Hôm nay là ngày mà các
tín hữu Kitô Việt nam cũng như tại hầu hết mọi nơi trên thế giới gọi
là “Thứ Sáu Tuần Thánh”. Ở Úc, ngày này được gọi là “Good Friday”,
một ngày nghỉ lễ (Public Holiday). Tôi không biết “good” có đồng
nghĩa với “thánh” không. Nhưng cứ sự thường, “good” chỉ có nghĩa là
tốt đẹp mà thôi. Ngày tưởng niệm Chúa Giêsu chết được gọi “Good” (tốt)
là phải, bởi v́ ra đường thấy đâu đâu cũng có người lên đường đi
nghỉ lễ Phục Sinh và sinh hoạt có khi lại c̣n náo nhiệt hơn ngày
thường. Trái với bầu khí vui chơi nhộn nhịp này, vào các nhà thờ ở
Việt nam, nhứt là ở miền Bắc hay khu “Bắc kỳ di cư” ở miền Nam,
người ta chỉ thấy toàn một mầu tang chế buồn thảm: nhà thờ trắng xóa
khăn tang, giọng “ngắm nhân tài” hay “ ngắm đứng” nghe thật năo nuột!
Ở những nước nói
tiếng Anh, người ta c̣n gọi Ngày thứ sáu tuần thánh là “Black
Friday” (thứ sáu tối đen). Kiểu nói này xem ra gợi h́nh và gần với
Kinh Thánh hơn cả, bởi v́ Kinh Thánh viết rằng khi Chúa Giêsu tắt
thở th́ “bấy giờ đă gần tới giờ thứ sáu (3 giờ chiều), thế mà
bóng tối bao phủ khắp mặt đất, măi đến giờ thứ 9. Mặt trời ngưng
chiếu sáng” (Lc. 23,44-45). Tại Phi luật tân, quốc gia có đông
người công giáo nhứt Á châu, thứ sáu tuần thánh đúng là một ngày
“tối đen”. Ở quốc gia mà Đạo công giáo được người Tây ban nha mang
đến ngang qua ngă Mễ Tây Cơ cùng với vô số tập tục lỉnh kỉnh của
Châu Mỹ Latinh này, Thứ Sáu Tuần Thánh được tuân giữ một cách triệt
để nhứt. Không kể đến những vụ đóng đinh “thật sự” được tổ chức tại
một làng quê cách thủ đô Manila khoảng 60 cây số về hướng Bắc cũng
như cảnh những người trùm đầu, ḿnh trần, đi chân không giữa cái
nắng trên 35 độ C, dùng roi sắt quất vào người cho đến khi máu chảy
đầm đ́a...cả nước Phi luật tân hầu như ch́m ngập trong “tăm tối” của
ngày thứ sáu tuần thánh. Ở một nước mà tiếng động cơ máy nổ đủ loại
hoạt động suốt ngày đêm, tạo ra một thứ ô nhiễm âm thanh khủng khiếp,
người ta có cảm tưởng như mọi thứ đều ngưng lại trong ngày thứ sáu
tuần thánh, cứ như là bị “black out” (cúp điện) toàn diện. Công sở,
hăng xưởng, trường học, chợ búa, hàng quán đóng cửa đă đành, mà các
phương tiện di chuyển công cộng cũng chẳng có hay bị hạn chế tối đa.
B́nh thường, cứ 4, 5 giờ sáng, người dân Phi đă thức giấc và tuốn ra
các ngă đường. Nhưng hôm nay, người ta kiêng cữ đến độ không dám ra
khỏi nhà. Bốn bề yên lặng. Tôi có cảm tưởng như mỗi năm người dân
hải đảo vốn thích ca hát ồn ào này dành ngày thứ sáu tuần thánh để
tập sống thinh lặng. Sống và làm việc tại Phi luật tân một thời gian,
tôi nhận thấy đây là “bài học” cần thiết hơn bất cứ môn học nào.
Bài học vỡ ḷng mà
người Việt nam nào cũng phải học là “học ăn, học nói...” Tôi thấy
chẳng có cha mẹ nào dạy con phải học “im lặng” cả. Măi cho đến khi
lên Trung Học, bắt đầu tập làm văn “nghị luận”, học sinh mới được
dạy để b́nh câu “lời nói là bạc,thinh lặng là vàng”. Đây là
dịp để làm quen với bao lời dạy của các bậc thánh hiền Đông Tây về
sự thinh lặng. Nh́n chung, ở đâu và thời nào con người cũng đề cao
và trân quư sự thinh lặng. Ở Á đông, những người có tham vọng ra
“làm quan” thường t́m một nơi hẻo lánh để ở ẩn chờ thời. Bên trời
Tây, các bậc thức giả hay nhà khoa học cũng giam ḿnh trong thinh
lặng để nghiền ngẫm và nghiên cứu. Gặp lúc buộc phải lên tiếng nói
nhưng lại im lặng, th́ im lặng có thể là một thái độ ích kỷ, hèn
nhát hay thiếu trách nhiệm. Nhưng im lặng, nhứt là khi bị bịt miệng,
có khi lại là tiếng nói mạnh mẽ, hùng hồn hơn cả.
Mới đây, cuốn phim
“câm” và trắng đen có tựa đề “The Artist” (người nghệ sĩ) đă
gây chấn động tại thủ đô điện ảnh Hollywood. Sự kiện cuốn phim “câm”
này đạt được nhiều giải thưởng tại liên hoan phim Cannes, Pháp, 7
giải BAFTA tại Anh Quốc và giựt được đến 20 giải Oscar tại Hoa kỳ
hôm 26 tháng 2 vừa qua, cho thấy giá trị và ư nghĩa của cuốn phim.
Sau khi nhận giải Oscar, đạo diễn của phim “The Artist” là ông
Michel Hazanavicius đă so sánh tiếng nói với sự thinh lặng như sau:
“Tiếng nói hữu dụng, nhưng chỉ hữu dụng thôi. Tuy nhiên, nó cũng
làm giảm giá trị của truyền thông. Khi một đứa trẻ không biết nói,
cười với bạn, làm bạn xúc động, khác với cái cười của người lớn.
Ngay cả với những người bạn yêu, không phải lúc nào bạn cũng dùng
lời nói để biểu lộ những việc quan trọng. Tôi nghĩ khi bạn không cần
phải nói, đó mới thực sự là sức mạnh” (x. Đinh Từ Thức, The
Artist, Oscars và Cộng sản, Việt luận 23/3/2012).
Cuốn phim “câm” và
trắng đen này không thể không gợi lại cho những người say mê điện
ảnh những cuốn phim “câm” của Charlie Chaplin (1889-1977) vào thời
kỳ phôi thai của nghệ thuật thứ bảy. Diễn viên kiêm đạo diễn người
Anh mà lúc nhỏ chúng ta quen gọi là “Charlot” này đă mang lại cho
chúng ta không chỉ những trận cười “nghiêng ngả”, mà c̣n khơi gợi
những suy tư nhức nhối về thân phận con người, khiến chúng ta không
chỉ cười mà c̣n muốn khóc là khác. Không cần một lời nói, thiên tài
điện ảnh này đă khiến chúng ta cười ra nước mắt theo đúng nghĩa. Ông
đă thể hiện đúng chức năng của “phim ảnh”: nói mà không cần phải
dùng lời nói! Bởi lẽ, như đạo diễn Hazanavicius đă nói, lời nói “cũng
làm giảm giá trị của truyền thông”.
Ở thời đại thông
tin toàn cầu này, cứ tưởng “nghe-nh́n” (audio-video) là hoạt động
chính, nhưng dường như con người lại nói nhiều hơn nghe nh́n. Theo
tôi, một trong những h́nh ảnh tiêu biểu nhứt của thời đại thông tin
toàn cầu này chính là chiếc điện thoại di động. Hăy thử gia nhập vào
một đoàn người đang chen chúc nhau trên những đường phố nhộn nhịp
nhứt của những thành phố lớn. H́nh ảnh dễ thấy nhứt vẫn là cảnh
người người vừa đi vừa áp điện thoại di động vào tai để nói. Vừa đi
vừa khoa tay múa chân vừa cười cười nói nói, họ chen chúc trong đám
đông mà y như chỗ không người. Không ǵ buồn cười bằng khi nghe có
tiếng người đang nói sau lưng ḿnh. Quay lại thấy họ đang nói chuyện
với ai đó, nhưng thoạt nh́n cứ tưởng như họ đang nói “xàm” một ḿnh.
Truyền thông mà cứ như “độc thoại”. Ở thời đại mà những phương tiện
truyền thông ngày càng tối tân tưởng có sức “nối mạng” làm cho con
người ở xa gần gũi với nhau hơn, trong thực tế lại càng làm cho con
người đang sát gần nhau trở nên xa lạ hơn. Nếu có “liên kết” với
nhau th́ cái mạng lưới ấy có khi cũng chỉ là một thế giới ảo. Trong
thế giới ấy, càng muốn “nói”, càng muốn “giải bày” th́ con người lại
càng cô đơn hơn.
Bớt nói để biết
lắng nghe hơn: đó là nguyên tắc thực tiễn mà ông Dale Carnegie đă đề
ra trong cuốn sách “Đắc nhân tâm” (How to win friends and influence
people). Trong chương tư (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), Dale
Carnegie kể lại rằng một hôm ông được mời dự tiệc. Trong câu chuyện
trao đổi sau bữa tiệc, một người phụ nữ muốn ông kể về những danh
lam thắng cảnh ở Âu Châu. Biết người đàn bà này vừa mới thực hiện
một chuyến du lịch ở Phi Châu, ông Carnegie chỉ nói vài câu rồi gợi
ư cho bà kể lại chuyến đi. Ông ghi lại rằng người đàn bà liền thao
thao bất tuyệt trong 45 phút đồng hồ mà chẳng c̣n ngó ngàng ǵ đến
những thắng cảnh ở Âu châu nữa. Ông thấy rằng người đàn bà này “chỉ
muốn gặp được người chăm chú nghe để bà có cái vui được dịp nói về
ḿnh và những kỷ niệm của ḿnh”. Theo ông, có vô số người như người
phụ nữ này. “Tất cả chúng ta đều muốn diễn thuyết khi có
người chăm chú nghe ta”.
Trong một bữa cơm
tối khác, Carnegie cũng lân la đến gần một nhà thực vật học nổi
tiếng. Ông gợi ư cho nhà khoa học này nói về những kiến thức khoa
học của ḿnh. Thế là bài lecture (giảng huấn) của nhà khoa
học kéo dài cho đến nửa đêm. Carnegie đành xin phép ra về. Sau đó,
có người cho hay rằng khi ông “vừa ra khỏi pḥng, nhà thông thái đó
quay lại nói với ông chủ nhà rằng Carnegie là một người “ăn nói có
duyên”. Kỳ thực, trong suốt buổi nói chuyện, ông chỉ là người gợi
chuyện cho nhà thông thái “bày tỏ” kiến thức của ḿnh.
Tác giả kể lại rất
nhiều giai thoại như thế và kết luận rằng “người nói chuyện với
ta quan tâm tới những thị dục, những vấn đề của họ trăm phần th́ chỉ
quan tâm đến ta, đến nỗi thắc mắc của ta một phần thôi. Bệnh nhức
răng dày ṿ người đó hơn là cảnh đói kém làm chết cả triệu dân Trung
quốc. Một cái nhọt tai ở cổ người đó làm cho người đó lo lắng hơn
bốn chục nạn động đất ở Châu Phi. Lần sau, có nói chuyện với ai, xin
bạn nhớ tới điều đó”.
Thinh lặng là để
lắng nghe và lắng nghe trước tiên là lắng nghe người khác. Có khi
thinh lặng chỉ là mồ chôn của sự cô đơn. Người ta thinh lặng là chỉ
để “bế quan tỏa cảng” với người khác hay để gậm nhấm những buồn
phiền, nỗi đau hay cơn giận của ḿnh. Một cánh cửa đóng sầm lại: đó
là h́nh ảnh chúng ta thường thấy về sự thinh lặng này. Dù có được
thực thi với một kỷ luật sắt hay trong một bầu khí trang nghiêm đến
đâu, một sự thinh lặng như thế chỉ gia tăng sự cô đơn của con người
mà thôi. Trong một số tu viện Kitô giáo, thinh lặng luôn được xem là
quy luật nghiêm nhặt nhứt. Có những tu viện, mỗi năm các tu sĩ chỉ
được nói chuyện một ngày. Có người lại bi thảm hóa đời sống tu tŕ
đến độ tưởng tượng ra rằng mỗi năm các tu sĩ chỉ được phép nói một
câu. Thành ra mới có chuyện kể rằng trong một tu viện nọ, phải ăn
cái món “súp” mặn chát, mà các tu sĩ phải “cắn răng” chịu đựng. Năm
đầu, khi được nói một câu, một vị tu sĩ h́nh như chỉ chờ có bấy
nhiêu để “dành” cái câu nói “quư báu” cho người phụ trách nhà bếp:
“Súp mặn quá”. Vậy mà đâu vẫn vào đó. Người phụ trách nhà bếp, có
lẽ v́ muốn cho các anh em của ḿnh tiến tới trong “đàng nhân đức”
chăng, vẫn cứ mạnh tay cho muối vào súp. Chờ đúng một năm sau, nhân
đức có gia tăng cho anh em tu sĩ không th́ không rơ nhưng nhà bếp
lại cũng nhận cái “đặc ân” năm ngoái: “Súp vẫn mặn”.
Chuyện nghe như
đùa. Nhưng trong cái thế giới nhỏ bé của một tu viện, có khi người
ta thinh lặng không phải để ra khỏi chính ḿnh và lắng nghe tiếng
nói của người khác hay tu tập thêm một thứ nhân đức siêu phàm nào,
mà chỉ để gậm nhấm nỗi đau khổ và cô đơn của ḿnh.
Thinh lặng là để
lắng nghe người khác. Nhưng để có thể lắng nghe người khác, con
người cũng cần phải biết lắng nghe chính ḿnh. Người ta có thể bịt
tai để không nghe người khác hay những ồn ào náo nhiệt của thế giới
bên ngoài, nhưng không ai có thể chạy trốn khỏi tiếng nói lương tâm
của ḿnh. Ở đó, trong thẩm cung của cơi ḷng, ta nghe được phán
quyết về những hành vi của ḿnh cũng như mệnh lệnh “hăy làm điều
thiện và tránh điều ác”. Đây là tiếng nói mà tôi vẫn nghe được khi
dạo bước trong vườn vào buổi sáng sớm hay lúc chiều tà. Đó là những
giây phút tôi trân quư nhứt, bởi v́ trong khung cảnh thanh vắng và
khi mọi sự đă lắng đọng, tôi thấy ḿnh mới có thể trở về với chính
ḿnh và lắng nghe được tiếng nói sâu thẳm từ nội tâm.
Lắng nghe người
khác, lắng nghe tiếng nói sâu thẳm của lương tâm, là người tín hữu
Kitô, tôi cũng luôn được mời gọi để lắng nghe tiếng nói của Chúa. Mẹ
Teresa Calcutta (1910- 1997) người nữ tu gốc Albani suốt một đời tận
tụy phục vụ những người thấp bé và khốn khổ nhứt trong xă hội, đă
nói: “Chính trong thinh lặng của cơi ḷng mà Thiên Chúa nói. Nếu
bạn t́m kiếm Ngài trong cầu nguyện và thinh lặng, Ngài sẽ nói với
bạn. Lúc đó, bạn sẽ biết rằng bạn là hư không. Và chỉ khi nào bạn ư
thức được sự hư không, trống rỗng của bạn, Thiên Chúa mới có thể lấp
đầy bạn bằng chính Ngài. Những tâm hồn cầu nguyện là những tâm hồn
biết thinh lặng” (trích trong Mother Teresa, In the Heart of the
World: thoughts, Stories and Prayers). Mẹ cũng khuyên: “Chúng ta cần
phải t́m kiếm Chúa và Ngài không thể t́m gặp trong nơi ồn ào, náo
nhiệt. Chúa là bạn của thinh lặng. Hăy nh́n thiên nhiên: cỏ cây,
bông hoa đều lớn lên trong thinh lặng. Hăy nh́n trăng sao và mặt
trời: chúng di chuyển trong thinh lặng...”
Thật vậy, ngay cả
sự kiện Chúa Phục sinh cũng xảy ra trong thinh lặng.Thinh lặng giúp
con người trở nên chín chắn và trưởng thành trong suy nghĩ để từ đó
sẵn sàng và nhứt là dám lên tiếng.
Chu Thập