em Việt nam tại Úc tất bật với đủ thứ sinh hoạt trong một ngày sống: hết học ở trường, vừa về nhà lại bị cha mẹ chở đi học thêm; hết tiếng Anh trong tuần lại đến tiếng Việt cuối tuần; hết thể dục thể thao ở trường lại đến các lớp bơi, vơ thuật..., phút nào c̣n sót th́ chúi đầu vào màn h́nh phút đó. Đi đâu cũng có cha mẹ kè kè bên cạnh.

Hôm đầu năm Âm lịch vừa rồi, tôi có đi thăm một trại nuôi cá Barramundi ở Port Stephens, gần New Castle. Ra về, tự nhiên tôi quyết định sẽ không ăn cá Barramundi nữa. Con gà công nghiệp ít ra c̣n có chút không gian để thở, để nh́n trời và cựa quậy. Con cá Barramundi được nuôi công nghiệp th́ hoàn toàn như con gà nuôi trong ống tre. Chúng bị thúc ép để lớn nhanh một cách không b́nh thường.

H́nh ảnh này làm cho tôi nghĩ đến những trẻ em mà đầu óc phải bị nhồi nhét quá nhiều kiến thức đến độ bội thực. Tôi có thể tự hào về tuổi thơ gần gũi với thiên nhiên hơn trường học của tôi. Nhưng tôi phải chào thua tuổi thơ ngày nay: một bồ kiến thức của một nhà bác học ở giữa thế kỷ trước có khi không bằng một góc nhỏ trong cái kho kiến thức của trẻ em thời đại. Xem ra chuyện ǵ chúng cũng biết. Xem ra chuyện ǵ chúng cũng có thể tra khảo và t́m được câu trả lời.

Nhưng kiến thức không đương nhiên mang lại sự khôn ngoan. Sự hiểu biết cũng không nhứt thiết làm cho con người có tư cách và đạo đức hơn. Một bộ óc vĩ đại như thiên tài Albert Einstein chưa chắc đă là một bậc mô phạm về nhân bản, về đối nhân xử thế. Trong lịch sử nhân loại, có biết bao nhiêu thiên tài là quái vật hay đồ tể.

Kiến thức không đương nhiên làm cho con người “nên người” hơn. Tôi có ư nghĩ như thế khi theo dơi cuộc tranh luận do nhà toán học tài ba Ngô Bảo Châu khơi dậy khi tuyên bố trên báo Tuổi Trẻ trong nước rằng trí thức “không liên quan ǵ đến vai tṛ phản biện xă hội” (x.Việt Luận 3/2/2012).

Lời tuyên bố của người Việt nam đầu tiên được tặng giải toán học danh giá “Fields” hồi năm vừa qua, lại gợi lên cho tôi “lời phán dạy” của đồ tể Mao Trạch Đông mà chắc chắn các nhà trí thức trên thế giới sẽ không bao giờ quên được: “Trí thức như cục phân”. Phân th́ ở đâu và thời nào cũng bị xem như cặn bă thối tha. Nhưng kể từ khi chế độ cộng sản ở Trung Quốc và Việt nam đă sáng chế ra “phân Bắc” th́ cái thứ cặn bă thối tha ấy lại trở thành “hữu dụng”. Nếu không có tầng lớp trí thức bị chế độ cộng sản khuất phục, “thuần hóa” th́ một Mao Trạch Đông hay Hồ chí Minh không thể nào có đủ ba đầu sáu tay để xây dựng nhà tù để giam hăm người dân vô tội hay đào mồ để chôn sống hằng triệu triệu con người. Nếu không có cái đám trí thức “nô bộc” sẵn sàng bán rẻ lương tâm để cúc cung tôn thờ cá nhân Hồ Chí Minh và đề cao tội ác của chế độ cộng sản th́ dân tộc Việt nam không phải bị đọa đày cho tới ngày nay. Ngày nay, Việt nam không thiếu “trí thức”, nhưng toàn là trí thức giả hiệu và đui mù. Bằng cấp th́ đầy ḿnh, nhưng chỉ là bằng cấp giả. Hoặc giả có được kiến thức giúp cho mở to đôi mắt để nh́n, th́ họ cũng chẳng thấy. Hoặc có thấy th́ họ cũng giả điếc làm ngơ.

Trong một bài viết gởi cho Ban Việt ngữ của Đài Phát Thanh BBC, một tác giả từ trong nước kư tên là Huệ Đăng đă viết rằng “Thế giới có danh xưng ǵ, Việt nam cũng có đủ danh xưng ấy, nhưng tất nhiên với bản chất khác hẳn và danh xưng Trí thức cũng không phải là một ngoại lệ”.

Tra khảo từ “Intellectuel hay Intellectual” trong Wikipedia, tác giả cho biết danh xưng “Trí thức” xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1898 khi khoảng 2000 người gồm các nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, công chức cao cấp của Pháp đă “dũng cảm” kư tên vào một tuyên ngôn để phản đối một vụ án bất công.

Như vậy, theo tác giả, “thuộc tính đầu tiên của Trí Thức là ḷng dũng cảm: dũng cảm bảo vệ ư kiến của riêng ḿnh và dũng cảm đưa ra thảo luận công khai v́ việc chung, v́ sự phát triển xă hội. Để có thể có được quan điểm, nhận định riêng - có tính phê phán - của ḿnh trả lời cho những vấn đề chung của xă hội mà những người khác hoặc là không nhận thức được, không biết câu trả lời, hoặc không dám đưa ra thảo luận công khai, người Trí thức phải có khả năng phân tích, phân biệt Tốt-Xấu, Đúng-Sai, Lợi-Hại, Nên-Không nên, một cách lư trí, độc lập và khách quan không theo t́nh cảm của ḿnh”.

Dũng cảm để nói lên và bảo vệ ư kiến của ḿnh đă đành, trí thức phải trước tiên là người biết tôn trọng sự thật. Chối bỏ sự thật cũng đồng nghĩa với phủ nhận khả năng “trí thức” của ḿnh. Tôi thường nghĩ đến người được trao tặng giải Nobel văn chương và được xưng tụng là một trong những nhà trí thức hàng đầu của Pháp hồi thế kỷ trước là Jean Paul Sartre. Có lẽ chẳng có ai có óc lư luận sắc bén như ông và cũng chẳng có ai “dũng cảm” để bày tỏ và bảo vệ ư kiến của ḿnh cho bằng ông. Ông đă từng đi Liên xô để thấy cái cảnh nghèo nàn lạc hậu của thiên đường xă hội chủ nghĩa và dĩ nhiên cũng đă nghe hay thấy tận mắt những “quần đảo ngục tù Gulag”. Vậy mà về Pháp, ông vẫn ra rả ca tụng tính ưu việt của các chế độ cộng sản. Cũng may, về già, trước làn sóng vượt biên của người Việt nam, khi đă thực sự mở mắt ra để nh́n thấy tội ác của các chế độ cộng sản, triết gia hiện sinh này mới sám hối và nh́n nhận bộ mặt thật của chủ nghĩa cộng sản.

Ở Việt nam, vào cuối đời, khi chấp nhận để cho lư trí và lương tâm soi sáng, những nhà trí thức cộng sản Việt nam như Chế Lan Viên...mới có đủ can đảm để nói lên rằng ḿnh đă ngồi vào bàn tiệc để ăn bánh vẽ và đă bị cưỡng bách để bắt người khác cũng ăn bánh vẽ với ḿnh. Trí thức cũng phải là người biết sám hối. Mà nói tới sám hối là nói đến những giá trị đạo đức. Bỏ qua một bên ư niệm tôn giáo về “tội lỗi” và sự xúc phạm đến Thượng Đế hay thần minh, đă nói tới sám hối là phải nghĩ đến những giá trị đạo đức. Dù thuộc tôn giáo hay không thuộc tôn giáo nào, đă là người th́ không thể trốn tránh khỏi những giá trị đạo đức.

Không phải chỉ nghêu ngao hát một bài là thành ca sĩ, không phải chỉ sắp xếp mấy nốt nhạc thành một bài ca là đủ để tự xưng là nhạc sĩ, cũng chẳng phải viết được một truyện ngắn là có quyền gắn thêm cái đuôi “nhà văn” vào tên của ḿnh...Cũng thế, tôi chẳng bao giờ thấy ḿnh có được một thành tựu nào khả dĩ cho phép tôi tự xưng là nhà “trí thức”. Nhưng tôi xác tín một điều là giá trị đích thực của một con người, nhân cách của con người không tùy thuộc vào kiến thức hay bằng cấp người đó đạt được, mà là phẩm hạnh của con người đó.

Người Việt nam thường gắn liền “học” với “hành”. “Hành” không chỉ là “thực hành” điều ḿnh đă học được, mà c̣n là sống cho xứng với những hiểu biết của ḿnh. Đúng hơn, người ta phải để cho “học” đi đôi với “hạnh”.

Tôi chẳng bao giờ xứng đáng để được gọi hay tự xưng là trí thức. Nhưng tôi nghĩ rằng người “trí thức” cũng phải là người “tỉnh thức”. “Tỉnh thức” bởi v́ ḿnh đang sống với người khác và để sống cho người khác. Xét cho cùng, thước đo của con người không nằm trong mớ kiến thức tiếp thu trong sách vở, nghiên cứu hay tự ḿnh khám phá, mà chính là ở tinh thần vị tha. Có rất nhiều điều quan trọng trong cuộc sống như hạnh phúc, đau khổ, cảm thông, chia sẻ...không bao giờ thể diễn tả hết được qua kiến thức mà chỉ có tiếp cận, sống cùng, sống với mới giúp cho người ta “thấm thía” được. Như vậy, giáo dục cho một đứa trẻ nên người không phải là thúc bách hay cưỡng bách nó phải giựt cho bằng được mảnh bằng hay trở thành một nhà trí thức, mà chính là biết quan tâm đến người khác, sống với và cho người khác trong tinh thần liên đới và nhứt là cảm thông.

Thời đại ngày nay sản sinh ra rất nhiều chuyên viên nhưng lại chẳng hề có chuyên viên ngành cảm thông

                Chu Thập

 

Home