Nguyễn Khắp Nơi
(Tiếp theo và hết)

Anh em Biệt Kích chụp h́nh lưu niệm trước Quốc Hội Hoa Kỳ (1997)
trong thời gian tranh đấu đ̣i quyền lợi.
H́nh của
http://www. chinhnghia. com/tiengnoicongly. asp
Năm
1978- 1979, chiến tranh biên giới giữa Trung cộng và Việt cộng bùng
nổ, anh em Biệt kích c̣n bị nhốt ở trại Cổng Trời xôn xao bàn tán:
Từ Cổng Trời tới biên giới Trung cộng rất gần, chỉ leo qua ngọn núi
là tới. Hăy nhân dịp này mà vượt trại đi thôi. Ở đây th́ chỉ là kiếp
tù đầy cho đến chết. Đằng nào cũng chết, chết trên đường t́m Tự do
c̣n hơn sống nhục. Thế là một số anh em đă cùng với những Biệt kích
của Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đă vượt trại đi qua Trung
cộng. Số phận của họ ra sao, không ai được biết.
(Ghi chú: Cũng trong dịp đi dự đại hội Biệt Kích Nhảy Bắc vào năm
2007, tôi đă được biết tin: Số anh em Biệt Kích Trung Hoa Dân Quốc,
trong đó có anh Ṿng A Cầu và Lê Trung Chính, sau khi vượt trại Cổng
Trời, đă qua được tới Trung cộng. Bằng cách nào đó, họ đă liên lạc
với Ṭa Đại Sứ Mỹ và cũng đă được bốc về Đài Loan và cuối cùng, họ
đă chọn định cư ở Mỹ. )
Phần anh em chúng tôi (khoảng 18 người) ở Nông trường Hồng Thắng, bị
bọn Công an chuyển về Hà Nội, trực thuộc Cục Quản Lư Trại Giam, để
sửa chữa nhà cửa. Bọn chúng phát quần áo công nhân mầu xanh bỉển cho
chúng tôi mặc, mỗi sáng đưa chúng tôi lên xe chở đi sửa chữa những
trại giam bị hư hại. Sau một thời gian quen thuộc, chúng không đưa
xe đi nữa mà bắt chúng tôi tự di chuyển bằng xe lửa. Mỗi buổi sáng,
chúng tôi tới ga Hàng Cỏ đón xe lửa tới những trại giam được chỉ
định để làm việc, tối lại đón xe lửa về Cục Quản Lư Trại Giam tŕnh
diện.
Một hôm, khi chúng tôi vừa tới nhà ga th́ thấy một số các bà các cô
đang gồng gánh và khiêng những kiện hàng nặng chĩu xuống xe lửa.
Những người này mặc dù mang vác đồ đạc nhưng họ có dáng điệu và cách
ăn mặc khác hẳn đám đàn bà buôn bán thường đi xe lửa tại đây. Chắc
chắn họ là thân nhân của các Sĩ Quan Miền Nam đang mang đồ đạc thực
phẩm tiếp tế cho chồng đang bị tù ở những trại tù ở miền Bắc. Tôi
tới gần họ nghe ngóng, một cô trẻ tuổi nói với mẹ:
“Má à, cái đồ này nặng lắm, để cho con “gắn” cho, má mang cái giỏ
này đi. ”
Trời ơi! Giọng nói của người Miền Nam!
Một giọng nói mà tôi tưởng chừng như là không bao giờ c̣n nghe lại
được nữa!
Trong phút chốc, tôi quên mất tôi là người sinh đẻ ở miền Bắc, để
nhận tôi là người Nam, và cái giọng nói miền Nam đó là giọng nói của
Mẹ Việt Nam của tôi, của đất nước tôi.

Phóng viên báo Register tại California đang phỏng vấn các Biệt Kích
(H́nh trên Internet)
Nước mắt tôi trào ra. Tôi đứng im nh́n những người đàn bà mà tưởng
chừng như đă được về nhà, đang đứng trước cửa nhà của tôi, và trong
số những người đàn bà này có mẹ tôi, có cô d́ có chị em của tôi. Tôi
mừng quá, chỉ muốn chạy ngay lại chỗ bọn họ để mà hỏi thăm, để được
nói những câu nói, được nghe những giọng nói mà tôi đă không được
nghe từ hơn mười lăm năm trời nay.
Nhưng tôi kịp ngưng lại để nhớ thân phận ḿnh đang là tù, đang ở Hà
Nội. Tôi đứng im để cố nhớ lại những từ ngữ miền Nam mà tôi đă học
được suốt muời năm sinh sống ở Miền Nam của tôi, khi nhớ lại rồi,
tôi chạy lại chỗ các bà các cô đang khiêng hàng, cười tươi tỉnh,
ráng lấy giọng miền Nam mà nói câu nói đầu tiên:
“Chào mấy chị. Mấy chị mang đồ đi thăm nuôi chồng học cải tạo đó,
phải hông?
Tui cũng là người xứ Nam Kỳ như mấy chị đó, tui theo ba tui ra tập
kết ngoài đây. Để tui phụ mấy chị khiêng đồ xuống nha. ”
Những người đàn bà nghe tôi nói tiếng Nam pha giọng Bắc, mặc dù họ
không biết tôi là cái thứ ǵ, nhưng trong xứ Bắc mà nghe được một
giọng Nam th́ cũng một phần nào có ḷng tin, họ nhờ tôi khiêng những
đồ nặng xuống để chung một chỗ. Tôi hỏi họ muốn đi thăm nuôi ở vùng
nào? Trại nào? Rồi ra ngoài mặc cả xe thồ, xe kéo đưa họ đi. Trong
khi sắp xếp phương tiện, tôi từ từ hỏi họ về t́nh h́nh ở trong Nam
ra sao? Nhất là vùng Thủ Đức, nơi cha mẹ tôi ở.
Chiều về, tôi lại đứng chờ ở ga xe lửa để đón những thân nhân đi
thăm tù cải tạo. Tôi lại giúp họ mang vác và mướn xe để ḍ hỏi thêm
tin tức trong Nam. Họ cho tôi biết, Việt cộng đă cho đổi tiền, đưa
các sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đi tù cải tạo, đánh “Tư Sản
Mại Bản”. Tôi cũng cho họ biết tôi theo cha đi tập kết, đă lâu không
về miền Nam, nên muốn trở về thăm nhà, nhưng không biết làm cách nào
để về, v́ không có giấy tờ, cũng chẳng có tiền bạc ǵ cả. Họ khuyên
tôi nếu muốn về Nam, cứ đi về đi, Việt cộng chưa đến nỗi kiểm soát
quá kỹ đâu, nhưng nên đi theo các xe chở hàng đỡ bị kiểm soát hơn.
Tối hôm đó, tôi nằm trong trại vắt tay lên trán suy nghĩ. Tương lai
của tôi hiện tại chỉ là chôn chặt cuộc đời ở miền Bắc rồi chết đi
như một người tù mà thôi. Đằng nào cũng chết, tôi phải bằng mọi cách
trốn về Nam. Nhưng nếu đi bằng xe lửa, tôi không có tiền mua vé, dù
có tiền mua vé, th́ cũng sẽ bị bắt ở các trạm kiểm soát. Do đó, tôi
quyết định phải đi theo xe hàng như đă được thân nhân tù cải tạo chỉ
dẫn.
Sáng hôm sau, tôi đi ḍ la bến xe chở hàng ở đâu? Đám xe thồ chỉ cho
tôi lối đi tới bến xe Kim Liên. Tôi tới bến xe, vừa lúc một đoàn xe
chở hàng ở miền Nam vừa mới tới. Những người tài xế đang túa ra quán
ăn sáng, có một người tài xế không đi, đang lui cui mắc vơng nằm
nghỉ. Tôi bước tới làm quen.
Anh tài xế cho biết, anh chở hàng từ Saig̣n thẳng tới Hà Nội, nghỉ
một đêm rồi lại quay về Nam. Tôi nh́n kỹ trên cổ anh ta có đeo một
giây chuyền có h́nh thánh giá. Mừng quá! Tôi đă gặp. . . phe ta rồi!
Tôi cố t́nh bẻ cổ áo để lộ rơ cái giây chuyền có h́nh thánh giá đă
lên nước bóng loáng của tôi, hỏi anh mới từ trong Nam ra phải không?
Đường xá có hư hại nhiều lắm không? Vợ con ra sao? Cuối cùng, tôi
hỏi anh trước đây anh có làm nghề lái xe “Tải” hay không mà dám lái
đường trường như vậy? Anh cho biết, anh nguyên là Trung sĩ Quân vận
của “Lính Ngụy”, nên lái xe đường xa thường lắm. Tôi lấy bổn cũ ra
soạn lại, cũng tâm sự là dân miền Nam, tập kết ra Bắc, nhớ nhà quá,
bây giờ muốn. . . quá giang xe của anh về Nam thăm gia đ́nh. Tôi nói
rất ngậm ngùi là, ở ngoài Bắc này, tôi chỉ được nuôi ăn thôi, chứ
không có tiền lương như ở miền Nam, nên sẽ không có tiền trả cho anh,
chỉ xin tặng anh cây Thánh Giá bằng gổ Soan mà tôi đang đeo trên cổ.
Ngoài sự dự đoán của tôi, anh trung sĩ hỏi tôi một câu thật là. . .
cắc cớ:
“Chú có Đạo, sao lại đi. . . tập kết?”
Tôi bí lối, ráng b́nh tĩnh trả lời:
“Hồi đó, tôi c̣n nhỏ. . . biểu đi th́ đi, chứ đâu có biết là đi đâu!”
Rồi cũng ngoài sự tưởng tượng của tôi, anh Trung sĩ không hỏi ǵ
thêm nữa, mà đồng ư ngay:
“Muốn. . . dźa nhà th́ dźa. Tụi tui rời bến sáng sớm mai, muốn. .
. guá giang th́ bốn giờ sáng mai có mặt tại đây. ”
Tôi mừng quá, bắt tay anh rối rít hẹn sáng mai đúng bốn giờ sẽ có
mặt.
Tôi hôm đó, tôi dặn tên công an gác cổng là ngày mai tôi phải đi làm
sớm, sẽ rời trại lúc ba giờ sáng. Tên này đồng ư.
Đúng bốn giờ sáng, tôi có mặt tại bến xe Kim Liên gặp anh tài xế.
Anh ta mời tôi một gói xôi rồi giới thiệu tôi với anh phụ xe. Xe nổ
máy, anh cho tôi ngồi giữa.
Xe bắt đầu rời bến, tôi hồi hộp y như là lúc tôi ngồi trên trực
thăng sửa soạn Nhảy xuống Nghệ An mười lăm năm trước đây.
Xe chạy ngang Huế, tôi thấy một vài cửa hàng có treo đèn trung thu,
tôi mới biết là sắp tới rằm Tháng Chín.
Đoàn xe vào tới miền Nam mà không phải dừng lại ở bất cứ trạm kiểm
soát nào. Cuộc đào thoát của tôi đă trót lọt một cách cực kỳ êm đẹp,
không thể nào ngờ được. Trên đường đi, tôi đă nghĩ ra hàng ngàn khó
khăn sẽ ập tới, và hàng ngàn câu trả lời mà tôi sẽ phải trả lời.
Cuối cùng là nếu bị bắt, tôi sẽ. . . tự xử bằng cách nào để xứng
đáng với một Biệt Kích Miền Nam và không làm liên lụy tới người tài
xế Quân Vận.
Vậy mà không một khó khăn nào đến với tôi hết!
Xe vào tới địa phận Thủ Đức, tôi xin anh tài xế cho xuống, cám ơn
anh, bắt tay anh thật nồng nhiệt.
Cám ơn Thượng Đế.
Cám ơn Đức Chúa Trời.
Con đă thoát khỏi ngục tù Cộng Sản rồi.
Cám ơn anh Trung sĩ Quân Vận của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Cầu xin Chúa phù hộ cho anh.
Lúc đó là bốn giờ sáng, trời c̣n tối lắm, tôi đi bộ tới cái quán cà
phê đầu đường. Cái quán này có từ thời tôi nhập ngũ, nay vẫn c̣n đây.
Tôi đứng lảng vảng chờ cha mẹ tôi đi lễ buổi sáng. Theo thông lệ từ
lâu đời, mỗi sáng, cứ vào khoảng năm giờ sáng là cha mẹ tôi dắt tay
nhau đi lễ sớm. Khi chưa nhập ngũ, tôi cũng đă từng theo cha mẹ đi
lễ sớm.
Đây rồi, mẹ tôi đang từ nhà buớc ra, tôi hồi hộp nhập theo đoàn
người thưa thớt bước theo. Tới gần mẹ, tim tôi đập mạnh hơn bao giờ
hết. Tôi muốn nói nhưng cổ tôi nghẹn lại. Tôi cố lên tiếng:
“Mẹ!. . . Mẹ ơi. . . ”
Đến lần thứ ba tôi mới nói ra tiếng.
Nhưng tôi nói nhỏ quá, mẹ tôi không nghe rơ. Bà thấy có người đi gần
th́ lảng ra xa. Tôi bước theo cố gắng nói cho bà đủ nghe:
“Mẹ ơi. . . Con là Hinh đây. . . “
Mẹ tôi quay lại nh́n tôi. Chắc bà nghe không rơ nên lại quay lại
tiếp tục bước đi.
Tôi tiếp tục đi theo bà, nói tiếp:
“Mẹ ơi. . . Con là Hinh con trai của mẹ đây. ”
Lần này, mẹ tôi đă nghe rơ, bà quay lại nh́n tôi, nh́n từ đầu đến
chân:
“Thằng Hinh. . . đấy à. ”
Rồi bà té xỉu xuống đất.
Tôi đă dự pḥng trường hợp này rồi, nên tôi ôm chặt lấy mẹ, d́u mẹ
tiếp tục bước đi. Một lúc sau, mẹ tôi tỉnh lại, bà nắm chặt lấy tôi
như sợ tôi lại biến đi, bà vừa khóc vừa hỏi tôi:
“Con. . . ở đâu về vậy?”
Tôi cũng vừa khóc vừa trả lời mẹ:
“Con Nhảy dù ra Bắc lấy tin tức t́nh báo, bị bắt tù từ ngày đó tới
giờ. Con. . . trốn trại về đây. ”
Mẹ nghe tôi nói th́ vội vàng đổi hướng quay trở lại:
“Về nhà! Về nhà ngay đi con. ”
Hai mẹ con vội vă quay trở về nhà. Mẹ chờ tôi vào nhà, đóng cửa cài
then chặt chẽ rồi mới hỏi tôi ngọn ngành.
Mẹ cho tôi biết, ba tôi đă mất cách đây ba năm. Anh em tôi một người
đi Không Quân, lái trực thăng, đă chết trận, người kia là Đại úy
Biệt Động Quân, đóng ở Long B́nh, sau 30 tháng Tư 1975 không thấy về
nhà.
Tôi ở trong nhà suốt mấy ngày trời, hai mẹ con cố gắng t́m cách nào
để hợp thức hóa sự có mặt của tôi.
Cuối cùng, mẹ tôi đă nghĩ ra cách giải quyết: Nhà tôi c̣n thân nhân
ở lại ngoài Bắc. Tôi sẽ đóng vai chồng của đứa em họ ở Hà Nội vào
Nam thăm gia đ́nh. Mặc dù từ thủa nhỏ tôi chưa hề đóng kịch, nhưng
đóng vai người ở ngoài Bắc vào Nam th́ tôi rành đủ sáu câu.
Sau hơn mười lăm năm xa nhà, lại có thân h́nh gầy g̣ ốm yếu và cách
phát âm đúng điệu Việt cộng, thêm bộ quần áo xanh công nhân mà ở
trong Nam không thể có, nên ngay cả những người hàng xóm cũng không
nhận ra tôi là ai?
Mọi chuyện được dàn xếp đâu vào đấy. Công an tổ dân phố cũng đă đến
kiểm soát. Cái giọng Bắc chính cống Việt cộng, thêm bộ quần áo công
nhân làm cho đám công an nể tôi lắm, không hỏi thêm bất cứ câu hỏi
nào cả, cũng không thắc mắc tôi sẽ ở trong Nam bao lâu?
Nhưng không lẽ ông cháu rể cứ sống bám măi ở trong Nam, không về Bắc?
Tôi không thể nào đóng măi vai này được, phải t́m cách khác giải
quyết.
Sau nhiều lần bàn căi, mẹ tôi quyết định t́m đường cho tôi. . . Vượt
Biên T́m Tự Do.
Tháng 11 năm 1979, người quen với mẹ tôi giới thiệu một mối ở Long
Xuyên. Tôi xuống dưới đó, lên thuyền. Ghe chở đầy. . . muối, đi Rạch
Giá.
Buổi tối, ghe chuyển hướng nhắm cửa biển xả máy chạy thẳng.
Đi bốn ngày đêm, tầu của chúng tôi được một tầu buôn vớt, kéo tới
Singapore.
Vài tuần lễ sau, phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn tôi:
-“Anh là Biệt Kích được thả ra Bắc?
-Đúng.
Anh có muốn định cử ở Mỹ hay không?
“KHÔNG!”
-Tại sao anh là Biệt kích mà lại không muốn đi Mỹ?
-Tại v́ chính quyền Mỹ đă bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa, nên chúng tôi
mới bị thua trận.
- Trong thời gian ở tù ở miền Bắc, anh có thấy bất cứ tù nhân Mỹ nào
hay không?
- Có.
- Tôi đại diện cho chính phủ Mỹ, xin mời anh tới định cư ở Mỹ. Anh
có thể cung cấp cho chúng tôi tin tức về những người tù binh Mỹ mà
anh đă gặp, chúng tôi phải cứu dân của chúng tôi.
- Cám ơn ông đă mời, nhưng tôi không xin đi Mỹ đâu. C̣n về tù binh
Mỹ, ông cứ việc hỏi, tôi sẽ trả lời.
- Rất tiếc, tôi không phải là người làm nhiệm vụ thâu thập tin tức
t́nh báo. Tôi sẽ báo cáo trường hợp của anh cho cấp trên để họ cử
người xuống gặp anh.
- Vậy khi nào những người thâu thập tin tức đó tới, tôi sẽ nói cho
họ hay. “
Tôi được chính phủ Ḥa Lan chấp thuận cho định cư ở nước họ. Đúng
bốn tháng trời ở trại tỵ nạn, tôi lên máy bay tới Ḥa Lan.
Bốn chục tuổi đời, tôi vẫn c̣n. . . Độc Thân Vui Tính.
Hai tháng sau khi tới Ḥa Lan, tôi nhận được thơ của Ṭa Dại Sứ Mỹ.
. . mời qua Mỹ gặp Đại Tướng Smith của Biệt Kích Mỹ. V́ tôi là người
Biệt Kích Nhảy Bắc đầu tiên vượt thoát được lao tù Việt cộng, nên họ
muốn nhờ tôi cung cấp những chi tiết cần thiết cho họ, mọi chi phí
di chuyển, ăn ở. . . trong thời gian 6 tuần lễ tại Mỹ đều do toán
này lo liệu.
Tất cả những câu trả lời về các trại giam Biệt kích, tôi đều trả lời
đầy đủ.
Toán đặc nhiệm về tù binh Mỹ hỏi tôi có gặp bất cứ tù nhân Mỹ nào bị
giam ở Bắc Việt hay không?
Tôi cho biết, khi sửa chữa những nhà tù ở Hà Nội, tôi có thoáng thấy
những tù binh Mỹ bị giam ở đó.
Có bao nhiêu tù binh Mỹ?
Tôi không biết, chỉ thoáng thấy mà thôi, không được đứng lâu ở đó.
Tên họ những người tù binh Mỹ?
Cái đó tôi lại càng không thể biết được. Tôi đâu phải là công an
Việt cộng đâu mà biết tên họ của những tù binh này.
Cuối cùng, tôi đoán ra mục đích của chuyến đi của tôi: Mỹ chỉ muốn
biết về số phận của những tù binh Mỹ bị giam ở Bắc Việt mà thôi. Rất
tiếc, tù Biệt kích không có giam chung với tù binh Mỹ, tôi chỉ xác
nhận là có thấy những tù binh này mà thôi, ngoài ra, tôi không giúp
ǵ thêm cho họ được cả.
Tôi trở về Ḥa Lan, lập gia đ́nh và tiếp tục cuộc sống tỵ nạn.
Đến năm 1984, Việt cộng bắt đầu trả tự do cho những Biệt Kích Miền
Nam, tôi có gởi thơ về nhờ gia đ́nh t́m gặp một số bạn bè trong toán
của tôi. Anh em Biệt kích vẫn liên lạc mật thiết với nhau, nên tôi
t́m họ không khó. Tấm h́nh đầu tiên trong đời mà anh em Biệt kích
chụp chung với nhau là tấm h́nh do Ninh “Côi” gởi cho tôi (Ninh mồ
côi cha mẹ, lại chưa có bồ, nên chúng tôi đặt cho anh biệt hiệu “Mồ
côi”). Ninh lấy vợ, đám cưới có đầy đủ những Biệt kích tới tham dự,
họ chụp chung một tấm h́nh gởi cho tôi. Tấm h́nh này là gia sản độc
nhất của cuộc đời Biệt kích của tôi. Tôi sẽ giữ nó măi măi. . .

Đám cưới của Ninh “CÔI”. Bạn bè và phù rể đều là anh em Biệt Kích
Nhảy Bắc.
Từ năm 1987, 1991. . . 1992. . . 1974, bắt đầu chương tŕnh HO, tất
cả các Biệt kích đều được đưa qua định cư tại Mỹ. Chúng tôi vẫn tiếp
tục liên lạc với nhau để giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi của nhau.
Sau hơn mười năm ở Ḥa Lan, với lư do đoàn tụ gia đ́nh, gia đ́nh nhỏ
của tôi đă được bên vợ bảo lănh qua Úc sinh sống từ năm 1998.
Năm 2007, lần đầu tiên anh em Biệt Kích Nhảy Bắc đă tổ chức cuộc hội
ngộ tại Hoa kỳ. Tôi đă gặp lại những anh em cùng toán nhảy Bắc với
tôi. Sau những hàn huyên tâm sự, chúng tôi dỡ sổ đời ra cùng ngồi
lại tính toán với nhau.
Trong lần nhảy cuối cùng ra Bắc, toán của tôi có sáu nguời, chỉ một
ḿnh tôi bị bắt mà thôi. Năm anh em c̣n lại đă nhập vào những toán
khác tiếp tục nhảy ra Bắc, một người tử trận trong khi giao tranh,
hai người khác chết v́ đói và lạnh ở trại tù Cổng Trời, c̣n ba người
chúng tôi sống sót, đă gặp nhau và đang bàn tán với nhau đây.
Có một số người cho rằng, trước khi nhảy ra Bắc, anh em chúng tôi
đều được lănh trước. . . 12 tháng tiền tử!
Không. Không một ai trong đám Biệt Kích Nhảy Bắc của chúng tôi được
nghe nói tới hoặc lănh số tiền này cả.
Tính kỹ ra, mỗi kỳ nhảy toán, xác xuất đều là. . . Năm Ăn Năm Thua.
V́ tin vào xác xuất này, chúng tôi mới dám ra đi, chứ nếu biết. . .
Đi là Chết, chắc chắn là anh em chúng tôi sẽ không bao giờ đi, mặc
dù can đảm chúng tôi có thừa. Cấp trên của chúng tôi đều cũng là
Lính, đều cũng là người, không lẽ họ đẩy chúng tôi vào chỗ chết một
cách b́nh thản như vậy sao? Chắc chắn trên thế giới, chưa có toán
biệt kích nào ra đi để chắc chắn nhận lấy cái chết. Như tôi đă nói ở
trên, nhảy toán ra Bắc cũng chỉ là một cuộc hành quân, giống như
những cuộc hành quân của những binh chủng khác trong quân đội mà
thôi. Trước khi ra trận, ai cũng hy vọng trở về an toàn, Biệt kích
nhảy Bắc cũng vậy, chúng tôi cũng hy vọng trở về an toàn. Sống chết
là do số mạng, do sự rủi ro, sự nguy hiểm của chiến tranh mà thôi.
Chỉ từ năm 1966 trở đi, không hiểu v́ lư do nào mà đa số anh em nhảy
toán đều bị lộ, một số bị chết trong khi giao tranh, số c̣n lại đều
bị bắt. Có thể là Sở Bắc đă bị bọn Việt cộng gài người vào, nên
những toán sau đó mới bị lộ như vậy. Thật là đáng tiếc.
Tuy nhiên, chiến tranh là như vậy, chẳng có một quy luật nào cả.
Thắng một trận, chưa phải là hoàn toàn thắng.
Thua một trận, cũng không phải là hoàn toàn thua.
BIỆT KÍCH LUÔN LUÔN HY VỌNG VÀO NGÀY MAI
NGÀY MAI ĐÂY, ĐẠI QUÂN MIỀN NAM SẼ TRỞ LẠI.

Ông Sedgwich Tourison (một tù binh Mỹ, đă giúp đỡ và tranh đấu cho
quyền lợi của anh em Biệt Kích Nhảy Bắc) chụp h́nh chung với anh em
Biệt Kích và gia đ́nh của họ.
(H́nh trên internet)
Ghi chú:
Vào năm 1996, anh em Biệt kích đă làm đơn khiếu nại lên Quốc Hội Mỹ
xin bồi thường và lănh tiền lương cho những tháng năm bị bắt giam
tại Bắc Việt. V́ ngoài nhiệm vụ là người Lính của Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa, anh em c̣n kư hợp đồng cung cấp tin tức cho CIA nữa. Quư
ông Sedgwick Tourison, Luật sư John Mattes, Thượng Nghị Sĩ John Mc
Cain. . . là những người đă tích cực hỗ trợ và vận động cho anh em.
Cuối cùng, vào năm 1999, Quốc Hội Hoa Kỳ đă chấp nhận bồi thường và
cấp huy chương Phục Vụ cho tất cả các Biệt Kích Nhảy Bắc.

Luât sư Jonh Matter (người đă giúp đỡ và bênh vực quyền lợi cho các
Biệt Kích Nhảy Bắc) chụp h́nh chung với anh em Biệt Kích.
(H́nh trên internet)

Biệt
Kích
Nguyễn Thái Kiên, Tŕnh A Sám,
Thượng Nghị Sĩ John Mc. Cain,
Cố vấn an ninh đặc biệt của Reagan-Tỷ phú Ross Perot,
Biệt Kích
Kim Âu Hà văn Sơn
tại một buổi điều trần của Quốc Hội Hoa Kỳ.
H́nh của
http://www. chinhnghia. com/tiengnoicongly. asp
MỘT NGÀY LÀ BIỆT KÍCH, CẢ ĐỜI LÀ BIỆT KÍCH.
NGƯỜI LÍNH BIỆT KÍCH CỦA
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ CHÚNG TÔI,
LÀ THẾ ĐẤY!
NGUYỄN KHẮP NƠI,
VIẾT THEO LỜI KỂ CỦA BIỆT KÍCH NHẢY BẮC NGUYỄN VĂN HINH.