Khe
Sanh:
Biểu tượng ǵ của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam?
______________________________________________________________________________________________
Lê Quế Lâm
Concord
là biểu tượng của khát vọng con người về dân chủ tự do. V́ những giá trị đó
mà con người với vũ khi thô sơ dám đứng lên đối đầu với bạo lực hùng mạnh.
Nhờ đó mới có một Hiệp Chủng Quốc HK với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, làm
cơ sở để nhân loại tạo dựng một xă hội thực sự văn minh tiến bộ theo trào
lưu tiến hóa của lịch sử.
Phần mở đầu Tuyên ngôn
Độc lập Hoa Kỳ đă ghi rơ: “Chúng tôi coi những chân lư sau đây là hiển nhiên:
mọi người đều được dựng lên b́nh đẳng. Tạo hóa đă phú cho họ một số quyền
không thể chuyển nhượng được, trong đó có quyền sống, quyền được hưởng tự do
và quyền được mưu t́m hạnh phúc. Chính để bảo vệ những quyền đó mà chính phủ
được thiết lập giữa con người với nhau. Chính phủ nắm quyền hợp lư của họ do
sự ưng thuận của nhân dân. V́ thế bất cứ h́nh thức cai trị nào có xu hướng
phá hủy mục đích trên th́ nhân dân có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ h́nh thức
cai trị đó và thành lập một chính phủ mới, đặt nó trên nhũng nguyên tắc và
tổ chức quyền hành của nó theo những h́nh thức mà nhân dân xét thấy có thể
bảo đảm được an ninh và hạnh phúc cho ḿnh”. (1)
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đă mượn những ư tưởng trên để mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.
Gettysburg là biểu
tượng của t́nh dân dân tộc nghĩa đồng bào như quan niệm của người Việt Nam:
“Người chung một nước phải thương nhau cùng”. Những người Mỹ dũng cảm yêu
chuộng tự do đă “đồng lao cộng khổ” mới tạo được một quốc gia độc lập trên
một lănh thổ rộng lớn dồi dào tài nguyên nhưng thiếu nhân lực để khai phá.
Do đó nảy sinh mâu thuẫn đưa đến hiềm khích rồi anh em một nhà bất đắc dĩ
phải đánh nhau. Nhưng khi hết đánh nhau cũng là lúc hết hận thù, tất cả đoàn
kết trở lại để bảo vệ di sản của tiền nhân, phát triển nó thêm để truyền lại
cho các thế hệ mai sau. Sau nội chiến, là thời kỳ phát triển không ngừng của
HK, từng bước đưa đất nước này trở thành một siêu cường quốc đứng đầu thế
giới.
Nhắc đến Gettysburg,
phải chăng tân tổng thống Mỹ Barack Obama muốn chuyển thông điệp đầu tiên
của ông đến giới lănh đạo và nhân dân các nước Việt Nam, Triều Tiên, Iraq,
Afghanistan, Palestine… về bài học lịch sử đau thương của Hoa Kỳ?
Normandy: Âu Châu là
nguyên quán của những người đă lập ra nước Mỹ. Nơi đây vào những năm trước
Thế chiến II, ba thế lực độc tài là Quốc Xă Đức, Phát Xít Ư và Cộng sản Liên
Xô đă liên kết với nhau nhằm thống trị toàn thể các nước Âu Châu.
Đến giữa tháng 4/1940
toàn bộ phần đất Tây Âu, chỉ trừ Anh Quốc đă lọt vào tay Hitler. Ngày
8/9/1940 TT Mỹ Franklin D. Roosevelt tuyên bố đặt quốc gia trong t́nh trạng
khẩn trương, luật trưng binh được ban hành, mọi công dân từ 18 đến 35 tuổi
đều bị cưỡng bách thi hành quân dịch. Giữa tháng 6/1941, Đức xé bỏ hiệp ước
bất tương xâm, khai chiến với LX. HK liền viện trợ vũ khí giúp Stalin chiến
đấu chống Đức. Trong ba năm sau đó, Hồng quân LX gánh chịu những tổn thất
hết sức nặng nề. Đầu năm 1944, họ đă đẩy lui Đức ra khỏi lănh thổ và bắt đầu
phản công tiến vào Đông Âu. Trên con đường tiến quân về Bá Linh, mối quan
tâm hàng đầu của Stalin là giúp các đảng CS trong khu vực Balkan chiếm chính
quyền, thành lập các nước Cộng ḥa ở Đông Âu. Thảm họa Đức Quốc Xă sắp tàn
th́ một thảm họa mới đe dọa Âu Châu lại xuất hiện. Do đó HK tức tốc đổ bộ
vào Tây Âu để cứu các nước này khỏi lọt vào tay LX. Khi chiến tranh chấm dứt,
Âu Châu, Đức và thủ đô Bá Linh đều bị chia đôi, một bên thuộc ảnh hưởng Anh
Pháp Mỹ, một bên thuộc ảnh hưởng Liên Xô.
Liên Xô và Hoa Kỳ đều là
đồng minh trong hai trận thế chiến. Trong giai đoạn hậu chiến sau 1945, thế
giới kỳ vọng họ sẽ bằng ḷng với những phần đất ảnh hưởng được họ thoả thuận
chia nhau trong giai đoạn hợp tác chống Đức Ư Nhật. Cả hai đều là thành viên
thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, họ sẽ thiết lập một trật tự thế
giới an ninh và b́nh đẳng cùng tồn tại và phát triển…Nhưng sự thù nghịch lại
xảy ra với chiến tranh lạnh -cả hai vẫn giữ mối liên hệ với nhau, sống chung
ḥa b́nh, song chiến tranh nóng lại diễn ra ở VN.
Concord, Gettysburg và
Normandy đều có biểu tượng riêng của nó trong lịch sử Hoa Kỳ. Vậy th́ Khe
Sanh nói lên biểu tượng ǵ của HK trong chiến tranh VN khiến tân TT Hoa Kỳ
Barack Obama liệt kê nó với ba địa danh lịch sử lừng danh trong diễn văn
nhậm chức của ông?
Khe Sanh: một căn cứ
quân sự của HK trong chiến tranh VN. Khe Sanh nằm ở phía Nam khu Phi Quân Sự
(vĩ tuyến 17) khoảng 23 cây số, cách biên giới Lào Việt khoảng 10 cây số.
Trước tháng 3/1967, Khe Sanh do một đại đội Thủy Quân Lục Chiến HK trấn đóng
được sự yểm trợ của một Đại đội Địa Phương Quân VNCH đồn trú cách căn cứ
khoảng hai cây số. Vào thời điểm này, chiến tranh VN sắp đi vào một bước
ngoặc mới. Đầu tháng 2/1967 khi đến thăm Anh Quốc, thủ tướng LX Kosygin lên
tiếng yêu cầu HK chấm dứt không điều kiện việc oanh tạc miền Bắc để khởi đầu
các cuộc thương lượng ḥa b́nh. Do đó ngày 8/2/1967, TT Johnson chính thức
gởi đến Chủ tịch Hồ chí Minh lời đề nghị: Hoa Kỳ sẽ ngưng ném bom Bắc Việt
và ngưng tăng cường quân lực Mỹ ở miền Nam Việt Nam, nếu Bắc Việt cũng đ́nh
chỉ gởi người và vũ khí vào MN. Sau đó Mỹ và Bắc Việt sẽ tiến hành những
cuộc mật đàm để giải quyết vấn đề miền Nam VN. Trong thư trả lời, Chủ tịch
HCM cho biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa “không thể thương lượng dưới sự
đe dọa của bom đạn Mỹ. Hoa Kỳ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện
việc ném bom và mọi hành động chống lại nước VNDCCH, khi đó hai bên mới có
thể đàm phán và thảo luận những vấn đề mà hai bên quan tâm”. (2)

Khe Sanh
Để nắm ưu thế về quân
sự trước khi bước vào đàm phán (một điều chắc chắn sẽ xảy ra) Hà Nội phải
tăng cường xâm nhập nhiều hơn nữa người và vũ khí vào miền Nam. Căn cứ Khe
Sanh nằm sát biên giới Lào Việt, cạnh Quốc lộ 9, đă án ngữ con đường xâm
nhập của quân Bắc Việt từ đường ṃn Hồ Chí Minh đặt trên lănh thổ Lào vào
chiến trường Trị Thiên Huế. Do đó từ cuối tháng 4/1967, Bắc Việt tập trung
quân số đông đảo vào vùng này nhằm bứng nhổ căn cứ Khe Sanh. Hoa Kỳ phải
tăng cường những đơn vị TQLC tinh nhuệ, thiết lập một hệ thống cứ điểm chiến
lược kiên cố với quân số lên đến 6 ngàn. Từ căn cứ Khe Sanh, HK tin rằng họ
có thể kiểm soát và mở những đợt pháo kích và tấn công phá vỡ các mạng lưới
tiếp vận vũ khí và các hành lang xâm nhập quân BV trên đường ṃn HCM. Các
cuộc đụng độ đă gây tử thương cho 155 binh sĩ HK, nhưng quân BV bị thiệt hại
nặng hơn với 940 cán binh tử thương. Từ giữa tháng 5/1967 Cộng quân tạm
ngưng các hoạt động, áp lực quân sự giảm dần. HK rút bớt lực lượng khỏi Khe
Sanh.
Trung tuần tháng
6/1967, Kosygin đến Mỹ tham dự Đại hội đồng LHQ. Trong cuộc họp kín với TT
Johnson ngày 23/6, ông cho biết vừa nhận một điện văn của TT Phạm Văn Đồng
gởi từ Hànội với nội dung: Hoa Kỳ chấm dứt ném bom, họ sẽ đến bàn hội nghị
ngay. Từ đó có nhiều nổ lực quốc tế giúp Hoa Kỳ và Hànội đến bàn hội nghị,
đáng kể nhất là trung gian của Pháp từ tháng 6/1967. Ông Raymond Aubrac (một
người CS từng quen biết HCM hồi năm 1946) và Hervert Marcovich -cả hai là
khoa học gia Pháp, nhiều lần đi Hànội gặp HCM và TT Phạm Văn Đồng để giúp BV
và HK trao đổi những đề nghị. Phía Hànội do đại sứ Mai Văn Bộ phụ trách, c̣n
phía Mỹ là Henry Kissinger. Hànội đ̣i HK ngưng ném bom MB vô điều kiện. HK
đồng ư nhưng với điều kiện Hànội phải ngồi vào bàn hội nghị để giải quyết
vấn đề miền Nam. Hànội đ̣i HK phải rút khỏi MN và thừa nhận MTGPMN. Cuối
cùng BV nhấn mạnh: “chỉ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom
và bất cứ các hoạt động gây hấn nào khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa th́
họ mới có thể nói chuyện”.
Ngày 6/10/1967, Wallner
-đại diện HK ở Paris, nhờ Marcovich trao cho đại diện Hànội ở Paris một dự
thảo thông điệp xác nhận: Mỹ chấm dứt mọi h́nh thức đánh phá nước VNDCCH mà
không nói đến điều kiện, Hànội có thể nhanh chóng tiến hành thảo luận với
HK. Wallner nói thêm nếu đại diện Hànội đồng ư, Kissinger sẽ sang Paris trao
tận tay cho BV thông điệp với nội dung trên. Hànội không trả lời. (3) Trong
hồi kư, cựu Bộ trưởng Quốc pḥng McNamara tiết lộ trong buổi họp nội các
ngày 18/10/1967, TT Johnson đă chỉ thị cho Kissinger thông báo cho Bắc VN về
sự tiếp tục sẳn sàng đàm phán của Hoa Kỳ. (4)
Trong giai đoạn chuyển
tiếp, từ tháng 11/1967 đến tháng Giêng 1968, Lực lượng Vũ trang Giải Phóng
Miền Nam (Việt Cộng) chuẩn bị thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng
CSVN (tháng 12/1967): “Chuyển cuộc chiến tranh Cách mạng miền Nam sang một
thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. (5) Đó là cuộc Tổng công
kích + Tổng khởi nghĩa toàn miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968 mà giới lănh
đạo CSVN kỳ vọng sẽ đánh bại VNCH giành toàn bộ chính quyền; nếu không,
những thắng lợi quân sự sẽ làm cơ sở giành ưu thế về chính trị trên bàn đàm
phán.
Sau này, Thượng tướng
Trần Văn Trà –nguyên Tư lịnh Quân Giải Phóng MN nhận xét: “Đi vào tổ chức
thực hiện một quyết định lớn như vậy mà Bộ Chính trị chỉ dành cho các cấp ở
chiến trường có ba tháng, thật là quá ngắn ngũi”. Ông cho biết mục
tiêu đề ra là “Tiêu diệt và làm ră tuyệt đại bộ phận quân đội Sàig̣n, đánh
đổ chính quyền các cấp và giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân” và
“tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ”
th́ thật là vượt quá nhiều khả năng thực tế ta có. Thứ nhất ta không đủ sức
-lực lượng ta chỉ bằng 1/5 của Mỹ và quân đội Sàig̣n về bộ binh. C̣n không
quân, hải quân và cơ giới th́ chúng có ưu thế tuyệt đối”… Ông chua chát kết
luận: “Như vậy đề ra chủ trương TCK-TKN để giành toàn bộ chánh quyền về tay
nhân dân” mà cán bộ và chiến sĩ ta diễn đạt gọn và đơn giản lúc đó là “dứt
điểm” th́ thật là hoàn toàn không thực tế, không thể thực hiện nổi, vượt quá
sức của ta và coi thường khả năng và phản ứng của Mỹ”. (6)
Tại Khe Sanh từ đầu
tháng 12/1967, tin t́nh báo cũng như không thám và các máy điện tử khám phá
BV đă bố trí nhiều trận địa pháo và hỏa tiễn ở những đồi núi bao quanh căn
cứ, trong khi nhiều sư đoàn chủ lực BV và các đơn vị pháo đang dồn về mục
tiêu này. HK phải đưa một Trung đoàn TQLC trở lại Khe Sanh. Đêm 20/1/1968
Cộng quân bắt đầu khai hỏa với hàng ngàn hỏa tiễn, tiếp theo là các trận mưa
pháo vào căn cứ. Kho chứa đạn khổng lồ trong căn cứ với 1500 tấn đă phát nổ.
Phi đạo Khe Sanh dài 1,2 cây số bị cày nát phân nửa. Tướng Westmoreland khẩn
cấp gởi 1500 quân tăng cường lực lượng pḥng thủ, trong đó có TĐ 37 Biệt
Động Quân VNCH. Quân Mỹ + Việt đổ bộ xuống Khe Sanh dưới làn mưa đạn.
Lúc bấy giờ cứ điểm này
đang bị bao vây bởi khoảng 19 ngàn quân thuộc ba sư đoàn 304, 324, 325c Bắc
Việt và có khả năng bị tràn ngập với chiến thuật biển người bất cứ lúc nào.
Cục diện này tương tự trận Điện biên Phủ hồi đầu tháng 5/1954, khiến nhiều
người lo ngại Khe Sanh có thể là chiến trường sẽ kết thúc chiến tranh VN.
Tin tức chiến sự ở Khe Sanh là tin nóng bỏng nhất thế giới hồi đầu năm 1968,
hầu như khắp nơi đều nh́n về VN theo dơi các biến cố đang xảy ra ở đây.
Nhưng t́nh h́nh lại diễn ra theo hướng khác với cuộc tổng tấn công Tết Mậu
Thân (30/1/1968): Cộng quân đồng loạt mở cuộc tấn công vào Sàig̣n và hầu hết
các tỉnh lỵ ở miền Nam. Nhưng ở Khe Sanh t́nh h́nh lại yên tỉnh. Sự lắng dịu
chỉ kéo dài 6 ngày. Sau đó trận chiến trở nên ác liệt, lần đầu tiên có cả
chiến xa PT-76 do LX chế tạo được đưa vào trận địa. Có đêm cộng quân pháo
kích 1300 quả đạn đủ loại liên tục 8 giờ vào Khe Sanh làm nổ tung một kho
đạn trong căn cứ.
Cuộc chiến Khe Sanh
đầu năm 1968 kết thúc cùng lúc với đợt 1/Tổng công kích Tết Mậu Thân. T́nh
h́nh Khe Sanh lắng dịu trở lại từ cuối tháng 3/1968. Sau 77 ngày đêm chiến
đấu, tổng kết số thương vong của hai bên được ghi nhận như sau: HK có 199 tử
thương, 1600 bị thương. VNCH có 34 tử thương, 184 bị thương. Riêng CSBV số
tử thương ước tính từ 10 ngàn đến 13 ngàn.
Sau này, các sách vỡ về
chiến tranh VN có những nhận xét khác nhau về cuộc chiến Khe Sanh. Một lập
luận cho rằng tướng Vơ Nguyên Giáp muốn dụ HK dồn quân vào Khe Sanh để rảnh
tay tấn công các vùng khác. Một lập nữa lại cho rằng tướng Giáp bao vây Khe
Sanh với lư do muốn tạo một Điện Biên Phủ thứ hai buộc HK phải đầu hàng, rút
lui khỏi miền Nam VN. C̣n tài liệu chiến sử HK lại cho rằng tướng
Westmoreland đă “tương kế tựu kế”. Ông mong Cộng quân tập trung nhiều binh
đoàn gần Khe Sanh để ông dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt. (7)
Riêng cá nhân tôi,
nghiên cứu về cuộc chiến của đất nước ḿnh, tôi có nhận định khác, khi nh́n
lại những biến cố tiếp diễn sau đó. Ngày 30/3/1968 TT Johnson ra lệnh xuống
thang chiến tranh, hạn chế ném bom miền Bắc, nhằm tạo điều kiện cho việc
thương thuyết sớm khai diễn. Ba ngày sau chính phủ VNDCCH ra tuyên bố sẳn
sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ. Cuộc đàm phán Mỹ và BV bắt đầu từ
13/5/1968 tại Paris giữa đại biểu Hà Nội, ông Xuân Thủy và đại diện HK, ông
Harriman.
Đàm phán với CS Bắc Việt
để giải quyết cuộc chiến ở Nam VN là chủ trương của HK. Một tháng sau khi ra
lệnh cho hai Tiểu đoàn TQLC đổ bộ vào Đà Nẳng, tại Đại Học John Hopkins ngày
7/4/1965, TT Johnson mời gọi BV ngồi vào bàn hội nghị để giải quyết chiến
tranh bằng đường lối ḥa b́nh. Hà Nội luôn khước từ, trong ba năm sau đó, HK
phải xử dụng hai gọng kềm: dội bom miền Bắc và đưa quân vào miền Nam VN để
làm áp lực. Năm 1968 cuộc đàm phán đă khai diễn, chủ đích của HK đă đạt
được. Từ đó, tôi cho rằng Khe Sanh đóng một vai tṛ quan trọng trong việc
kết thúc chiến tranh VN. Năm 1967, Hà Nội đ̣i HK phải rút khỏi NamVN và thừa
nhận Mặt trận Giải phóng. HK sẳn sàng đáp ứng đ̣i hỏi này, nếu MTGPMN chứng
tỏ họ mạnh hơn VNCH và được nhân dân miền Nam ủng hộ. Cuộc Tổng công kích -
Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân sẽ trắc nghiệm điều đó.
Từ trước đến nay, có
nhiều nguồn tin nói rằng Mỹ và Hànội đă thỏa thuận “án binh bất động” để Lực
lượng vũ trang GPMN dốc toàn lực vào cuộc Tổng công kích -Tổng khởi nghĩa
khắp các thị trấn, đô thị miền Nam. Họ lập luận nếu quả thật MTGPMN có ưu
thế, được sự ủng hộ của dân chúng như họ thường rêu rao “kiểm soát 3/4 dân
số và 4/5 đất đai” th́ HK sẳn sàng rút quân để MTGP quản lư công việc MN
theo cương lĩnh của họ. Nếu không thắng, MTGP sẽ cùng chính quyền Sàig̣n đàm
phán, giải quyết chiến tranh bằng con đường ḥa b́nh. Chiến trường Khe Sanh
diễn ra ác liệt 10 ngày trước khi CS mở ra cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân.
Lúc đó, ai cũng thấy CSBV và HK đều dồn nổ lực vào Khe Sanh và đều có ư
nghĩ nơi đây sẽ giải quyết cuộc chiến VN. Nhưng đó chỉ là kế “dương Đông
kính Tây”. Quân Mỹ và Cộng sản Bắc Việt đều tập trung vào Khe Sanh, họ để
Quân Giải phóng MN đọ sức với QLVNCH trong dịp Tết, thời điểm mà người lính
Cộng Ḥa lơ là trong pḥng thủ v́ đă có lịnh hưu chiến để ăn Tết cổ truyền.
Như vậy, có thể nói chiến sự Khe Sanh để đánh lạc hướng trong âm mưu trắc
nghiệm sức mạnh của Mặt trận Giải phóng Miền Nam nhằm đưa CS ngồi vào bàn
hội nghị.
Hai mươi năm sau, vào
năm 1988, Trần Bạch Đằng -cựu bí thư Thành ủy Sàig̣n- Gia định, người đă chỉ
huy cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ở chiến trường trọng điểm Sàig̣n đă dành
cho kư giả Úc Clayton Jones một cuộc phỏng vấn về biến cố này. Ông nói:
“Chúng tôi bị dồn vào thế phải tổng công kích, dù chúng tôi đă cố gắng t́m
kiếm nhiều giải pháp chính trị khác. Tôi đă thông báo điều này với chính Đại
sứ Bunker vào năm 1967 khi chiến tranh sẽ là một điều tất yếu”. Đằng cho
biết từ năm 1966 đến 1969, Việt Cộng đă tiếp xúc nhiều lần với Mỹ để trao
đổi tù binh. Chính Bunker đă can thiệp để trả tự do cho vợ của Đằng là bà
Nguyễn Thị Chơn, sau này là phụ tá đắc lực của bà Nguyễn Thị B́nh tại bàn
đàm phán Paris. (8)
Ngoài ra, vợ ông Trần
bửu Kiếm là bà Dược sĩ Phạm thị Yên cũng được Mỹ phóng thích năm 1967 “để
thực hiện một âm mưu chính trị mới”. Ông TBK là trưởng phái đoàn đầu tiên
của MTGPMN tại ḥa đàm Paris. Bà Yên là trưởng ban trí vận thành phố Sàig̣n
bị bắt khoảng năm 1961, bị giam ở Côn Đảo. Năm 1967, Mỹ đưa bà về Sàig̣n,
vào bệnh viện tư của bác sĩ Nguyễn Duy Tài, cho gia đ́nh đến thăm nom. Vài
tuần sau Mỹ chở bà lên biên giới Tây Ninh, đưa ít tiền ria và bảo: Bà đi
thẳng th́ lên Pnôm Pênh, có sứ quán của Việt Cộng ở đó. Bà rẽ tay mặt, th́
vào chiến khu Việt Cộng. Tùy bà lựa chọn. Bà quyết định lên Pnôm Pênh. Năm
1968 bà trở về miền Nam và qua đời sau cơn sốt ác tính năm 1971.(9)
Tiết lộ của Trần
Bạch Đằng về việc ông tiếp xúc với Đại sứ HK Bunker trước khi xảy ra biến cố
Tết Mậu Thân đă giải tỏa một bí ẩn lớn mà từ trước nay những ngựi nghiên
cứu chiến tranh VN luôn thắc mắc. Họ tin rằng đă có một thỏa thuận ngầm nào
đó giữa HK và CSVN về biến cố này…Nhưng chưa có tài liệu chứng minh, phải
dành cho nó hai chữ “tồn nghi”.
Trong cuộc tấn công Tết
Mậu Thân, một sử gia HK đă nhận xét “Việt Cộng đă chịu một thất bại quân sự
nặng nề. Hàng chục ngàn cán binh cuồng tín nhất, có kinh nghiệm nhất từ vùng
rừng núi nhẩy vào vùng đồng bằng và thôn quê gánh chịu những trận mưa bom
chết người. Việt Cộng mất cả một thế hệ chiến binh và nhân dân thành phố
cũng không chịu nổi dậy theo chúng”. (10) Nhờ đó, Hànội mới chấp nhận đàm
phán theo đề nghị của HK. Dù thắng hay bại, CS luôn tự hào đă đến bàn hội
nghị với Mỹ không phải dưới áp lực của bom đạn mà đă mở ra trận tổng tấn
công khắp nơi kể cả Sài G̣n và Ṭa Đại sứ Mỹ.
Trong đàm phán HK đưa ra
đề nghị: HK và CSBV đồng rút quân khỏi miền Nam. Công việc miền Nam sẽ do
nhân dân ở đây tự quyết định. Trong 4 năm thương thảo, Hà Nội đ̣i Mỹ phải
rút quân khỏi miền Nam, c̣n họ nêu ra nhiều lư lẽ để né tránh, không chịu
rút quân về Bắc để kéo dài chiến tranh. Đến 1972, năm cuối cùng của nhiệm kỳ
mà TT Nixon hứa với nhân dân Mỹ sẽ giải quyết xong chiến tranh VN, khó có
thể thực hiện được. HK phải t́m sự hợp tác với LX và TC để kết thúc chiến
tranh. HK dành cho LX nhiều ưu đăi, hưởng qui chế tối huệ quốc, bán lúa ḿ
với giá rẻ…Đối với Bắc Kinh, HK không dùng quyền phủ quyết giúp Cộng ḥa
Nhân dân Trung Hoa trở thành hội viên LHQ và là thành viên thường trực Hội
đồng Bảo An có quyền hạn ngang hàng với LX và HK. Mối quan hệ giữa HK và hai
nước CS đàn anh dựa trên cơ sở hai bên đều có lợi, cùng hợp tác bảo vệ ḥa
b́nh thế giới.
Được sự đồng thuận của
LX và TC, Hiệp định Paris 1973 do Mỹ chủ động ra đời, chấm dứt chiến tranh
dựa trên cơ sở không có sự can thiệp từ bên ngoài. Hội đồng Quốc gia Ḥa hợp
và Ḥa giải dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau sẽ đứng ra tổ chức cuộc
tuyển cử dân chủ tự do để người dân miền Nam VN thực hiện quyền tự quyết của
ḿnh. Kết quả cuộc bầu cử, nếu được tổ chức theo tinh thần HĐ Paris 1973 có
lẽ cũng tương tự như cuộc tuyển cử ở Cam Bốt khi nước này thi hành Paris
1991. Nghĩa là không có một lực lượng chính trị nào giành được ưu thế. Quốc
hội do nhân dân miền Nam bầu ra sẽ phải thành lập một chính phủ liên hiệp và
theo thể chế trung lập. V́ đó là xu thế phát triển của khu vực lúc bấy giờ.
Từ khi thành lập hồi năm 1967, năm nước ASEAN đều có khuynh hướng thân Mỹ…
Nhưng khi thấy Mỹ quyết tâm chấm dứt chiến tranh và rút lui khỏi MNVN, họ
vội chuyển hướng chiến lược. Tháng 11/1967, năm nước ASEAN ra tuyên bố:
“Cùng nhau hành động để biến vùng này thành một khu vực ḥa b́nh, tự do và
trung lập”.
Tóm lại mục tiêu của HK
khi can dự vào cuộc chiến VN là giúp nhân dân miền Nam VN được hưởng các
quyền tự do dân chủ, được tự quyết định vận mạng chính trị của ḿnh chớ
không phải bị áp đặt bởi bạo lực bên ngoài. Muốn vậy, phải đưa CS vào bàn
đàm phán. Để thuyết phục Hà Nội, TT Johnson leo thang chiến tranh từng bước,
một chiến thuật có trù liệu những thời gian tạm ngưng ném bom, tạo cơ hội
cho Bắc Việt chấp nhận thương thuyết. Thái độ mềm dẻo đó khiến Hà Nội vững
tin là HK không có quyết tâm đánh bại họ. Bắc Việt chỉ có thắng cùng lắm là
ḥa, nên cứng rắn không lùi trước áp lực của Mỹ. Họ nghĩ rằng sở dĩ HK ngưng
oanh tạc chỉ v́ dư luận chống đối của thế giới. Họ coi đề nghị đàm phán của
Mỹ là dấu hiệu chứng tỏ sự yếu đuối của HK nên tiếp tục đưa quân vào miền
Nam chiến đấu. Họ tin tưởng cuối cùng HK mệt mơi và rút lui, họ sẽ chiến
thắng.
Khi bước vào đàm phán,
HK đưa ra đề nghị lực lượng ngoại nhập (HK và CSBV) cùng rút khỏi miền Nam,
nhân dân ở đây sẽ tự quyết định tương lai chính trị của họ. Đốihai nước CS
đàn anh, HK cho rằng sự tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc đă tạo ra
nhiều ḷ lửa chiến tranh, điển h́nh là VN. V́ thế HK quyết tâm rút lui khỏi
VN, kêu gọi LX và TC cũng tự chế như vậy. Nixon đă mở ra giai đoạn ḥa hoăn
họp tác với LX, dành cho họ rất nhiều ưu đăi. Nixon bắt tay với Mao Trạch
Đông, thừa nhận vai tṛ lớn của TC như là lănh tụ Thế giới thứ ba, tạo thế
ba chân vạc v́ nền ḥa b́nh thế giới.
Sau khi dàn xếp xong
với hai nước CS đàn anh, Nixon chấm dứt chiến tranh VN bằng một hiệp định
ḥa b́nh dựa “trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân
Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”. Trong đó ghi rơ
“nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam
Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc
tế” (điều 9) và “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá
nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do
hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm
ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh”. (Điều 11)
Những sự kiện trên đă
phản ảnh những điều mà TT Obama đề cập trong diễn văn nhậm chức, khi ông ta
nhắc lại sự đối đầu với chủ nghĩa CS, các thế hệ trước biết xử dụng sức mạnh
một cách thận trọng, chớ không phải tùy thích; mục tiêu có chính nghĩa; sức
mạnh của những việc mà HK đă làm (công bằng, hợp lư, hai bên đều có lợi…)
cùng sự khiêm tốn và tự chế.
Sau khi HĐ Paris 1973
ra đời, để chuẩn bị giành thắng lợi về chính trị, Trần Bạch Đằng cùng số cán
bộ Trí vận và Địch vận MTGPMN ra sức vận động và tranh thủ các tôn giáo, các
sĩ quan VNCH, các nhân sĩ có khuynh hướng yêu chuộng ḥa b́nh và ḥa giải
dân tộc…tham gia Lực lượng thứ ba. Trong khi TT Nguyễn Văn Thiệu luôn kiên
định với lập trường “bốn không”: không thừa nhận cộng sản, không trung lập
hóa miền Nam VN, không lập chính phủ liên hiệp, không nhường đất cho cộng
sản. Sau hơn hai năm không thuyết phục được TT Thiệu thay đổi lập trường, HK
bỏ cuộc. Ngày 23/4/1975 trong diễn văn đọc tại Đại học Tulane, TT Ford tuyên
bố: “Vai tṛ của Mỹ tại Việt Nam kể như đă chấm dứt và nước Mỹ sẽ không trở
lại một cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ đă coi là xong rồi”.
Hà Nội liền bắn tiếng
chỉ chấp nhận nói chuyện với ông Dương Văn Minh –lănh tụ Lực lượng thứ ba,
để giải quyết vấn đề miền Nam VN. Sau khi nhậm chức, ông Minh liền cử người
đến tiếp xúc với CS. Họ nói rằng giai đoạn thương thuyết đă qua, giờ đây ông
Minh phải đầu hàng vô điều kiện. Ngay sau đó, cả ba thành phần chính trị ở
miến Nam bao gồm những người quốc gia đă chiến đấu bảo vệ lư tưởng dân chủ
tự do, những người cộng sản hoặc không CS thuộc MTGPMN tham gia phong trào
“chống Mỹ cứu nước”, những người thuộc thành phần thứ ba yêu chuộng ḥa b́nh
chủ trương ḥa giải dân tộc, lần lượt bị CSBV loại bỏ.
Thực trạng Việt Nam sau khi Hoa Kỳ chấm dứt can dự
Chủ nghĩa Cộng sản đă
toàn thắng ở VN. Tháng 12/1976, CSVN triệu tập Đại hội Đảng lần thứ IV.
Trong Báo cáo Chính trị, Tổng Bí thư Lê Duẫn vạch ra chủ trương của đảng
trong giai đoạn mới là: “tiếp tục kề vai sát cánh với các nước Xă hội chủ
nghĩa anh em chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ”. Ông Duẫn c̣n
kêu gọi “xây dựng và phát triển Mặt trận nhân dân thế giới chống chủ nghĩa
đế quốc, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào tên đế quốc đầu sỏ là Mỹ”. (11)
Tháng 11/1978, Tổng Bí
thư Lê Duẫn đi LX cùng Breznhev kư Hiệp ước hữu nghị hợp tác Xô Việt
(3/11/1978). Ông Duẫn cho rằng “sự hợp tác toàn diện với Liên Xô theo hiệp
ước hữu nghị và hợp tác Việt-Xô là ḥn đá tảng của đường lối quốc tế và
chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước”. (12) Ba tháng sau, vào cuối năm
1978, CSVN đưa quân sang Cam Bốt lấy cớ giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế
độ diệt chủng Pol Pot để xóa bỏ nhà nước Campuchia Dân chủ, lập ra nước Cộng
ḥa Nhân dân Campuchia do số cán bộ Khmer thân Hà Nội lănh đạo.
Từ Bắc Kinh hệ thống
truyền thông không ngớt lên án “tiểu bá” VN liên kết với “đại bá” LX thực
hiện mưu đồ bá quyền ở Đông Nam Á. Vào thời điểm này TC thiết lập bang giao
với Mỹ (1/1/1979). Ngay sau đó, Đặng Tiểu B́nh đến thăm Mỹ, ông hô hào
“Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cần phải thống nhất trong một liên
minh chống bá quyền”. Đặng tuyên bố “Bắc Kinh sẽ dạy cho Việt Nam một bài
học”. Trên đường về nước, khi ghé Đông Kinh, Đặng nói với cựu thủ tướng Nhật
Kakuei Tanaka là sẽ “trừng phạt Việt Nam nặng nề” (13)
Dù điều 6 của Hiệp ước
hợp tác Xô Việt qui định rơ “trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công
th́ hai bên đă kư hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ư kiến và áp dụng những biện
pháp thích đáng có hiệu lực để bảo đảm ḥa b́nh và an ninh của hai
nước”…Song TC bất kể phản ứng của LX, họ huy động 60 vạn quân mở cuộc tấn
công qui mô vào VN trên tuyến biên giới dài hơn 1000 cây số.
Chưa đầy 5 năm sau khi
HK rút lui khỏi VN, chiến tranh lại tái phát. Lần này, các nước CS đánh nhau
báo hiệu bước thoái trào của chủ nghĩa cộng sản. Thế giới tấn công Mạc Tư
Khoa v́ họ xâm lăng Afghanistan và yểm trợ CSVN đưa quân vào Cam Bốt. Sau 10
năm sa lầy v́ hai cuộc chiến này, cuối cùng Hà Nội và Mạc Tư Khoa đều phải
rút quân về nước. Một vài năm sau LX sụp đổ, khối CS Đông Âu tan ră. Chiến
tranh lạnh hay cuộc đối đầu của HK chống chủ nghĩa CS chấm dứt.
Khi LX sụp đổ, hệ thống
XHCN cáo chung, giới lănh đạo CSVN vội đến Thành Đô xin nối lại bang giao
với TC. Chủ trương của Hà Nội là đoàn kết hai nước “hợp tác bảo vệ chủ nghĩa
xă hội, chống đế quốc Mỹ”. Để làm vừa ḷng TC, tướng Lê Đức Anh c̣n đề ra
“giải pháp Đỏ” nhằm thúc đẩy hai lực lượng CS Khmer (Pol Pot và Hun Sen) hợp
tác với nhau để củng cố xă hội chủ nghĩa. Trong quyển “Hồi ức và suy nghĩ”
(2003) cựu thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, người đă đại diện Hà Nội
trực tiếp đàm phán với Bắc Kinh tại Thành Đô tiết lộ: “Chiến lược của Trung
Quốc là đặt ưu tiên cao nhất vào việc tranh thủ Mỹ, phương Tây, ASEAN để
phục vụ mục tiêu ‘bốn hiện đại hóa”. Nên họ nói rơ họ coi quan hệ với Việt
Nam sau này chỉ nằm trong phạm vi quan hệ giữa hai nước láng giềng… Quan hệ
Việt Nam – Trung Quốc không thể làm cho Mỹ và ASEAN lo ngại”.
C̣n “giải pháp đỏ”, họ
cũng chỉ trả lời là phải giải quyết xong vấn đề Campuchia, họ mới tính đến
việc này. Thực chất phương án của TQ là nhằm xóa đi chính quyền và quân đội
của Hun Sen để giao thực quyền cho cựu hoàng Sihanouk”.
Ông Cơ kết luận: “Cuộc
hội đàm Thành Đô tháng 9/1990 hoàn toàn không phải là một thành tựu, hiện
tại (2003) đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. V́ quá nôn nóng
cải thiện với TQ, đoàn ta đă hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng
thoả thuận như thế sẽ được ḷng Bắc Kinh…Việc b́nh thường hóa quan hệ với
TQ, làm cho uy tín quốc tế của ta bị hoen ố”. Ông Cơ nói thêm “TQ một mặt
bác bỏ những đề nghị của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó
chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta”.
Đúng như nhận xét của
ông Cơ “Chiến lược của TQ là đặt ưu tiên cao nhất vào việc tranh thủ Mỹ…” Đó
là con đường mà Đặng Tiểu B́nh đă thực hiện từ 1979 khi TQ b́nh thường hóa
bang giao với Mỹ và Nhật. Kế hoạch hiện đại hóa XHCN của Đặng thành công, TC
càng ve văn Mỹ, Nhật và khối ASEAN để TQ sớm hội nhập với thế giới qua hai
tổ chức APEC và WTO. Và họ đă đạt được mục tiêu này hồi năm 1998 và 2000.
Từ khi Nixon gặp Mao
hồi tháng 2/1972, TC đă hợp tác với HK kết thúc cuộc chiến ở VN, mối quan hệ
ngày càng phát triển, hai bên đă chính thức thiết lập bang giao vào đầu năm
1979. Trong khi LX và CSVN tiếp tục chống Mỹ. Khi LX sụp đổ những người lănh
đạo CSVN quay về với TC, kỳ vọng sẽ tiếp con đường chống đế quốc Mỹ. Một
tính toán sai lầm! TQ giờ đây đâu c̣n chống ĐQ Mỹ như hồi thập niên 1950-60.
Giang Trạch Dân vạch ra phương châm cho mối quan hệ mới Việt-Trung là “láng
giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng về tương lai. Số
phận đất nước cũng giống như số phận đoạn trường của Thúy Kiều của Nguyễn Du
“Chém cha cái số ba đào,
Cổi ra rồi lại cột vào như chơi”.
Thúy
Kiều vừa thoát khỏi lầu xanh, số phận đẩy đưa, lại trở lại lầu xanh, chịu
cảnh “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. C̣n CSVN đă thoát khỏi kẻ thù
của ḿnh (cũng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc), lại bổng dưng tự nguyện
“đưa cổ vào tṛng” trở lại. V́ hợp tác toàn diện với TQ, hai cố vấn tối cao
Đỗ Mười và Lê Đức Anh chỉ thị TT Phan Văn Khải khước từ thiện chí của TT
Clinton giúp Hà Nội gia nhập WTO hồi cuối năm 1999. V́ láng giềng hữu nghị,
trong hiệp ước biên giới và lănh hải, CSVN đă mất nhiều đất và biển so với
các hiệp ước biên giới mà Pháp nhân danh VN đă kư với triều đ́nh nhà Thanh
hồi năm 1886. Cũng v́ t́nh hữu nghị mà năm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh và TT
Phạm Văn Đồng đă sốt sắng công nhận tuyên cáo lănh hải 12 hải lư của Bắc
Kinh, trong đó xác nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền TQ
T́nh hữu nghị với TQ do ông HCM vun bồi đă đổ vỡ từ sau 1975 khi Tổng bí thư
Lê Duẫn lên án Bắc Kinh là bọn phản động, tiếp tay với đế quốc Mỹ. Từ
đó BK trở thành kẻ thù của Đảng CSVN. T́nh hữu nghị Việt-Trung đă không c̣n
th́ công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng gởi TT Chu Ân Lai cũng không c̣n
giá trị. Nhưng nay lại kẹt v́ đảng CSVN đă quay về với TQ với chủ trương hợp
tác toàn diện, hữu nghị lâu dài… th́ làm sao có thể giành lại được Hoàng Sa
và Trường Sa!
Trong cảnh đoạn trường,
tấn thối lưỡng nan… nhiều người cộng sản phân vân giữa hai lựa chọn: “Theo
Trung Cộng th́ mất đất” c̣n “Theo Mỹ th́ mất đảng”. Để ra ngoài
vấn đề “mất đất hay mất đảng” câu hỏi đặt ra là:
- Tại sao phải theo TC?
Không có một thế lực nào bắt buộc ta phải theo TC cả?
- Tại sao phải theo Mỹ?
Cũng không có ai buộc ḿnh phải theo Mỹ cả?
Cả hai sự lựa chọn
trên nếu có, đều không thực tế. V́ sao? Do thế địa lư chính trị, VN nói
riêng và Đông Dương nói chung là nơi duy nhất trên thế giới có chiến tranh
liên tục trong gần nửa thế kỷ (1946-1990). Cuộc chiến này tác hại nặng nề
đến mối bang giao giữa các cường quốc. V́ thế đây cũng là nơi duy nhất,
trong ṿng bốn thập niên đă có tới bốn hội nghị quốc tế được triệu tập với
sự tham dự của tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ. Đó là:
Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, HN Genève 1962 về Lào, HN Paris 1973 về
VN và HN Paris 1991 về Cam Bốt.
Trong hội nghị Genève
1954, các cường quốc thừa nhận Lào và Cam Bốt là hai nước trung lập. C̣n VN
tạm thời chia đôi. Cuộc tổng tuyển cử thống nhất VN dự trù diễn ra năm 1956
bất thành. Hai đồng chủ tịch hội nghị Genève 1954 là Liên Xô và Anh Quốc đều
nh́n nhận rằng: “tổng tuyển cử thực ra không quan trọng bằng việc duy tŕ
ḥa b́nh”. Để rảnh tay đối phó với vấn đề nội bộ LX chủ trương sống chung
ḥa b́nh với Mỹ. Họ c̣n đề nghị thu nhận hai nước VN vào LHQ như là hai quốc
gia riêng biệt. Việc thừa nhận nguyên trạng chính trị ở VN với hai chính phủ
cùng tồn tại ḥa b́nh đă được TC đề cập ngay sau khi hội nghị Genève bế mạc.
TT Chu Ân Lai đă đề nghị với đại sứ Ngô Đ́nh Luyện, bào đệ thủ tướng nam VN
về đặt sứ quán hai nước ở Bắc Kinh và Sàig̣n. (14)
Năm 1960, CSVN triệu tập
Đảng lần thứ III, phát động chiến tranh giải phóng MN. Hà Nội liền khuynh
đảo chính quyền trung lập của Lào, đưa quân vào Hạ Lào thiết lập đường ṃn
HCM chuyển vận người và vũ khí vào Nam VN. Nội chiến Lào bùng nổ, Hội nghị
Genève 1962 được triệu tập, các cường quốc tái xác nhận Lào trung lập. Hơn
một thập niên sau, HĐ Paris 1973 ra đời, các cường quốc tham gia một hội
nghị quốc tế về VN, đồng kư một bản Định ước trước sự chứng kiến của ông
TTK/LHQ, tuyên bố tán thành và ủng hộ HĐ Paris. Việc hiệp định qui định một
hội đồng (thực sự là một chính phủ) ḥa giải và ḥa hợp dân tộc gồm ba thành
phần ngang nhau đứng ra tổ chức cuộc bầu cử, đă hàm ư chính phủ tương lai
thành h́nh tại miền Nam sau chiến tranh sẽ là liên hiệp trung lập, không có
sự can thiệp từ bên ngoài.
Ông Dương Văn Minh lên
cầm quyền với thiện ư sẽ thực hiện kế hoạch trên, nhưng CS buộc ông đầu
hàng. Sau đó chiến tranh VN tái phát ở biên giới Tây Nam, Hà Nội liền đưa
quân sang Nam Vang lật đổ Pol Pot. Cuối cùng một hội nghị quốc tế lại được
triệu tập để chấm dứt cuộc chiến Cam Bốt. HĐ Paris 1991 ra đời rập khuôn
hiệp định Paris 1973 về VN. Chỉ có điểm khác, ở VN có Hội đồng Quốc gia Ḥa
giải gồm ba thành phần c̣n ở Cam bốt có bốn thành phần, v́ phe CS có hai
nhóm: Khmer Đỏ của Pol Pot (thân TC) và Khmer Đỏ Hun Sen (thân CSVN). Một
cuộc tuyển cử dưới sự giám sát của LHQ đă được tiến hành vào năm 1993. Từ đó
Cam Bốt trở thành một quốc gia đa đảng.
Tóm lại, do thế địa lư-chính trị, VN chỉ có một con
đường duy nhất, một sự lựa chọn duy nhất là đứng ngoài ảnh hưởng của các
cường quốc. Đi sai con đường tất yếu đó, hơp tác toàn diện với LX nên chiến
tranh tiếp diễn sau 1975. Hợp tác toàn diện với TC th́ mất một phần đất ở
thác Bản Giốc ở Ải Nam Quan… c̣n Hoàng Sa và Trường Sa th́ khó ḷng thu hồi
lại được, trong khi đất nước ngày càng tụt hậu. Tất cả chỉ v́ ư tưởng “chống
Mỹ”. Nay TT Obama nhắc lại chiến tranh VN chỉ vơn vẹn hai chữ Khe Sanh. Vậy
Khe Sanh mang ư nghĩa ǵ trong chiến tranh VN?
Có phải Khe Sanh đă góp phần chuyển cuộc chiến VN
đă kéo dài quá lâu từ “đánh” sang “đàm”. Rồi từ “đàm” sang kết thúc. Sau đó
“Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự
hoặc khối quân sự…” (Điều 15d/HĐ Paris 1973) Đó chính là mục tiêu của HK ở
Việt Nam mà TT Johnson đă tuyên bố tại Đại học John Hopkins ngày 7/4/1965:
“Nơi đây [VN] không phải là căn cứ quân sự cho nước nào và cũng không liên
minh với nước nào”. Trong điều kiện độc lập đó, một dân tộc vốn có truyền
thống tự chủ tự cường sẽ phát huy sức mạnh bằng sự họp tác toàn dân để mang
lại phồn vinh cho đất nước, không c̣n hợp tác liên minh với ngoại bang đem
thảm họa lại cho dân tộc.
Nhắc Khe Sanh cũng chưa
đủ, TT Obama c̣n nhắc Gettysburg, cho thấy nhân dân Mỹ cũng có truyền thống
cao đẹp như dân tộc Việt Nam “Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Nhờ đó mà sau nội chiến, họ không c̣n thù hận, góp phần hàn gắn vết thương
chiến tranh nhanh chóng, đất nước trở nên phú cường. Đây có thể là thông
điệp mang nhiều ư nghĩa mà TT Obama muốn gởi đến Việt Nam vừa giúp HK xóa đi
“hội chứng Việt Nam” đă ám ảnh họ từ bấy lâu nay.
Chú thích:
1-
Peter Wells, The American War of Independence, Holder &
Stroughton, London, 1967, PP 124/125.
2-
Lyndon B. Johnson, The Vantage Point: Perspectives of the
Presidency, Redwood Press Ltd, London, 1972, PP 592/95
3-
Nguyễn Đức Thiện, Diễn tiến và hậu quả HĐ Paris 1973 về Việt Nam,
Tự Lực, Hoa Kỳ, 205, Tr. 162-179.
4-
Robert S. McNamara, In Retropect – The Tragedy and Lessons of
Vietnam, Times Books, Random House, New York, 1995, P. 302
5-
Học Viện Quan hệ Quốc tế, Thắng lợi có tính thời đại và cuộc đấu
tranh trên mặt trận đối ngoại của nhân dân ta, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1985, Tr. 88
6-
Chung một bóng cờ, (Về Mặt trận Giải phóng MNVN) Nxb Chính trị
Quốc Gia, Hà Nội, 1993, Tr.305.
7-
Phạm Cường Lễ, Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968.
8-
John Clayton, Twenty Years Ago: The Tet Offensive – Viet says: We
are forced into Tet, The Christian Science Monitor, Vol 80, Feb 1-7,
1988.
9-
Chung một bóng cờ, Sđd, Tr. 947-49.
10-
Don Oberdorpher, Tet, Doubledy & Co, New York, 1971, PP329/30.
11-
Lê Duẫn, T́nh h́nh thế giới và chính sách đối ngoại của nhân dân
ta, Nxb Sự thật Hà Nội, 1980, Tr. 112.
12-
Lê Duẫn, Đoàn Kết và hơp tác toàn diện với Liên Xô, là nguyên tắc,
là chiến lược và t́nh cảm của chúng ta, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1982, Tr
117.
13-
Grant Evans & Kelvin Rowley, Red Brotherhood At War: Indochina
Since The Fall of Saigon, Pluto Press, Australia, 1984, P.129
14-
Sự thật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Văn kiện của
Bộ Ngoại giao nước Cộng ḥa XHCN Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979,
Tr.38.
|