Khi Úc chuẩn bị chiến tranh

________________________________________________________________________________________________ 

Trần Hải

 

  Úc đang chuẩn bị tư thế cho một cuộc chiến một cách toàn diện. Không chỉ lo mua sắm vũ khí, máy bay và tàu ngầm mới, Úc c̣n chuẩn bị trên cả khía cạnh tinh thần.

Để bước vào cuộc chiến mới th́ phải giải quyết những vướng mắc của cuộc chiến cũ, và từ năm ngoái chính phủ Úc đă bắt tay gỡ rối những di sản của hai cuộc chiến mà Úc đă tham gia: Cuộc chiến Boer và Cuộc chiến Thái B́nh Dương.

 

Cuộc chiến Boer: bản án của Trung úy Morrant

 Dân Boer đa số là dân Hà Lan sang khai hoang, dân Châu Âu ưa mạo hiểm đến t́m vàng. Cuộc chiến Boer xảy ra giữa Đế Quốc Anh và hai quốc gia độc lập tại nam Phi châu do người Boer dựng lên: Orange Free State và Cộng Ḥa Transvaal (Nam Phi ngày nay).

Cuộc chiến Boer kéo dài từ năm 1899 – 1902 tại Nam Phi, kết thúc với chiến thắng của Đế quốc Anh và, tại đây, Úc đă tham chiến như một thuộc địa của Anh.

Cuộc chiến này bao gồm hai thời kỳ, lần thứ nhất từ 1880 đến 1881 và chiến thắng thuộc về người Boer. Đây là một cuộc xung đột ngắn giữa những người định cư Boer chống lại âm mưu của Đế quốc Anh thôn tính Transvaal, và họ đă thắng lớn với quân số áp đảo.

Giai đoạn thứ hai kéo dài từ 1899 đến 1902 và phần thắng ngả về Anh. Trong cuộc chiến thứ hai này, Anh đă suưt thất bại nếu không có một nhà chiến thuật sáng suốt như Đại tá Robert Baden-Powell, là sáng lập viên của tổ chức hướng đạo, nổi bật trong việc pḥng thủ Mafeking.

Thị trấn Mafeking (bây giờ là Mafikeng) vừa gần biên giới và vừa trên đường xe lửa giữa Bulawayo và Kimberley, Nam Phi. Nơi này đă bị quân Boer bao vây 217 ngày, từ tháng 10.1899 đến tháng 5. 1900, đă đưa tên tuổi Robert Baden-Powell thành một anh hùng quốc gia. Nhờ phá vỡ cuộc bao vây Mafeking, Anh đă xoay chuyển t́nh h́nh dẫn đến chiến thắng vào năm 1902.

Khi cuộc chiến thứ hai bùng nổ năm 1899 th́ người Boer có quân số vượt trội và chính phủ Anh đă không gởi quân theo yêu cầu. Thay vào đó đă cử Đại tá Robert Baden-Powell cùng một nhóm sĩ quan đến Cape Colony để chiêu mộ hai trung đoàn lính đánh thuê từ Rhodesia (bây giờ là Zimbabwe). Đội quân này được huấn luyện qua loa nên trước ưu thế vượt trội về quân số của Boer, Baden-Powell quyết định cầm chân quân Boer qua chiến thuật pḥng thủ.

Đối phó với quân số trên 8,000 người của quân Boer, Baden-Powell chỉ có 2,000 quân kể cả trẻ em. Lực lượng này gồm một trung đoàn Bảo hộ khoảng 500 người, đơn vị súng trường Bechuanaland và Cảnh sát Cape 300 người, cộng thêm 300 “nhân dân tự vệ” của thị trấn. Bên cạnh đó là một đội thiếu sinh quân gồm nam từ 12 đến 15 tuổi hoạt động như những người đưa tin tức và giao liên.

Hoàn toàn bị thua sút về quân số, quân trú pḥng chịu đựng cuộc bao vây trong 217 ngày và được lực lượng tiếp ứng giải vây ngày 17. 5. 1900 khi lực lượng Anh dưới quyền chỉ huy của Đại tá B T Mahon thuộc quân đoàn của Frederick Roberts đến giải vây.

Baden-Powell được ca tụng như một người nổi tiếng tại Anh, điều đó đă giúp ông khởi sự phong trào Hướng đạo vài năm sau đó.

Hiện tại Úc muốn giải quyết vướng mắc của cuộc chiến này qua việc minh oan cho Trung úy Harry Breaker Morant. Morant là một sĩ quan trong quân đội Úc, đă được đưa sang Nam Phi tham dự cuộc chiến Boer và tại đây bị Toà án quân sự Anh kết án là tội phạm chiến tranh, và sau đó đă bị hành quyết vào năm 1901.

Cuối tháng 10 năm 2011, sau 110 năm, chính phủ Úc đă lên tiếng yêu cầu chính phủ Anh chính thức xét lại hồ sơ Harry "Breaker" Morant. Theo lập luận này th́ năm 1901 trung úy Morant chỉ đơn giản tuân lệnh thượng cấp khi ra lệnh bắn chết 12 tù nhân.

Lúc đó nguyên Tổng trưởng tư pháp Robert McClelland đă viết cho chính phủ Anh, đề nghị họ mở lại hồ sơ vụ án v́ cho rằng những bằng chứng mới cho thấy sĩ quan Úc đă bị đối xử bất công.

Bằng chứng mới này được luật sư Jim Unkles khám phá tại Kho lưu trữ Hải quân (Navy Reserve) tại London vào năm ngoái, và đây là lá thư tŕnh bày ư kiến của Đại tá quân pháp James St Clair, là một trong những sĩ quan quân pháp cao cấp nhất của Anh tại Nam Phi khi diễn ra vụ án Morant. Nhiệm vụ của ông St Clair là duyệt xét những bằng chứng chống lại trung úy Morant.

Trong thư tay của ḿnh, Đại tá St Clair đă nhấn mạnh đến chỉ thị “không bắt tù binh” mà cấp trên là Đại úy Alfred Taylor đă chỉ thị cho Morant. Tayler là sĩ quan t́nh báo của Tư lệnh lực lượng Anh, Lord Kitchener. Trong lá thư viết ngày 22.11.1901 Đại tá St Clari lưu ư rằng lệnh miệng lập đi lập lại của Đại tá Taylor đă đẩy trung úy Morant vào thế phải giết sạch tù nhân.

Không chỉ viết thư cho Bộ quốc pḥng Anh, ông Robert McClelland đă nêu vấn đề trên với nữ hoàng Anh, khi bà dự buổi dạ tiệc chiêu đăi tại Quốc hội Úc vào tối 21.10.2011. 

Cuộc chiến Thái B́nh Dương: Lễ dội bom Darwin

 Năm nay sẽ là lễ kỷ niệm 70 năm ngày Nhật oanh tạc Darwin (19.2.1942). Đây là lần đầu tiên nước Úc bị một quốc gia khác tấn công và là một sự kiện quan trọng trên chiến trường Thái B́nh Dương trong Đệ nhị thế chiến và được gọi là "Trân Châu Cảng của Úc".

Chỉ trong hai trận oanh tạc đầu tiên trong ngày này, Nhật đă hạ sát ít nhất 243 người và làm 400 người bị thương. Sau đó, trong ṿng 18 tháng tiếp theo, Nhật đă mở tổng cộng 64 cuộc oanh kích vào Bắc Úc, phá hủy nhiều cơ sở vật chất dân sự và quân đội cùng nhiều tàu chiến và phi cơ.

Dù Darwin chỉ là mục tiêu không đáng kể nhưng số bom được thả xuống Darwin nhiều hơn số bom được sử dụng trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Tương tự như Trân Châu Cảng, thành phố Úc nầy cũng chưa sẵn sàng và bị tấn công bất ngờ. Mặc dù thành phố này bị Nhật không kích thêm 63 lần nữa trong năm 1942 và 1943, cuộc không kích vào ngày 19 tháng 2 gây nhiều thiệt hại nhất.

Thoạt đầu, trong Đệ nhị thế chiến, quân Úc được đặt dưới Bộ chỉ huy Anh nên chỉ c̣n rất ít quân đóng tại Úc và khu vực châu Á - Thái B́nh Dương, đa số điều về Âu châu. Năm 1941, khi Nhật bắt đầu hăm dọa khu vực, Úc bắt đầu tăng cường lực lượng nhưng không đầy đủ. Tính đến tháng 12 năm 1941, Úc chỉ có 8 sư đoàn tại Malaysia và 8 sư đoàn không trang bị đầy đủ tại Úc kể cả Sư đoàn 1 Thiết giáp. Không quân chỉ có 373 máy bay, phần lớn là loại hết thời chỉ dùng để huấn luyện phi công. Hải quân Úc có 3 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm hoạt động trong hải phận Úc.

Từ thập niên 1920, chính phủ Úc theo Chủ thuyết Singapore, lập căn cứ pḥng vệ tại Singapore dưới yểm trợ của hải quân Anh đề ngăn chặn quân Nhật. Do đó hải quân Úc tập trung khá mạnh tại khu vực Mă Lai trong các năm 1940 - 1941. Khi cuộc chiến bùng nổ, quân Úc ở Mă Lai gồm Sư đoàn 8 (trừ Lữ đoàn 23) dưới chỉ huy của tướng Gordon Bennett, bốn phi đoàn không quân và 8 chiến thuyền.

Sau vụ oanh tạc Darwin, một mặt Úc kéo quân từ các chiến trường Âu-Phi về nước một mặt tổng động viên. Tuy nhiên nhiều đơn vị không quân Úc vẫn tiếp tục ở lại Âu châu,

 Đồng thời Quân đội Mỹ cũng kéo sang trú đóng tại Úc trước khi qua New Guinea. Cuối năm 1942, quân Đồng Minh mở cuộc phản công đánh Nhật và đến năm 1943 bắt đầu chiếm thế thượng phong. Từ năm 1944, quân Úc thường giữ vai tṛ phụ, nhưng vẫn tiếp tục mở các chiến dịch đánh lớn cho đến cuối cuộc chiến.

Trong cuộc đấu tranh chống Nhật. Khi chiến trường Thái B́nh Dương nổ ra, phần lớn lực lượng Úc được kéo về từ chiến trường Âu-Phi. Đệ nhị Thế chiến thứ hai gây ra nhiều thay đổi về kinh tế, quân sự và chính sách ngoại giao của Úc. Kỹ nghệ Úc phát triển mạnh mẽ, chính phủ Úc tăng cường củng cố lực lượng quân sự trong thời b́nh và chính sách liên hiệp quân sự của Úc dần ngả theo Mỹ hơn là Anh.

So với dân số ít ỏi lúc bấy giờ, quân đội Úc chịu khá nhiều tổn thất trong Thế chiến thứ hai với 27.073 người chết và 23.477 bị thương.

Để chuẩn bị cho đợt kỷ niệm này, từ tháng 11 năm ngoái chính quyền liên bang đă đề nghị Tổng toàn quyền Úc công nhận ngày 19.2 là ngày lễ quốc gia. Như thế, cùng với các ngày lễ Anzac Day và Remembrance Day, lễ Bombing of Darwin Day sẽ họp thành bộ ba ngày lễ nói lên lịch sử chiến tranh của Úc. Cùng với đề nghị này, năm ngoái chính phủ liên bang đă chi ra 330,000 Úc kim để chuẩn bị cho lễ tưởng niệm này.

 

Nh́n về Thái B́nh Dương

 Nh́n lại cuộc chiến Boer, Úc muốn giải quyết vấn đề Trung úy Morant để giải quyết dứt khoát vướng mắc c̣n lại của thời mà Quân đội Úc chỉ chiến đấu như một đội quân “phiên thuộc” của Đế quốc Anh, phải chấp nhận sự định đoạt của toà án quân sự Anh.

Nh́n lại Đệ nhị Thế chiến, Úc muốn vinh danh ngày Bombing of Darwin Day, như là ngày Úc chuyển hướng, không c̣n xem Anh là chỗ dựa, không xem Âu châu là mặt trận chính và chuyển về Thái B́nh Dương.

Bây giờ, liệu việc Úc mở cửa để Mỹ đưa Thủy quân lục chiến sang đồn trú tại Darwin có mở ra hệ lụy nào hay không? Ngay sau chuyến viếng thăm của Tổng thống Obama tới Úc và việc kư kết thỏa thuận quốc pḥng giữa hai bên, nhiều người cho rằng Darwin sẽ là một “Okinawa thứ hai” của Mỹ tại Úc, do đó cần nh́n vào mối quan hệ Nhật – Mỹ.

Trong khi chính phủ Julia Gillard cho rằng việc thắt chặt quan hệ quốc pḥng với Mỹ là biện pháp tối ưu để đảm bảo an ninh cho Úc th́ nhiều người Úc vẫn băn khoăn về “lợi ích tối ưu” của Úc trong quan hệ này. Lâu nay Úc đă là đồng minh cuả Mỹ nhưng từ đây mối quan hệ này sẽ c̣n thắt chặt hơn, thắt chặt đến mức đáng ngại, như trường hợp của Nhật.

Chính sách của Mỹ là ḱm hăm để Nhật luôn lệ thuộc vào Mỹ về mặt quốc pḥng và do đó đă luôn t́m cách ḱm hăm, không muốn Nhật phát triển kỹ nghệ hàng không, đặc biệt là các dự án nghiên cứu và phát triển các chiến đấu cơ.

Với sức mạnh kỹ thuật của ḿnh, trải qua bao nhiêu năm Nhật vẫn không thể tự sản xuất được chiến đấu cơ, điều mà họ đă làm được từ Đệ nhị thế chiến và hiện tại vẫn phải đi mua. Nhưng nếu mua chiến đấu cơ, Nhật không có lựa chọn nào khác ngoài việc mua máy bay của Mỹ, cho dù Nhật rất ưng ư với máy bay chiến đấu Âu châu, thí dụ loại Eurofighter Typhoon.

Hiện tại, để mua các chiến đấu cơ, tàu chiến, trực thăng, Úc có thể chọn lựa những sản phẩm tốt nhất từ các hăng sản xuất Âu châu như Tây Ban Nha, Anh, Pháp. Nhưng trong tương lai, khi Darwin thực sự trở thành Okinawa rồi, liệu Úc c̣n quyền “tự do” này hay sẽ lâm vào t́nh thế của Nhật?

Có thể thấy điểm lấn cấn trong quan hệ đồng minh này qua việc giữ chặt "siêu" chiến đấu cơ F-22 Raptor, với cả Nhật lẫn Úc.

Bộ quốc pḥng Mỹ khẳng định rằng đây là chiến đấu cơ tốt nhất của nhân loại, trị giá 120 triệu Mỹ kim. do hăng Lockheed và Boeing hợp tác chế tạo. Lockheed Martin chịu trách nhiệm chính về khung, các hệ thống vũ khí, và lắp ráp; c̣n Boeing cung cấp cánh, khung đuôi và các hệ thống điện tử tích hợp.

Dự án F-22 được vạch ra từ năm 1981 với mục tiêu sản xuất loại chiến đấu cơ mới, thay thế chiến đấu cơ F-15 Eagle nhằm đối chọi lại loại Su-27 của Liên Xô lúc đó. Thử nghiệm thành công năm 1997, F-22 có khả năng tàng h́nh với hệ thống radar, vừa có đủ khả năng chiến đấu rất đa dạng. Nó vừa có thể dùng cho các cuộc không chiến vừa có thể sử dụng để oach kích các mục tiêu trên bộ. Nó cũng có thể sử dụng trong chiến tranh điện tử, sử dụng thu thập hoặc phát tín hiệu t́nh báo.

Nhật đă nhiều lần đề nghị được mua loại chiến đấu cơ này trong chương tŕnh cải tổ Không lực tuy nhiên vẫn tiếp tục bị từ chối. Trong khi giữ thế độc quyền cung cấp các chiến đấu cơ cho Nhật, Mỹ vẫn tiếp tục từ chối bán F-22 trước yêu cầu của Nhật.

Trên thực tế th́ việc bán chiến đấu cơ này bị khoá chặt với tu chính án năm 1998 của Hạ nghị sĩ Dave Obey của đảng Dân Chủ vào năm 1998, theo đó các sản phẩm hoàn tất từ ngân sách mà Hạ viện Mỹ chuẩn chi cho dự án F-22 sẽ được chuyển nhượng cho nước ngoài.

Dẫu rằng sau đó, vào năm 2006, đích thân ông Obey tuyên bố rằng mọi sự có thể thay đổi tuy nhiên sự việc không đơn giản là tu chính án 1998 mà là chủ trương của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc pḥng Mỹ. Đơn giản là Mỹ không muốn thứ vũ khí siêu tối tân của ḿnh lọt vào tay nước ngoài, kể cả đồng minh và chỉ viện trợ những vũ khí đă lỗi thời, như chỉ mang trực thăng Seasprite, xe tăng M-60, phóng pháo cơ AC-130, trực thăng vũ trang Cobra v.v... sang sử dụng tại chiến trường Việt Nam nhưng không viện trợ cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Úc th́ sao? Đầu năm 2008 Tổng trưởng quốc pḥng Úc đă viết thư cho hạ nghị sĩ Obey đề nghị ông xem lại quan điểm và xét lại tu chính án nói trên. Tuy nhiên nguyên Bộ trưởng quốc pḥng Mỹ Robert Gate – lúc đó có mặt ở Canberra để dự hội nghị thường niên Australia-US Ministerial (AUSMIN) về đề tài pḥng thủ – đă có thái độ cản trở.

Phát biểu trên đài truyền h́nh ABC tại Úc vào tối 25.2.2008, ông Gate cho biết luật cấm Mỹ bán F-22 cho bất cứ quốc gia nào. Nhật là đồng minh quân sự thân cận nhất nhưng cũng không mua được dù rất muốn. Theo ông th́ việc chính giới Úc trực tiếp tŕnh bày vấn đề này với quốc hội Mỹ không được hợp cách v́ đó là công việc của ông và của ngành hành pháp Mỹ. Theo ông Gate cho rằng đă đến lúc phải thay đổi luật trên và khẳng định rằng Úc là đồng minh đáng tin cậy, đáng được Mỹ chuyển nhượng F-22 nếu có nhu cầu.

Tuy nhiên đó chỉ là cách nói đăi bôi v́ lính Úc đang thay phiên đổ máu trên chiến trường Afghanistan trong một cuộc chiến do Mỹ chủ xướng và măi đến nay chính sách trên vẫn không hề thay đổi, Úc vẫn không thể mua được F-22.

Trần Hải

 

Home