Thân
Trọng Thủy
1. Cách
đây không lâu, tại một chương tŕnh thi kiến thức về âm nhạc
trên TV (tương tự như chương tŕnh ‘Đố vui để học’, tổ chức để
phục vụ sinh viên học sinh và giới trẻ) tôi đă rất bất b́nh
trước đáp án nhầm lẫn của ban giám khảo cuộc thi. Số là ban tổ
chức cho nhạc trổi một đoạn ngắn của bài ‘Pour Élise’ (hay
Lettre à Élise) rồi người dẫn chương tŕnh đọc câu hỏi như
sau: “Bạn hăy cho biết tên bài hát”. Sau thời gian qui định là
30 giây, không đội nào trong 3 đội dự thi bấm chuông trả lời cả.
Người dẫn chương tŕnh bèn đề nghị ban giám khảo giải đáp. Ban
giám khảo trả lời chắc nịch: “Đó là bài ‘Tout l’amour’”.
Hôm ấy tôi thấy tức anh ách. Mấy hôm sau gặp một anh bạn nhạc sĩ,
tôi hỏi anh có xem chương tŕnh đố vui âm nhạc chiều Chủ nhật
vừa qua không. Anh cười hiền lành và nói: “Những vụ bé cái nhầm
ấy tôi thấy khá nhiều. Suy cho cùng trí nhớ chúng ta rất dễ bị
lẫn lộn, bởi v́ âm điệu, tiết tấu của hai bài hát giống nhau đến
nỗi ta có thể hát một câu của bài nầy rồi hát tiếp một câu của
bài kia mà người nghe không thể phân biệt được, cứ tưởng chỉ có
một bài mà thôi. Những cái giống nhau như thế kể ra nhiều lắm,
nhất là trong nhạc Việt. Này nhé, anh hăy nghe hai câu nầy xem
có giống nhau như hai giọt nước không:
“- Dashing through the snow”
(bài Jingle bell!)
“- Sài G̣n nắng mưa cơ cầu”(bài
‘Chuyến tàu thống nhất’ của Lam Phương).
Anh bạn tôi nói tiếp: “Nhưng tôi xin nói ngay kẻo anh hiểu
lầm,tôi không nghĩ là nhạc sĩ họ bắt chước nhau hay ăn cắp của
nhau đâu. Theo tôi, đó chỉ là sự
nhập tâm.
Hằng ngày ta nghe những điệu hay, lời đẹp, ta
ưa thích và giữ lại trong trí nhớ mà không biết. Bỗng một lúc
nào đó tức cảnh sinh t́nh, từ trong tiềm thức ta những lời những
điệu ấy tuôn ra một cách rất tự nhiên, rất t́nh cờ, nhưng mà rơ
ràng ta thực sự tin đó là sở hữu trí tuệ của ta, ta không hề vay
mượn, không hề bắt chước ai cả. Đó chỉ là cái hiện tượng mà
người ta thường giải thích là “chí lớn gặp nhau”.
“Vũ Bôi Liêu, trong ‘Những sự gặp gỡ giữa Đông phương và Tây
phương trong ngôn ngữ và văn chương’ đă chứng minh rất hùng
hồn, rành mạch và thuyết phục về ‘duyên kỳ ngộ’ đó. Đông phương
và Tây phương đều biết cách chơi chữ,biết dùng tá âm,biết
dùng phép tỉ trong khi hành văn. Vũ Bôi Liêu dẫn chứng:
-
“Lư Thái Bạch, kể tâm
sự người vợ xa chồng, đă viết:
Đương quân hoài qui nhập
Thị thiếp đoạn trường
th́
Xuân phong bất tương
thức
Hà sự nhập la vi
(Đương khi chàng mong ngày về, thiếp ở nhà
đau ḷng. Gió xuân không quen biết, cớ chi vào màn the?)
“Mười mấy thế kỷ sau, trong thiên truyện ngắn ‘Le passé’
đă (được) dịch đăng báo ‘Gringoire’ bên Pháp, ông
Gabrièle D’ Annunzio cũng viết mấy câu nầy: “Chiều nay buồn
rầu, tôi nhớ đến người yêu ở nơi đất khách. Chàng đă hẹn ngày
về, cớ sao măi chẳng thấy? Ḱa làn gió nhẹ thổi. Ta không quen
biết mi, hỡi gió, cớ sao mi vào tận giường ta? (Ce soir,
tristement je pense à lui. Il a annoncé son retour, pourtant je
l’ai attendu en vain. Voilà qu’une légère brise souffle. Ô vent
inconnu qui pénètre dans ma chambre, pourquoi viens-tu jusque
dans mon lit?) Nhà thi sĩ Trung Hoa sống từ thế kỷ thứ VIII,
chắc không ngờ rằng hơn một ngh́n năm sau, ở tận trời Tây xa
lắc, một nhà văn Ư Đại Lợi sẽ viết những câu, lạ thay, giống thơ
ḿnh cả từ lẫn ư. Phải chăng D’Annunzio đă đọc Lư Thái Bạch?” (Vũ
Bội Liêu, sách đă dẫn, trang 16, 17).
***
Nghe bạn tôi nói, tôi lại có ư nghĩ ngộ nghĩnh rằng bất kể thời
nào, bất kỳ ở đâu, tất cả các tài năng, bẫm sinh hay do rèn
luyện, h́nh như đều được khí thiêng đất nước hoặc một đấng siêu
phàm nào đó ban cho những khả năng đạc biệt mà người khác không
có. Những khả năng ấy phát triển cùng một cách như nhau do tính
chất siêu việt của chúng, và điều nầy giải thích tại sao các
thiên tài thường có chung một ư tưởng và chung cả cách diễn đạt
ư tưởng đó.
Nếu không phải thế th́ tại sao lại có 2 bài thơ (mà tôi sắp chép
lại dưới đây) rất giống nhau ở chỗ mỗi câu đều được bắt đầu bằng
một chữ ‘thương’
lập đi lập lại, và tất cả cái hay, tất cả sự tài t́nh đều nằm
trong chữ thương rất dễ thương đó!
Hai bài thơ đều có sự tích của chúng:
a)- Bài thứ nhất : Có một anh học tṛ nghèo một hôm ở
trong một hàng quán cứ nh́n trộm cô hầu non của một ông quan vơ.
Ông quan tức ḿnh liền bắt gă thư sinh phải làm một bài thơ, nếu
không hay sẽ bị đánh đ̣n. Anh học tṛ liền viết luôn một mạch :
Há dám thương đâu gái
có chồng
Thương v́ một nỗi có
mà không
Thương cành hoa muộn
sương xao xác
Thương đóa đào non
tuyết lạnh lùng
Thương tấm lụa điều
thân mỏng mảnh
Thương con én trắng
phận long đong
Thương th́ thương
vậy, thương sao đặng
Há dám thương đâu gái
có chồng
b)- Bài thứ hai: tương truyền là của Vương Tuân. Nhà
nghèo nhưng học giỏi, ông muốn lấy con gái một ông Đô úy. Quan
ra câu đối, ông đối lại rất hay.Quan bằng ḷng gả con gái cho
ông. Nhưng cô con gái chê ông là đồ quần manh áo rách.
Ông lẩm bẩm:” Khinh người vừa vừa chứ! Thương nhau là hết!” Cô
ta thốc cho một hồi: “Thương cha, thương mẹ, thương vợ,
thương con, thương cái nhà anh, ai khiến anh thương?” Ông
quan liền vin lấy câu ấy làm đầu bài bắt ông làm một bài thơ.
Ông liền viết ngay:
Há dám thương đâu phận má hồng
Thương v́ một nỗi để
pḥng không
Thương cha mẹ nhện
giăng tơ lưới
Thương vợ chồng Ngâu
cách mặt sông
Thương con cuốc rũ
kêu mùa hạ
Thương cái bèo xanh
dạt bể đông
Quân tử có thương,
thương thế đó
Há dám thương đâu
phận má hồng
(Vũ Bội
Liêu, sđd, trang 120, 121)
2.-Hệ
luận của tiên đề ‘Chí lớn gặp nhau’ là sự nhầm lẫn (hoặc nghi
vấn) tên tác giả.
a)- Đầu tiên là trường hợp bài thơ ‘Bán than’ (Một gánh kiền
khôn quảy xuống ngàn/Hỏi chi bán đó gửi rằng than…) tương
truyền là của Trần Khánh Dư, một vị tướng đời vua Trần Nhân
tông, và được xem như bài thơ nôm cổ nhất c̣n truyền lại. Nhưng
Phạm Đ́nh Hổ và Nguyễn An trong “Tang thương ngẫu lục”
(Ngô Văn Triện dịch và chú thích, bản in lại của nxb Văn Học Hà
Nội, 2001, trang 183, 184) khẳng định đây là tác phẩm của một
bậc di thần của chúa Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII). Có lẽ v́ tướng
Trần Khánh Dư thưở hàn vi cũng làm nghề bán than nên mới có sự
nhầm lẫn đó chăng?
b)- Tiếp đến là trường hợp bài văn tế hậu phi của Bắc quốc mà
triều đ́nh nhà Nguyên yêu cầu ông Mạc Đỉnh Chi đọc, bài văn tế
ấy chỉ có 4 chữ ‘nhất’. Chẳng hề ngạc nhiên , không hề
nao núng, ông ứng khẩu đọc luôn:
Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao tŕ nhất phiến nguyệt
Y! vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt
khuyết!
Về sau, người ta khám phá ra rằng bài nầy là của Lư Bạch, chứ
không phải của Mạc Đỉnh Chi. Có lẽ người ta gán cho Mạc Đỉnh Chi
để tán dương thêm trí thông minh và tài ứng đối của vị lưỡng
quốc trạng nguyên nầy mà thôi. Thật ra, dù súc tích đến cỡ nào,
dù cô đọng đến mấy, một bài văn tế mà chỉ gồm có mấy câu như
thế, chưa chi đă hết, “chưa chi đă xong việc”,há chẳng
làm cho người nghe cụt hứng lắm hay sao?
c)-Một vài trường hợp hồ nghi tác quyền nữa:
- Ai là tác giả thực sự của bản diễn nôm Chinh phụ
ngâm đang lưu truyền, Đoàn Thị Điểm hay Phan huy Ích?
- Nguyễn Trăi có phải là tác giả bài Tự thán
và Gia Huấn Ca?
- Hoặc bài ‘Khuyên tiết kiệm’ chép trong cuốn
“Hồi ức về cha tôi, Ưng B́nh Thúc Giạ Thị” tác giả Tôn Nữ Hỷ
Khương khẳng định là của Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn. Bài thơ chỉ
có 4 câu:
Dặn vợ có dưa đừng gắp mắm
Khuyên con bớt gạo bỏ
thêm khoai
Thế gian có bảo rằng
hà tiện
Hà tiện nhưng mà
chẳng lụy ai
(sđd, trang
75,76)
Nhưng tôi lại có dịp đọc một bài thơ Đường luật, nhan đề: “Hà
tiện”, tác giả là Nguyễn Minh Triết :
Giàu th́ ba bữa khó th́ hai
Lần lữa cho qua
tháng thiếu đầy
Nón đổi lá
ngoài, quần đổi ống,
Dép thay da mặt, túi thay quai.
Dặn vợ có cà
đừng gắp mắm,
Bảo con bớt
gạo, bỏ thêm khoai.
Thế gian mặc
kẻ cười hà tiện,
Ta chẳng
phiền ai, chẳng lụy ai.
(Xem Quách Tấn/ Thi pháp thơ Đường,
nxb Trẻ, TP.HCM 1998)
Đọc 2 bài thơ trên, ta không khỏi thắc mắc:
-
Tựa đề là “Hà tiện”
hay là “Khuyên tiết kiệm”?
-
Bài thơ Khuyên tiết
kiệm nguyên thủy có đủ 8 câu hay chỉ có 4 câu?
-
Có phải lúc đầu bài
thơ chỉ có 4 câu, sau đó có người thêm 4 câu nữa cho đủ một bài
thất ngôn bát cú?
-
Hay là bài thơ “Khuyên
Tiết Kiệm” lúc đầu có đủ 8 câu nhưng về sau người ta chỉ c̣n
nhớ được 4 câu?(và khác với bài “Tiết kiệm”?)
-
Tác giả là Nguyễn Minh
Triết hay Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn? Hay Nguyễn Minh Triết cũng
là bút danh của Nguyễn Trọng Cẩn?
3.-Vấn
đề đặt ra đă quá rơ:
Nếu quả là ‘chí lớn gặp nhau’ trong âm nhạc
cũng như trong văn chương (mà có đấy, như đă dẫn chứng ở đoạn
trên) th́ đó là điều rất đáng trân quí. Nhưng nếu có nghi vấn về
tác quyền th́ xin hăy t́m cách ‘trả lại cho César những ǵ
thuộc về César’ .Thật khó chấp nhận t́nh trạng một tác phẩm
văn học được ghi chép lại trong 3 cuốn sách mà mỗi cuốn ghi một
tên tác giả khác nhau! Xin dẫn chứng:
1)- Sách “Công dư tiệp kư” của Vũ Phương Đề
(Đoàn Thăng dịch, nxb Văn học, Hà Nội, 2001) kể chuyện “Tụng
kinh đề thơ thấy tiên nữ” chép như sau:
“Vua Thánh tông ra chơi Quốc Tử Giám , khi
đi ngang chùa Bà Đanh, nghe thấy tiếng một ni sư tụng kinh, âm
thanh trong leo lẻo suốt đến tầng mây. Lúc trở về, vua vào thăm
chùa. Sư ni trông thấy, bèn đề lên vách hai câu lục bát bằng chữ
nôm:
“Tới đây thấy
cảnh thấy thầy,
Tuy vui đạo bụt
chữa khuây ḷng người.”
Sư ni đề xong , bước vào hậu trường. Vua
sai 28 học sĩ ứng chế (Thật ra phải viết là vua sai 27 học sĩ
ứng chế mới đúng, v́ nhị thập bát tú gồm cả vua nữa. Vua là
nguyên soái của tao đàn- chú thích của TTT).Ông nào cũng từ
chối, không làm được. Vua bèn sai phó nguyên soái Thân Nhân
Trung, ông làm rằng (gọi bài nầy là bài số 1):
Ngẫm sự
trần duyên khéo nực cười
Sắc không tuy
bụt hăy ḷng người
Chày kinh một
tiếng tan niềm tục,
Hồn bướm ba
canh lẫn sự đời.
Bể ái ngh́n
tầm mong tát cạn,
Nguồn
ân muôn trượng chửa khơi vơi.
Nào nào
cực lạc là đâu nữa,
Cực
lạc là đây chín gấp mười.
2)- Sách “Việt Nam thi văn giảng luận”
của Hà Như Chi có trích dẫn bài “Cảnh đền Trấn Vơ” của Bà
Huyện Thanh Quan, nguyên văn như sau (gọi bài nầy là bài
số 2):
Êm
ái chiều hôm tới trấn đài
Lâng
lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi
chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một
vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ái
ngh́n trùng khôn tát cạn,
Nguồn
ân trăm trượng dễ khơi vơi.
Nào nào
cực lạc là đâu tá?
Cực lạc
là đây chín rơ mười.
Theo giáo sư Hà Như Chi, bài nầy thể hiện
ḷng mong ước của Bà Huyện Thanh Quan, mong ước một cuộc sống
phẳng lặng, khát khao một sự yên tĩnh cho tâm hồn, một bầu không
khí rũ sạch ưu tư, hoàn toàn trong sáng.
Quả thật rất phù hợp với tâm trạng và tính cách của Bà Huyện
Thanh Quan.
3)- Tuy nhiên lại có sách khác
chép rằng bài thơ đó là của Hồ Xuân Hương, có tựa đề là: “Chơi
đền Khán Xuân” (bài số 3):
Êm ái
chiều xuân tới Khán đài
Lâng lâng
chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi
triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng
tang thương nước lộn trời.
Bể ái
ngh́n trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân
muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào
cực lạc là đâu tá?
Cực lạc
là đây, chín rơ mười.
Thật cứ y như là “3 trong 1”. Vậy ‘chí lớn gặp nhau’ hay các nhà
nghiên cứu và biên soạn đă ‘lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia’? Hay
ở đây có sự tam sao thất bản?
Kính mong các bậc thức giả cho biết ư kiến.
Thân Trọng Thủy
11/2008